Thuộc Giáo hạt Thanh Oai
Địa chỉ: Thôn Từ Châu, xã Dân Hòa, TP. Hà Nội
Quan thầy: Thánh Phê-rô (29/6)
Năm 1889 khởi công xây dựng Thánh Đường, hoàn thành năm 1894
Tước hiệu nhà thờ: Đức Mẹ Mân Côi. Nhà thờ do Đức TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt cung hiến ngày 20/8/2005
Số giáo dân toàn xứ: 3.175 nhân danh (trong đó nhà xứ: 2.795 nhân danh)
Linh mục chính xứ: Giu-se Trần Hữu Nam
Giới thiệu Giáo xứ Từ Châu
I. ĐỊA LÝ, NHÂN DANH
1. Địa lý
Địa chỉ: Thôn Từ Châu, xã Dân Hòa, TP. Hà Nội
Vị trí: Nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có truyền thống lâu đời.
2. Nhân danh
Tổng số giáo dân: Khoảng 3.000 nhân danh.
Tại nhà xứ: 2.795 nhân danh.
4 giáo họ trực thuộc: Khoảng 300 nhân danh.
Các giáo họ trực thuộc:
Giáo họ Ước Lễ
Giáo họ Minh Thụy
Giáo họ Phúc Lâm
Giáo họ Nghiêm Xá
II. LỊCH SỬ GIÁO XỨ TỪ CHÂU
1. Quá trình hình thành và phát triển
– Thời kỳ đầu (khoảng 1010-1225): Vào thời nhà Lý, có 7 gia đình đến sinh sống lập nghiệp tại vùng đất này, lấy tên là Đầm Giờ.
– Đón nhận Tin Mừng (1765): Tin Mừng được một thầy giảng tên là Nhàn, quê Nam Sơn, Nam Định, đem đến Từ Châu.
– Xây dựng nhà thờ đầu tiên (1788): Ngôi nhà thờ đầu tiên được làm bằng gỗ, lợp lá. Sau khi xây dựng được nhà thờ hiện nay, ngôi nhà thờ cũ được trao cho giáo họ Nghiêm Xá (hiện nay nóc nhà thờ cũ vẫn được lưu giữ tại nhà bảo lưu của giáo xứ).
– Tách khỏi Sơn Miêng (1817): Từ Châu, lúc bấy giờ là họ lẻ của xứ Sơn Miêng, được tách ra và gọi là Kẻ Trừ.
– Có cha xứ coi sóc (1884): Cha già Tuyên được bổ nhiệm coi sóc sứ Kẻ Trừ.
– Đổi tên thành Giáo xứ Từ Châu (1894): Sau khi hoàn thành ngôi thánh đường mới, Kẻ Trừ được chính thức mang tên Giáo xứ Từ Châu.
2. Giai đoạn thử thách và phát triển
– Trải qua các giai đoạn lịch sử: Giáo xứ Từ Châu đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, chứng kiến những biến động của đất nước và Giáo hội.
– Kiên trung giữ vững đức tin: Dù trong hoàn cảnh nào, giáo dân Từ Châu vẫn luôn kiên trung giữ vững đức tin, sống đạo và truyền lại cho các thế hệ mai sau.
III. NHÀ THỜ VÀ CÁC CÔNG TRÌNH TÔN GIÁO

1. Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi
– Xây dựng: Năm 1889 khởi công xây dựng Thánh Đường, hoàn thành năm 1894
– Kiến trúc:
+ Kích thước: Dài 28,5m, rộng 12,5m, cao 8,5m (riêng tháp cao 18m), gồm 9 gian.
+ Đỉnh tháp: Không nhọn như kiểu Tây Phương nhưng có 4 góc nhọn tượng trưng 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.
– Tháp chuông: Trên tháp treo 4 quả chuông lớn: 3 quả chuông Tây (đúc tại Pháp) và 1 quả chuông ta (đúc tại Việt Nam). Mỗi quả chuông mang âm sắc riêng, tạo nên bản hòa tấu trang trọng.
– Hai dãy nhà Tả mạc: Hai bên nhà thờ là hai dãy nhà tả mạc bằng gỗ, mái ngói đỏ, tổng cộng 38 gian, dùng làm nơi hội họp và thi kinh bổn.
– Giai đoạn trùng tu:
+ Năm 1978: Trùng tu tháp và cửa nhà thờ (thời Cha Cố Xuyên).
+ Tháng 12/2019 – 8/2020: Đại trùng tu (thời cha Giám quản Giuse Trần Viết Tiềm).
– Cung Hiến: Năm 2005 (thời cha Phaolô Đoàn).
2. Trường học Cha Thánh Ven
– Xây dựng: Năm 1931.
– Hiện trạng: Vẫn còn tồn tại và đang được sử dụng làm lớp học thêm văn hóa và giáo lý.
3. Trung tâm Mục vụ
– Đặt móng: Ngày 12/05/2022.
– Làm phép: Ngày 18/12/2023 (do Đức Tổng Giuse Vũ Văn Thiên chủ sự).
– Diện tích: 430 m² sàn x 4 tầng = 1720 m² diện tích sử dụng.
– Tổng diện tích đất của Giáo xứ: 19.600 m².
– Đất vườn trồng cây: 10.000 m².
– Khu vực xây Trung tâm Mục vụ và sân bóng: 5.000 m².
– Bãi để xe và đường vào nhà xứ: 10.000 m².
– Vườn Thánh: 18.000 m² (đã quy hoạch, có nhà nguyện 150 m²)
4. Hang toại đạo
– Sự kiện: Ngày 6/3/1859, lễ tấn phong Giám mục được cử hành dưới hầm của nhà cụ Nguyễn Đình Xạ.
– Hiện trạng: Bia và một số hình ảnh vẫn còn lưu giữ.
– Kế hoạch: Giáo xứ và gia đình đã thỏa thuận tu sửa di tích này, tái tạo lại khung cảnh nhà vách đôi cổ của người Việt Nam miền Bắc.
5. Lưu trữ thủ cấp Thánh Theophan Venard (Thánh Ven)
– Tiếp nhận: Ngày 5/1/1862, Đức cha Khiêm và cha cố Đông nhận được thủ cấp của cha thánh Ven.
– An táng: Các ngài đã làm lễ an táng, sau đó đưa thủ cấp của cha thánh Ven vào một cái nồi sành rồi chôn xuống. Sau một thời gian dài, hài cốt được cải táng và đưa vào một chiếc quách.
Lưu giữ: Ban đầu, khi chưa xây dựng được nhà thờ, hài cốt thánh Ven được lưu giữ tại nơi an táng. Sau đó, khi nhà thờ được xây dựng, thánh tích được đặt trong một chiếc hòm nhỏ, khóa niêm phong kẹp chì.
– Mở hòm thánh tích: Ngày 23/10/2009, Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt đã chủ sự việc mở hòm thánh tích, và thủ cấp của cha thánh Ven vẫn còn nguyên vẹn.
– Hiện nay: Thủ cấp của cha thánh Ven đang được lưu giữ tại bên phải của gian cung thánh nhà thờ.
– Lễ hành hương: Hàng tháng, vào thứ 3 đầu tháng, có lễ hành hương kính thánh Ven với hơn 1000 người tham dự.
– Ước nguyện: Giáo xứ Từ Châu khao khát xây dựng một ngôi đền xứng đáng để kính Thánh Ven.
IV. KẾT LUẬN
Giáo xứ Từ Châu là một cộng đoàn đức tin có bề dày lịch sử, gắn liền với những thăng trầm của Giáo phận. Ngôi thánh đường cổ kính, các di tích lịch sử, đặc biệt là thánh tích của Thánh Theophan Venard, là minh chứng cho đức tin kiên trung và lòng mến Chúa của người dân Từ Châu. Ngày nay, Giáo xứ Từ Châu tiếp tục phát triển, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha ông, và là điểm đến linh thiêng thu hút đông đảo khách hành hương.
Thông tin liên lạc:
Tổng Giáo Phận Hà Nội
Giáo xứ Từ Châu
Từ Châu, Liên Châu, Thanh Oai, Hà Nội
Quét mã QR để truy cập website, facebook và chỉ đường đến Giáo xứ Từ Châu






Lịch sử hình thành Giáo xứ
1. Nhà Thờ
Để có nơi khang trang xứng đáng thờ phượng Thiên Chúa, sau nhiều năm cố gắng hi sinh chịu đựng vất vả, quyên góp tiền của. Năm 1889 cha xứ và dân làng khởi công xây dựng Thánh Đường, công việc xây dựng kéo dài 5 năm. Với bao gian nan, khó nhọc, nhiều người sẵn sàng nhịn đói, mặc rách để xây dựng nhà Chúa. Dầu vậy, ai nấy vẫn vui tươi, phấn khởi: đến năm 1894 thì hoàn thành và được gọi la Thánh Đường Từ Châu.
Thánh đường được kiến trúc theo kiểu Đông Tây kết hợp, có chiều dài 30m, chiều rộng 12,5m, chiều cao 30m, đỉnh tháp không nhọn như kiểu Tây Phương nhưng có 4 góc nhọn tượng trưng 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Trên tháp treo bốn quả chuông lớn: 3 quả chuông Tây( được đúc tại Pháp) và một quả chuông Ta (được đúc tại Việt Nam).
Vào những ngày Chúa Nhật hoặc lễ trọng, 3 Chuông cùng được kéo lên tạo ra những âm thanh trầm bổng, réo rắt như một bản đại hoà tấu kỳ thú, gây xúc động lòng người, kêu mời mọi người mau đến thờ phượng Chúa. Quả chuông Ta mang âm thanh trầm trầm tựa như tiếng chuông chùa điểm lúc hoàng hôn, thong thả từng tiếng một, âm thanh gây nao nao lòng người nhớ về một kỉ niệm đã qua. Chuông này vang lên một hồi khi dân làng có người qua đời, báo hiệu mọi người cầu nguyện cho người quá cố.
Hai bên nhà thờ là hai dãy nhà tả mạc làm bằng gỗ, mái ngói đỏ lâu ngày đã rêu phong. Tổng cộng có 38 gian dùng làm nơI hội họp việc đạo dặc biệt là nơI thi kinh bổn trong dịp lễ Phục Sinh hằng năm.
Giáo đường xứ từ Châu
Từ trăm năm trước đến bây giờ
Nắng gió thời gian vẫn đứng trơ
Vang vọng hằng ngày chuông thhúc giục
Giáo dân lũ lượt tới tôn thờ
Uy linh tiệc thánh Chúa kêu mời
Qui tụ đàn chiên từ khắp nơi
Hy lễ hiệp dâng xin chúc phúc
Cho dân của xứ đến muôn đời
Hằng năm kỷ niệm Thánh quan thầy
Tấp nập đàn chiên tụ lại đây
ý nguyện xin dâng tròn cuộc sống
Hồng ân Thiên Chúa thật no đầy.
Bao năm xa cách chốn thân thương
Mãi nhớ trong tôi tháp giáo đường
Trở lại một lần chưa có dịp
Chân thành tạ tội với quê hương!
Từ Thanh Hà
Bước vào trong thánh đường sẽ thấy một cảnh nguy nga tráng lệ mang mầu sắc á đông hiện ra: những cây cột gỗ lim tròn trịa, sừng sững, mỗi cột một người ôm không hết, bốn bàn thờ và các nhà tòa bằng gỗ được các nghệ nhân trạm trổ rất tinh vi khéo léo, sơn son thiếp vàng.
Tòa giữa trên cao là tượng Đức Mẹ Ban ơn, hai bàn tay luôn rộng mở tuôn tràn ơn Thánh Chúa cho nhân gian. Phía dưới là bàn thờ chính có nhà chầu thiếp vàng chói lọi. Hai tòa bên cạnh được phân chia thành năm vòng trời xanh nhạt điểm những vì sao lấp lánh. Các cửa sổ trên cao hai bên tường đều làm bằng kinh mầu có nhiều hình khác nhau như: chúa Giê-su vác Thánh Giá, Đức Mẹ đồng trinh, các Tông Đồ…
Nằm giữa nhà tả mạc và nhà kiệu là hang đá Đức Mẹ Lộ Đức được xây năm 1920 và hang đá Bê- lem được sử dụng trong dịp lễ Chúa Giáng Sinh. Dưới hang đá có một bể nước lớn, nước trong mát sạch sẽ, giữa trưa hè được giải khát thì thật là thích thú.
2. Đền Thánh Phê-rô
Tượng dài thánh Phê-rô quan thầy của giáo xứ Từ Châu được xây vào năm 1936 ngay trên sân Thánh Đường. Xung quanh tượng đài ;à một vườn hoa thiết kế theo hình tròn có 4 lối ra vào. Nằm giữa một vườn hoa nho hình lục giác bên trong là tượng thánh Phê-rô cao 2m đặt trên bệ cao 1,8m. Tượng này do cha già Nguyễn châu Báu cung tiến để tỏ lòng tri ân quê hương nơi cha đã sinh trưởng và từ đây đã nhận được ơn gọi linh mục.
Tượng đứng uy nghi nhìn ngắm từng gia đình trong xứ: một tay cầm chìa khóa tượng trưng cho quyền tháo cởi của Ngài đã dược chúa Giê-su trao ban; tay kia cầm cuốn Tin Mừng. Ngài như muốn nói với dân làng rằng: “Hãy rao giảng và sống theo tin Mừng thì cửa thiên Đàng sẽ rộng mở để đón các con”. Bốn góc vườn hoa là 4 cây ngâu lớn xanh tươi, hương thơm ngào ngạt trộn lẫn với hương hồng, hương cúc, hương đại, hương huệ thoang thoảng tỏa lan khắp vực Thánh Đường khiến lòng người thanh thản, nhẹ nhàng mỗi khi đến nhà Chúa.
Đền Thánh Phê-rô
Giữa sân đặt tượng Thánh Phê-rô
Hướng đứng nhìn theo phía mặt hồ
Chìa khóa nước Trời tay năm giữ
Chiên con trần thế Thánh cho vô
Tiếng chuông chiều xuống vang trầm bổng
Mặt nước trăng lên sóng nhấp nhô
Xóm đạo Từ Châu đầy mộ mến
Quan thầy đã nhận Thánh Phê-rô
Trước khu tượng đài là một hồ lớn hình chữ nhật chu vi 270m, bờ hồ được kè đá phẳng phiu và tường hoa cao 1m bao bọc xung quanh. ở giữa là những cây tùng tháp cao vút, xen kẽ những cây đại nở hoa trắng nhụy vàng tỏa hương thơm bên cạnh những cây cau thẳng tắp.
Nước hồ trong xanh, phẳng lặng như một tấm gương lớn soi bóng thánh đường, tượng đài và trường học cố Ven…tất cả tạo nên một quần thể đẹp đẽ, thơ mộng cho khu vực thánh đường.
3. Sinh hoạt tín ngưỡng thường nhật
Noi gương cha ông, đời sống đạo của giáo hữu Từ Châu rất sốt sắng và phong phú. Như một thời biểu đã được sắp xếp thực hành từ lâu, khoảng bốn giờ sáng một hồi chuông từ tháp cao đổ vang đánh thức dân làng tỉnh giấc để dâng một ngày lên Thiên Chúa. Hồi chuông này được gọi là chuông chiều, khoảng 30 phút sau, một hồi chuông thứ hai, gọi là chuông xướng kinh.
Lúc này nhà thờ đã đông người, các cụ ông, cụ bà chiếm thành phần đa số, rồi đến các thanh thiếu niên, các em thiếu nhi. Các cô hội Nữ Vương xướng kinh và sau đó là thánh lễ bắt đầu. Sau lễ mọi người ra về thơ thới để bắt đầu một ngày làm việc đồng áng,
Đúng ngọ( 12 giờ trưa), một hồi chuông chậm rãi vang xa báo hiệu mọi người đã qua nửa ngày làm việc mệt nhọc. Vào mùa cấy gặt biết giờ để dùng bữa trưa, trước khi đi nhổ mạ hoặc gánh lúa về nhà.
Đồng thời hồi chuông này còn nhắc nhở mọi người đọc kinh Truyền tin, thờ kính mầu nhiệm Ngôi Hai nhập Thể trong cung lòng Đức trinh nữ Maria để cứu độ nhân loại. Các em thiếu nhi thánh thể và các cụ già thì đến nhà thờ viếng Mình Thánh.
Xế chiều vào khoảng 5 giờ, một hồi chuông lanh lảnh vang xa gọi là chuông chiều, báo hiệu cho mọi người chuẩn bị về nhà nghỉ ngơi rồi đến Thánh Đường tham dự giờ kinh tối. Thường thì giờ kinh tối lâu hơn giờ kinh sáng. Đúng 9 giờ tối, lại được nghe chuông nhỏ điểm chín tiếng và một hồi gọi là chuông tắt lửa. Khi nghe hồi chuông này hầu như mọi nhà đều tắt đèn đi ngủ.
4. Kinh Bổn
Một tập quán tốt đẹp lâu đời, giáo dân vẫn giữ và thực hành hàng năm là việc học và thi kinh bổn để hiểu biết thêm về đạo, đào sâu đời sống đức tin của người dân Từ Châu. Cứ mùa thương khó đến (mùa chay), đời sống đạo trong làng lại nhộn nhịp hẳn lên, khắp các hang cùng ngõ hẻm trong làng, đêm đêm đều râm ran những tiếng học kinh bổn.
Tùy theo từng lứa tuổi, giáo dân được chia thành nhóm, mỗi nhóm từ 10 đến 20 người. Ai nấy đều nỗ lực học hỏi và nức lòng chờ ngày thi. Thông thường ngày thi được tổ chức trong tuần thánh tại nhà Tả Mạc hoặc tại sân tháp trong bầu khí nhộn nhịp, vui vẻ và nghiêm trang.










