Thuộc Giáo hạt Mỹ Đức – Hòa Bình
Địa chỉ: Thôn Miêng Thượng, xã Ứng Thiên, TP. Hà Nội
Quan thầy: Thánh Giu-se Thợ (01/5)
Nhà thờ tước hiệu nhà thờ: Thánh Giu-se Thợ
Nhà thờ cung hiến vào ngày 03/12/1937 do Đức Cha Francois Chaize Thịnh, M.E.P
Số giáo dân toàn xứ: 3.345 nhân danh (trong đó nhà xứ: 2.870 nhân danh)
Linh mục chính xứ: Phê-rô Nguyễn Đức Toản
Lịch sử hình thành Giáo xứ
Về vị trí địa lý, dân cư: Làng Sơn Lãng nằm trong vùng Đồng Bằng Bắc Bộ. Bây giờ gọi là Địa chỉ: Thôn Miêng Thượng, xã Ứng Thiên, TP. Hà Nội, cách Hà Đông khoảng 22 – 25 km, cách trung tâm Hà Nội 40km về phía Nam.
Theo kể lại, Làng Sơn Miêng đón nhận Tin Mừng năm 1764. Lúc đó, làng Sơn Miêng có cả Miêng Hạ bây giờ tức hai thôn làm một. Phía dưới Sơn Miêng có Trần Đăng, cả hai thôn đều theo đạo Phật thờ. Đến năm 1764 có vị truyền giáo đến Sơn Miêng.
Lúc trước đó, năm 1750, và trước nữa làng Sơn Miêng có tên gọi là làng Sơn Minh, theo tiếng Hán gọi là Núi Sáng. Truyện kể lại, đời vua lúc bấy giờ có nói là tên gọi đó ngạo mạn nên đã đổi thành làng Sơn Miêng. Vào năm 1764, đời vua Cảnh Thịnh, số dân ở Miêng đã đón Tin Mừng theo đạo Ki-tô là hai phần, còn lại một phần là đạo Phật. Lúc đó gây mâu thuẫn bè phái và chia lẻ ra thành Miêng Thượng gần núi hơn và Miêng Hạ sau làng thượng và phá đình chùa chia 2 mang về dưới Miêng Hạ thờ thần (đạo Phật) dựng chùa làm đình, còn Miêng Thượng mang gỗ về làm nhà thờ để thờ Chúa Ki-tô (Đạo giáo).
Xem lại nóc đình Miêng Hạ có ghi năm Kỷ Hợi 1773 đời vua Cảnh Hưng. Đến năm 1777, tức Đinh Dậu, 4 năm hoàn thành.
Nóc đền Miêng Hạ 1787
Bia đục ở gác chuông cũ 1751
Quả chuông Miêng Hạ thửa 1796
Vậy là Sơn Miêng đón Tin Mừng đời Cảnh Thịnh 1764.
Ngày thành lập Giáo xứ
Đổi và lấy tên là Sơn Lãng. Nhà thờ sau 3 lần làm lại từ nhà lá – nhà ngói Ri – đục kẻ, cột gỗ và sơn son mầu đỏ.
Chuyện kể lại, nhờ ơn riêng của hánh Cần và bảo trợ xứ là thánh Giu-se vào những năm đó kinh tế thôn khá giả, các cụ có xây nhà phòng sau 5 năm đến 1890 khánh thành và 10 năm sau tức 1908 khánh thành ngôi thánh đường rộng 14,5m dài 45m. Đặt móng lúc đó là ông già Mẫn và thi công là Cha Chu. Kiến trúc sư là ông Đốc Thân.
Sự kiện lớn là 1934 nhà thờ được thánh hiến như cung vương. Lúc đó có Đức Cha Thịnh và rất đông các cha. Về sau có đặt bia đá tại cuối nhà thờ. Bia đá có ghi rõ Đức Cha Thịnh (cho lập bia).
Trong xứ có thầy giảng Phan-xi-cô Nguyễn Cần chết tử vì đạo. Ngài sinh năm 1803, con ông Hới. Nhà có 5 anh chị em. Thánh Cần là con thứ 2, còn lại là chị em gái. Hài cốt đặt tại giáo xứ, trong nhà thờ. Tượng đài và mộ xây trong khuôn viên nhà xứ. Ngài bị bắt 3-5-1836 và chết tử đạo tại Cầu Giấy, Hà Nội 1837.
Mấy dòng thơ của bậc tiền bối:
Đường bệ hiên ngang Nguyễn Khắc Cần
Thanh niên kiểu mẫu thánh thôn dân
So gan với giặc non già biết
Quắc mắt nhìn đời phải trái phân
Nghĩa với bà con không lánh mặt
Gương cho bạn hữu phái dừng chân
Ngàn thu chí dũng còn khen ngợi
Cõi thọ đời đời hưởng đặc ân
Và bài hát hoan hô Thánh Phan Cần.
Đền Thánh Phan-xi-cô Nguyễn Cần
– Khởi công xây dựng vào ngày 01/03/2013 do Cha xứ Giu-se Vũ Đình Du, với kiến trúc Gothic. Đến ngày 23/4/2013, Giáo xứ đặt viên đá đầu tiên. Đền Thánh có chiều dài 30m, rộng 14m, cung thánh 22m, mái cao 18m, chiều cao của tum là 38m.
– Vào ngày 20/11/2017, Đức Hồng Y Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn long trọng cử hành Thánh lễ làm phép ngôi đền kính Thánh Phan-xi-cô Nguyễn Cần, tử đạo năm 1837.










