Ngày 20/11: Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy Giảng (1803-1837)

Sinh trong thời bình

Năm 1803, một năm sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, thiết lập vương triều nhà Nguyễn, ở làng Sơn Miêng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, ông bà Hới sinh người con thứ hai đặt tên là Phanxicô Xaviê Nguyễn Cần. Cha mẹ cậu là người công giáo đạo đức, làm ruộng đủ ăn. Từ bé, ông bà đã lo cho cậu học Chữ Hán, chữ Nôm. Cậu lớn lên chăm học lại chịu khó làm việc giúp gia đình.

Đời vua Gia Long, đạo Chúa được bình an và được công khai rao giảng, vì thế việc dạy kinh, bổn, giáo lý cho các bổn đạo, nhất là các cm nhỏ khá đầy đủ. Từ bé, cậu Cần đã muốn dâng mình cho Chúa, mơ ước trở thành tông đồ truyền bá Phúc âm theo gương thánh Quan thày; mẹ cậu tuy đạo đức nhưng rất yêu con nên không bằng lòng. Cậu nhẫn nại xin mẹ nhiều lần, song vẫn bị từ chối, sau cùng cậu thưa với mẹ rằng: “Nếu mẹ không muốn cho con ở với Cha xứ, con sẽ trốn ở với Cha khác”. Bà mẹ đành phải dẫn con đến với Cha Nghi xứ Sơn Miêng.

Thày giảng nhiệt thành và vâng lời

Cậu bé làng Sơn Miêng học hành chuyên cần, có đức hạnh, sau thời gian ở Tiểu chủng viện, chú được nhận vào trường thần học địa phận Tây Đàng Ngoài. Sau khi học hết lớp triết lý, năm 1832, thày được cử giúp Đức Cha Ha-va[1] (Du), rồi được cử giúp Cha Rơ-to (Liêu). Cha thừa sai này mới ở Âu Châu sang, được cử coi miền Sơn Miêng, cuối năm 1838 Cha chịu chức Giám mục quen gọi là Đức Cha Liêu.

Về sau Đức Cha Rơ-to làm chứng về thày giảng cũ của mình rằng: “Từ khi tôi đến địa phận Đàng Ngoài, thày theo tôi đi khắp nơi, thày sống với tôi trong những căn nhà nghèo nàn ẩm thấp, thày đã phải trốn chạy với tôi trong những đêm tối tăm mưa gió, qua đồng ruộng bùn lấy, lội qua sông qua ngòi, chia sẻ với tôi lúc hiểm nguy, săn sóc tôi khi ốm đau, thày giúp tôi học Tiếng Việt và trong mọi công việc tông đồ mà nhiệm vụ của tôi đòi hỏi. Tuy khó khăn vất vả thiếu thốn trăm đường, thày vẫn nhiệt thành giảng dạy dân ngoại, nâng đỡ an ủi bổn đạo bị giam cầm bắt bớ, khuyên nhủ người tội lỗi cứng lòng. Nói tóm lại, thày thu xếp mọi việc cho tôi cách vui tươi nhanh nhẹn, mau mắn vâng lời tôi đi khắp nơi tôi chỉ định, dù xa hay gần, ngày hay đêm, nơi bình an hay nơi hiểm nghèo, trong thành phố hay ở nông thôn”.

Bị bắt trên đường thi hành nhim vụ tông đồ

Ngày 19-4-1836, Cha Rơ-to cử Thày Cần đến xứ Kẻ Chuôn gặp ông Lý trưởng làng ấy là người có đạo, thu xếp xem ông có thể nhận Cha Tuấn về ở nhà ông vài ngày để làm phúc cho giáo dân, xong việc sẽ đi Kẻ Vác báo tin cho Cha Tuấn.

Sau khi ông Lý trưởng chấp nhận, thày đi Kẻ Vác, khi đi qua gần đình làng ấy, thày gặp ông Chánh tổng Tít đang ngói ở đình làng. Trông thấy thày, ông hỏi: “Chú đi đâu có việc gì mà qua đây không trình báo?” Thày Cần đáp: “Tôi hay đi qua đây không thấy có cờ trống điếm canh thì việc gì phải trình”.

Ông Chánh tổng lại hỏi rằng: “Chú có quen ai trong làng này không?” “Tôi quen ông Lý Quang”. Ông Chánh Tổng quát: “Quen Lý Quang à, quân đâu, trói nó lại”. Vì ông Lý Quang có đạo nên những người ở đây đoán thày có đạo nên bắt giữ. Để có tang chứng cụ thể, họ lấy đồ đạo, ảnh tượng bỏ vào tay đẫy của thày. Hôm ấy là ngày 5-3-1836. Ông Tổng Tít hứa hẹn với thày nếu thày ký vào giấy nhận các đồ đạo này của mình sẽ được tha, thày nhất định không chịu. Sáng hôm sau thày bị giải lên huyện Thanh Oai, nhiều người ra xem khóc lóc, Thày Cần vai mang gông nặng nhưng vẫn vui vẻ từ giã mọi người.

Đến huyện Thày Cần phải giam trong ngục. Lúc ra công đường quan bảo thày khóa quá sẽ tha, thày từ chối hết sức. Quan hỏi: “Anh là người giỏi giang, lý sự, lại nghe theo các đạo trưởng, họ chỉ lừa dối dân chúng”. Thày Cần nói: “Các đạo trưởng của chúng tôi không lừa dối ai”.

Dù thiên thần xuống bảo, tôi cũng không khóa quá.

Ở huyện, thày Cần phải tra tấn ba lần. Lần thứ nhất quan tra hỏi tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp. Vì thày nhất định không chịu nhận các đổ đạo là của mình, quan truyền nọc thày đánh 60 roi. Thày nói với ông chánh tổng Tít đang ở đấy rằng: “Ông buộc tội oan cho tôi, tôi bằng lòng chịu đánh đập để đền tội”.

Quan huyện bảo nếu thày khóa quá sẽ tha về ở với mę già. Thày Cần trả lời ngay: “Chúng tôi là người có đạo thờ một Thiên Chúa sáng tạo trời đất, tôi không dám đạp ảnh Chúa tôi. Quan tha, tôi được sống, quan giết, tôi xin chịu; còn mẹ tôi, tôi không lo, đã có Thiên Chúa lo liệu”.

Lần thứ hai, bị tra tấn, Thày Cần ngậm thuốc lào cho đỡ đau. Quan huyện cố ép thày bỏ đạo, thày từ chối. Quan dùng cực hình tra tấn. Thày Cần chịu 40 roi, đau quá sùi bọt mép, quan sợ thày phải gió, truyền nhổ nọc, đưa về ngục cho uống nước, khi thày tỉnh, quan lại đòi lên ngay.

Quan bảo: “Hôm nay ta có giỗ, ta cho anh ăn cơm”. Lính bưng cơm lên, Thày Cần trước khi ăn quỳ xuống đọc kinh to tiếng. Quan hỏi: “Anh làm dấu gì đấy?” Thày thưa: “Trước khi ăn, chúng tôi đọc kinh có ý tạ ơn Thiên Chúa đã dựng nên của ăn ban cho chúng tôi”. Ăn xong thày đọc kinh cám ơn. Quan lại hỏi, thày cắt nghĩa rằng: “Ăn cơm xong, chúng tôi cám ơn Chúa đã ban của nuôi thân xác, để chúng tôi thờ phượng Chúa”. Quan nói: “Thế thì phải lắm”, rồi quan bảo thày đọc kinh bên đạo cho quan nghe. Thày đọc kinh 10 điều răn Đức Chúa Trời và 6 điều răn Hội Thánh, cắt nghĩa rõ ràng, quan khen rằng: “Anh cắt nghĩa phải lẽ lắm, nhưng ta nghe nói các đạo trưởng khoét mắt người ốm cùng lấy chó ngao bỏ vào chum nước cho thối rồi rẩy vào người ta, để họ đi theo đạo”. Thầy Cần đáp: “Không có sự ấy, đó là người ta bỏ vạ cho chúng tôi, các đạo trưởng chúng tôi không lừa dối ai”. Quan cho thày về trại.

Lần thứ ba ra công đường, quan lại dỗ thày nhận đồ đạo và khóa quá, vì thầy vẫn hết sức từ chối nên quan bảo: “Anh là người khôn ngoan, lý sự, ta thương lắm, anh không chịu khóa quá thì thôi, ta không ép, ta sẽ làm giấy anh đã khóa quá thì sẽ được tha”. Thày Cần cương quyết từ chối, quan lại truyền nọc đánh 40 roi, rồi sai lính khiêng thày qua ảnh, thầy vật mình xuống đất kêu lớn tiếng: “Tôi không bằng lòng”. Quan giận mắng: “Ta đã thương làm hết sức để gỡ tội anh mà anh không nghe, từ nay ta đặt tên cho anh là anh Lỳ”. Rồi quan truyền điệu thày về ngục”.

Quan Huyện tra khảo mãi không xong định giải lên Hà Nội, nhưng quan tỉnh Hà Nội không chịu, bắt quan Huyện phải xét xử việc ấy, nên thày Cần phải giam ở huyện lâu ngày lâu tháng.

Có lần quan bảo thày là đạo trưởng Liêu nhắn thày khóa quá, khi về sẽ lo liệu. Thày trả lời cứng cát: “Dù thiên thần Chúa hiện ra bảo tôi khóa quá tôi cũng không nghe, huống chi đạo trưởng Liêu”.

Thày Cần chịu khổ nhiều đàng nhiều cách. Khổ vì tra tấn, khổ vì dân làng Sơn Miêng, họ đưa ra nhiều lý lẽ để khuyên thày, nào là thày chỉ đạp ảnh đồng ảnh sắt có gì mà sợ? Nào là tội gì mà Chúa chẳng tha? Lại đưa gương ông thánh Phêrô đã chối Chúa ba lần còn đứng đầu Hội Thánh. Dù thế thày cứ khăng khăng một mực vững vàng. Sau họ xin thày thương, kẻo quan làm hại dân, thày bảo rằng: “Tôi không làm hại ai, còn quan và dân làm hại nhau thì mặc, có lẽ nào tôi bỏ Chúa để cứu dân?

Trong trại thày bị lính canh đóng cùm chặt, xoay gông ngược xuôi, khi giao canh chúng lấy roi, lấy dùi trống mà đánh đòi tiền dầu đèn, tiền canh giam mà thày không có. Nhà giam hôi hám bẩn thỉu vì các tù nhân không được ra ngoài. Chịu khổ thế thày chưa lấy làm đủ, thày còn tìm cách hãm mình thêm. Người ta đưa quần áo mới xin thày thay quần áo cũ rách bẩn thỉu, thày không nhận. Lúc nào cũng vui vẻ, tươi tỉnh, có dịp tiện là thày giảng đạo cho các bạn tù. Một lần bà mẹ già đến thăm con, thày yên ủi mẹ: “Mẹ đừmg lo về con, mç cứ giữ đạo, cho nên, phần con, con ước ao ơn trọng này đã lâu, bây giờ mới được”.

Nhắm được mắt nhưng không nhắm được lòng

Thày Cần đã ở huyện Thanh Oai tám tháng mà quan Huyện lúng túng chưa biết dựng án thế nào, quan tỉnh cứ hạch mãi. Sau quan phải giải thày lên Hà Nội. Quan tỉnh bỏ thày trong tù mấy tháng không hỏi han gì, đến tháng ba mới đòi thày lên công đường, bảo lính khiêng thày qua ảnh Thánh giá, Thày cầm lấy ảnh hôn và kêu to tiếng: “Quân của quan lớn khiêng voi cũng được huống chi là tôi, tôi không khóa quá, đừng nói dối thiên hạ”.

Quan thấy vậy kết án rồi đệ vào kinh. Từ hôm ấy, thỉnh thoảng quan lại đòi Thày Cần lên lấy lời nhân nghĩa dụ dỗ rằng: “Cứ nhắm mắt mà bước qua ảnh, chẳng phải trí khôn cố phạm mà anh sợ”. Thày đáp: “Thưa quan lớn, nhắm được mắt nhưng không nhắm được lòng, tôi không làm”.

Lần khác quan lấy hai que nứa làm hình chữ thập rồi bảo thày: “Đây không có ảnh tượng gì, bước qua đi cho xong”. Thày thưa rằng: “Thập giá là do ý quan lớn, nên dù là cái rác mà chỉ là Thánh giá tôi cũng không bước qua”.

Đang khi chờ đợi án trong kinh, thày bị ốm nặng nhưng Chúa thương, thày được bình phục, dịp ấy có một đạo trưởng giả làm thày thuốc vào giải tội và kiệu Mình Thánh cho thày.

Tôi trung thành không ở hai lòng

Khi án từ kinh đã đến Hà Nội, quan Thượng truyền quan Giám sát đến ngục điệu thày ra bảo: “Tuy đã có sắc chỉ nhà vua, nhưng nếu anh bỏ đạo, quan sẽ đình chỉ bản án”. Thày thưa: “Vua thương, các quan thương, tôi xin hết lòng cám ơn, nhưng bỏ đạo thì tôi không dám. Xin các quan cứ phép vua””. Hôm ấy là ngày 20-11-1837.

Đoàn áp giải tù tiến ra pháp trường Ô Cầu Giấy, quan Giám sát cưỡi voi. Bổn đạo đi theo rất đông khóc lóc kêu trách các quan. Thày Cán bảo họ rằng: “Không nên trách ai, có thể tôi mới được phúc trọng này”. Các người ngoại khen: “Thật là gan thánh gan thần, mới bằng ấy tuổi đã lý sự khôn ngoan can đảm, thì không biết đạo ông ấy thế nào?” Còn Thày Cần vui vẻ tươi tỉnh vừa đi vừa giảng đạo mà nói: “Tôi phải xử, không phải vì trộm cướp mà vì đạo Thiên Chúa”.

Đến pháp trường Ô Cấu Giấy, đoàn áp giải dừng lại, Thày Cần ngồi chiếu bổn đạo đã giải sẵn, người ta bưng cơm, thày không ăn. Thày quỳ lên cầu nguyện một chút, lính trói thày vào cọc. Quan sai lính đến bên cạnh thày bảo khóa quá sẽ tha ngay. Thày lắc đầu. Khi dây thòng lọng đã để vào có, quan Giám sát còn đình lại, xuống voi đến bên thày nói: “Chỉ còn một chớp mắt là anh sống anh hay chết, nếu anh không khóa quá sẽ chết ngay, nếu khóa quá, ta đưa anh về”. Thày thưa rằng: “Tôi trung không ở hai lòng, cám ơn quan lớn, xin quan cứ phép”.

Quan lên hiệu ngay, lính kéo mạnh hai đầu dây. Lính lấy lửa đốt chân thày xem chết thật chưa, quan Giám sát thấy thày không thè lưỡi, mặt không xám như các tù khác, sợ sau ba ngày thày sẽ sống lại, nên truyền chém đầu thày. Máu chảy rất nhiều, người ta xông vào thấm máu.

Bổn đạo võng xác thày đem về chôn ở Chân Sơn (nay là phố Chân Cầm gần nhà Thờ Lớn Hà Nội). Hai năm sau chị Ban là chị ruột thày và các anh em họ hàng đến xin đưa xác về Sơn Miêng táng trong đất nhà thờ, táng cách kín đáo vì đang thời cấm cách. Sau khi Đức Cha Pu-gi-ni-e[2] (Phước) và Cha Cao về qua Sơn Miêng thì đem chôn xác thày ở đầu nhà rãy.

Ngày 27-5-1900 Đức Thánh Cha Lê-ô XII phong chân phúc cho thày Phan-xi-cô Xa-vi-e Cần.

Ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô I đã tôn thày lên bậc hiển thánh.


[1] Havard.

[2] Puginier.

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top