
Trong phụng vụ thánh lễ, hầu như bài giảng nào của các linh mục cũng đều kết thúc bằng lời khuyên hãy yêu thương nhau, như thông điệp cụ thể cho cộng đoàn tín hữu. Tình yêu thương cũng được nhắc tới thường xuyên trong các bài diễn thuyết, những buổi hội họp của cộng đoàn ở nhiều cấp độ. Tuy nhiên, lời mời gọi yêu thương có nguy cơ trở nên nhàm chán, thậm chí vô nghĩa đối với đời sống cụ thể của người tín hữu. Người ta nói đến tình yêu, nhưng không thực hiện đức yêu thương. Tình yêu thương đang mờ nhạt từ trong gia đình đến giáo xứ và cộng đoàn xã hội. Con người đang có xu hướng ích kỷ co cụm, và chủ nghĩa cá nhân đang lên ngôi. Lời Chúa hôm nay một lần nữa nhắc nhở chúng ta về giáo huấn yêu thương, là giáo huấn trải dài trong Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước. Tình yêu thương là cốt lõi của đời sống Ki-tô hữu, như khẳng định của thánh Phao-lô: “Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8).
Yêu thương, vì Thiên Chúa là tình yêu. Nền tảng đức yêu thương của Ki-tô hữu dựa trên chính Thiên Chúa. Ngài là Tình Yêu. Thánh Gio-an tông đồ lặp đi lặp lại chân lý này. Tình yêu là bản tính của Thiên Chúa. Bài đọc I diễn tả tình yêu của Chúa trong lịch sử. Chúa bênh vực người nghèo, và ai làm hại người nghèo sẽ bị Chúa trừng phạt. Vì Thiên Chúa là tình yêu, nên chúng ta phải yêu thương nhau vì Chúa. Tôi yêu mến một người, không phải chỉ vì người đó vừa làm điều tốt lành cho tôi hay vì người đó có mối giây họ hàng với tôi, nhưng tôi yêu mến vì Chúa dạy tôi làm điều đó. Khi tôi yêu người đó, là tôi làm cho Chúa hài lòng. Đó là điều làm tôi hạnh phúc.
Yêu thương, vì tôi và mọi người đều là đồng loại. Hơn thế nữa, tất cả đều là con của một Cha trên trời và là anh chị em trong Đức Ki-tô Giê-su. Tình yêu của Ki-tô hữu còn cao hơn tình yêu đồng loại. Tôi yêu mến một người vì tôi thấy nơi người đó hình ảnh của Chúa Giê-su. Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta viết: “Mỗi người là một Đức Ki-tô đối với tôi, và vì Chúa Giê-su là duy nhất, nên người ấy cũng là duy nhất đối với tôi”. Chúa Giê-su đồng hóa với những kẻ bé mọn khó nghèo, nên ai giúp đỡ người nghèo là giúp đỡ chính Chúa. Giáo huấn của Tin Mừng nhắc nhớ chúng ta, khi chúng ta gặp gỡ một người, bất kể là ai, chúng ta cũng có thể gặp Chúa Giê-su nơi người đó. Sự hiện diện của người nghèo gợi lên nơi chúng ta bổn phận phải liên đới và yêu thương đồng loại.
Yêu thương, vì bản thân tôi cũng có nhu cầu được yêu thương. Sống giữa đời, tôi chưa là một người hoàn hảo. Tôi cần sự nâng đỡ cảm thông và yêu thương của biết bao người khác. Những khiếm khuyết của tôi sẽ được bù đắp bởi những người anh chị em xung quanh tôi. Như thế, yêu thương người khác giúp tôi khiêm tốn hơn. Con người sống cần có đồng loại, cần có tha nhân. Sự khác biệt giữa những cá vị sẽ dệt lên một bức tranh phong phú diễn tả cuộc đời. Tôi đang được Chúa mời gọi điểm xuyết vào bức tranh cuộc đời ấy những nét đặc biệt, góp phần tô điểm cho cuộc sống này đáng yêu hơn.
Tình yêu tha nhân phải đặt trên nền tảng tình yêu Thiên Chúa. Vì thế mà hai giới răn trọng nhất thực ra chỉ là một: mến Chúa và yêu người. Mến Chúa mà không yêu người thì là ảo tưởng suông; yêu người mà không mến Chúa thì tình yêu ấy không mang tính siêu nhiên và có thể vì một mục đích khác. Nói dễ hiểu hơn, yêu người là bằng chứng cụ thể của lòng mến Chúa. Đây không phải là hai bổn phận tách biệt, mà là hai khía cạnh của cùng một tình yêu duy nhất. Khi mến Chúa đi đôi với yêu người, nghĩa cử bác ái sẽ tăng thêm giá trị. Người mang nghĩa cử ấy sẽ hạnh phúc hơn. Đó là niềm hạnh phúc đến từ Thiên Chúa.
Một người thông luật hỏi Chúa về các giới răn. Chắc chắn người này hỏi để gài bẫy, Vì người ấy là người thông luật, là một chuyên viên học cao biết rộng. Hơn thế nữa, người này còn dạy cho người khác giữ Luật. Qua câu trả lời, Chúa Giê-su đã khẳng định với người thông luật: Người đến trần gian cũng chỉ để hoàn thiện Luật Môi-sen và các ngôn sứ. Người không làm điều gì khác với những gì ông Môi-sen và các ngôn sứ đã làm. Người cũng khẳng định: hai điều răn này đều có tầm quan trọng như nhau. Câu trả lời của Chúa trích dẫn sách Đệ nhị luật và sách Lê-vi để minh chứng tính chính thống trong giáo huấn của Người.
Trước những tín hiệu vui về lòng đạo đức và tình liên đới của cộng đoàn tín hữu tại Phi-lip-phê, thánh Phao-lô rất hài lòng. Ngài ca ngợi lòng tin và lòng bác ái của họ. Ngài mong muốn những cộng đoàn khác cũng sống như vậy (Bài đọc II). Ước mong những bài giảng và thông điệp về tình yêu thương thực sự đi vào lòng người và biến đổi con tim cũng như đời sống của Ki-tô hữu chúng ta. Xin kết thúc những suy tư này bằng lời khuyên của thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta: “Đừng chỉ hài lòng với việc cho tiền. Tiền có thể kiếm được. Họ cần trái tim bạn để yêu họ”.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
