Mồ trống – Sứ điệp các thiên thần – Lễ vọng Phục Sinh C – Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

MỒ TRỐNG – SỨ ĐIỆP CÁC THIÊN THẦN

SUY NIỆM ĐÊM VỌNG PHỤC SINH

(Lc 24,1-12)

1. Người ta thường bảo lược đồ tác phẩm Lc (phúc âm và Cv) là một lược đồ địa lý, một hành trình mà trạm chính là Giêrusalem. Từ Galilê nơi Ngài đã bắt đầu rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu lên Giêrusalem, vừa đi vừa tiếp tục sứ mệnh, để chết, sống lại và lên trời ở đó. Và cũng từ đó, Chúa Giêsu sai Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Rồi khởi từ Giêrusalem, các vị này chia tay nhau đi rao giảng Tin mừng khắp mọi nơi cho đến La mã, kinh đô thế giới ngoại giáo đương thời.

Nhưng tại sao Giêrusalem xem ra là bản lề của không gian nếu không phải là vì trước hết và sâu xa hơn hết sự phục sinh của Chúa Kitô là bản lề của thời gian. Đây chính là yếu điểm của toàn thể lịch sử, đây chính là biến cố vĩ đại tạo nên ý nghĩa cho các biến cố khác. Sấm ngôn tiên tri, lề luật Môisen, Thánh vịnh, đến cả giáo huấn của Chúa Giêsu đều chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng của phục sinh. Tất cả đều qui về sự hoàn thành ấy. Lc không ngừng lặp đi lặp lại điều đó trước (9,22.30-31. 44.51; 18,31-33; 22,37) cũng như sau biến cố vĩ đại này (24,6-7. 25-27.44-46).

Những trình thuật phục sinh cấu thành chóp đỉnh và trung tâm tác phẩm của Lc. Trong tác phẩm của ông, các biến cố có vẻ như chỉ xảy ra cùng một ngày. Đứng trước sự ngu độn này ngày càng tăng của môn đồ, Đức Kitô đưa ra chứng cớ ngày càng hiển nhiên về sự phục sinh của Ngài: nào là mồ trống, nào lời thiên thần quả quyết Ngài đã sống lại theo lời Thánh kinh, nào là chính Ngài hiện ra “bẻ bánh”, tỏ vết thương, và ngay cả ăn uống với các môn đệ. Khi đức tin của họ đã được củng cố, Ngài sai họ đi khắp thế giới và hứa ban Thánh Thần cho, rồi Ngài ngự về trời.

2. Sứ điệp các thiên thần hàm chứa lời tuyên bố vĩ đại, “tin mừng lớn nhất”: Chúa Giêsu đã phục sinh. Nhưng trước khi lấy lại từ ngữ của Mt để diễn tả chân lý ấy, Lc phát biểu nó theo ý niệm của Thánh Phaolô và của người Hy lạp: ngoài hình ảnh thông thường của việc thức dậy (êgêrô) ông thêm một ý niệm nặng chất thần học hơn: ý niệm “sống” (x.Rm 6,9-10; Cv 25,19). Hạn từ này sẽ được ông đặt trên môi hai môn đệ làng Emmau để tóm tắt sứ điệp thiên thần (24,23)

Trong Cựu ước, Đấng hằng sống chính là Thiên Chúa (Ds 24,21.28; Đnl 32,40); Giavê là Thiên Chúa hằng sống (Đnl ,2; Xac 5,11). Người ta lấy danh Thiên Chúa hằng sống mà thề (1S 19,6). Chỉ có mình Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống, là chủ sự sống (St 2,7; 1S 2,6). Do đó, người ta có thể hiểu từ ngữ “hằng sống” này theo nghĩa mạnh nhất và dịch: “Tại sao các bà lại tìm “Đấng sống” giữa người chết? (TOB) thay vì dịch: “Tại sao các bà tìm người đang sống…” Hiểu như thế, lời tuyên bố của các thiên thần hàm chứa thần học của thánh Phaolô và Gioan; theo thần học ấy, Đức Kitô đồng hóa với sự sống (Ga 1,4; 11,25; 14,6), là nguồn mạch sự sống (10,10; Rm 5,10; 1Cr 15,45; Ga 5,11). Những người Hy lạp thường định nghĩa thần tính bằng bất tử tính vì họ thấy loài người là “hay chết”. Lc lấy hai cách đối chiếu này. Trên kia (c.3) ông đã dùng từ ngữ rất mạnh: “Chúa Giêsu” (Seigneur Jésus), thì đây cũng thế, ông đã gán cho chữ “đấng sống” một nội dung phong phú như niềm tin của Giáo hội vào thiên tính của Chúa Giêsu, thiên tính mà cuộc phục sinh đã xác nhận.

3. Lời của các thiên thần bao hàm một sự khiển trách: các bà đã quên lời tiên báo về tử nạn và phục sinh của Đức Kitô. Các môn đệ làng Emmau (c.25-26) và các tông đồ (c.38) cũng bị khiển trách như vậy. Lời thiên thần trách móc phụ nữ làm chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu đã thưa với mẹ Ngài trong đền thờ: “Thế thì tìm con làm gì? …” (Lc 2,49). Ai biết Chúa Giêsu trong mầu nhiệm cao siêu của Ngài thì biết tìm Ngài ở đâu. Các phụ nữ tìm Ngài ở nơi Ngài không thể ở. Tìm một người chết giữa những kẻ chết có gì lạ đâu. Nhưng đối với Chúa Giêsu thì không phải thế; khi thấy mồ trống các phụ nữ phải hiểu là Chúa đã sống lại.

Nếu các môn đệ thực sự tin vào các lời tiên tri và các lời Chúa Giêsu dạy, thì họ đã không bối rối thất vọng khi Chúa Giêsu chết hoặc khi thấy mồ trống. Việc nhắc lại các lời tiên tri, Mt đã thêm vào các trình thuật của Mc. Vì làm sao Mt, kẻ luôn luôn nhấn mạnh Chúa Giêsu làm ứng nghiệm các lời tiên báo, lại không trình bày sự phục sinh của Chúa Giêsu như là thể hiện các lời đó được. Nhưng trong lúc ông chỉ ghi đại khái: “Ngài đã sống lại, như Ngài đã nói” thì Lc cho thiên thần trích lại một trong các lời tiên báo của Ngài và ông sẽ cho thấy Chúa Giêsu tự áp dụng lời tiên báo ấy trước mặt các môn đệ (cc.25-27; 44-46).

“Các bà hãy nhớ lại…”, thiên thần nói với các phụ nữ như thế. Tuy nhiên trong các phúc âm, chính các môn đệ chứ không phải các bà đã được nghe Chúa Giêsu loan báo cuộc tử nạn và phục sinh. Có cần tưởng tượng rằng các bà cũng được nghe Chúa Giêsu nói hoặc đã được các tông đồ nhắc lại cho không? Đối với Lc, chỉ cần biết rằng các bà có mặt trong phúc âm là đủ. Có lẽ chính vì vậy mà Lc đã thêm vào lời loan báo tử nạn đầu tiên câu này: “Hãy ghi kỹ vào tai các lời này” (Lc 9,44, so sánh với Mc 9,31; Mt 17,21). Câu “các bà hãy nhớ lại…” tương ứng với lời khuyến cáo đó.

Còn về điểm xác định “ngày thứ ba” mà ta đã thấy ở 9,22, có cần coi đó như là một sự ngẫu nhiên hay như một điểm mà các sứ ngôn đã nhắm đến? Và do bản văn nào trong Cựu ước? Các nhà chú giải bất đồng về vấn đề này. Có thể là Giáo hội sơ khai đã gán cho các đoạn tiên tri Ôse 6,2 và Giona 2,1 một tầm mức, một ý nghĩa thiên sai mà thực ra chúng không có theo bản nghĩa.

Lời các thiên thần khiển trách những phụ nữ không phải là vô ích. Các bà nhận ra trong mồ trống dấu hiệu ứng nghiệm lời tiên tri và tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại. Gioan đứng trước sự kiện ấy cũng sẽ tin luôn (Ga 20,8b-9). Do đó đề tài “nhớ lại và hiểu được sau phục sinh lời tiên báo của Chúa Giêsu” là một điểm chung giữa hai phúc âm thứ ba và thứ tư (Ga 2,17.22; 7,39; 12,16; 13,7; 16,12-13).

4. Thường thường Lc thích nhấn mạnh tình cảm của các nhân vật trong phúc âm của ông, vui mừng và nhất là sợ hãi (1,12.14.65; 2,9). Nếu ở đây ông không nói đến tình cảm của các bà, là vì ông chỉ muốn làm nổi bật một sự kiện quan trọng: các bà đã tin. Đó không phải là một hành động thiếu suy nghĩ và nông cạn mà người ta thường gán cho tính nhẹ dạ của đàn bà như các tông đồ đã làm, nhưng đây là một đức tin đặt cơ sở vững chắc trên sự chứng thực các sự kiện: mồ trống, lời nói của các thiên thần chứng từ của Thánh kinh và của Chúa Giêsu.

“Họ đã nói lại hết các điều đó cho nhóm mười một, và cho mọi kẻ khác” (c.23). Chúng ta ghi nhận: từ ngữ “nhóm mười một”, không có túc từ “môn đệ”, là một tiếng đặc biệt chỉ có Lc dùng (so sánh Mt 28,16; Lc 24,9.33; Cv 2,14; còn Mc 16,14 có lẽ là tóm tắt Lc 24,36tt…) Đây là một tên gọi liên quan với tiếng “nhóm 12”. Nó chuẩn bị cho trình thuật tuyển chọn Matthias (Cv 1,15-26). Nhưng không phải chỉ có “nhóm 11” mới được báo tin. Dĩ nhiên các tông đồ là những chứng nhân chính thức của việc phục sinh (Cv 1,21-22); nhưng Lc đã cố ý nói rằng sứ mệnh đó không chỉ thuộc về họ. Bên cạnh nhóm 12, còn có “72” môn đệ khác, những người này cũng được lãnh nhận một sứ mệnh (Lc 10,1-16). Hai môn đệ làng Emmau là hai người trong bọn họ đã làm chứng cho sự phục sinh (so sánh c.9 với c.22; x. cc.33-35; 1Cr 15,6).

Chúng từ của các bà rất vững chắc, không những vì đức tin họ dựa trên các sự kiện đã xảy ra, mà còn vì chính con người họ nữa (c.10). Họ là những kẻ theo Chúa Giêsu từ Galilê, nhất là Maria Mađalêna và Gioanna, vợ của ông quản gia vua Herodê (8,2-3), cũng như bà Maria mẹ Giacobê mà Mc đã nói tới (16,1). Còn Salomé (Mc 16,1) có lẽ ít được biết đến hơn nên Mt đã không kể tên. Lc thay vào Gioanna mà các độc giả ông đã biết để làm chứng nhân tiêu biểu.

Để chứng thực rằng Chúa Giêsu đã sống lại ra khỏi mồ, hỏi có chứng nhân nào xứng đáng hơn các bà ấy, những người đã tẩm liệm Chúa Giêsu, đã nhìn ngôi mộ và đã thấy cách thức đặt xác Chúa vào đó? (23,55). Lc đã nhấn mạnh điểm này hơn các tác giả phúc âm khác. Nhưng mặc dầu có giá trị, chứng tá các bà cũng không đủ để thuyết phục các môn đệ quá thất vọng; họ chỉ thấy đó là chuyện nhảm nhí đàn bà (c.11; x. 22-24).

5. Chỉ có Phêrô bị đánh động và muốn tự mình kiểm chứng. Trong khi Mc và Mt không biết đến giai thoại này thì Gioan đã kể lại với nhiều chi tiết hơn Lc và đã dàn cảnh “người môn đệ kia” (20,2-10) bên cạnh Phêrô. Phải chăng Lc (hoặc một trong các môn đệ) đã tóm tắt Gioan hoặc truyền thống Gioan đã khai triển Lc? Vấn đề này khó giải quyết vì trình thuật Lc hàm chứa từ ngữ của ông lẫn Gioan. Hai bên đã lần lượt ảnh hưởng nhau. Các độc giả của Gioan có nhiều lý do để biết việc ông đến mộ và tuyên xưng đức tin; còn Lc thì không để ý đến chuyện đó làm gì, không phải vì ông không biết đến (x.c.24) nhưng vì ông muốn tập trung chú ý của độc giả vào một mình Phêrô thôi.

Phêrô, với thói quen phản ứng bộp chộp, chạy ngay đến mồ, và nhận thấy xác Chúa Giêsu đã biến mất. Nhận xét này chỉ làm cho ông ngạc nhiên. Ông không biết phải nghĩ thế nào. Phúc âm thứ tư xác nhận bạn đường của Phêrô đã tin và do đó cho thấy ông chưa tin việc Chúa sống lại. Lc kín đáo hơn, vì mục đích của ông là nhấn mạnh vai trò quan trọng của Phêrô hơn là vạch trần yếu đuối của vị tông đồ.

Sở dĩ Lc thuật ngay hành động của của Phêrô, mặc dầu hành động ấy khi đi đến thái độ đức tin, là vì ông muốn chuẩn bị cho những gì ông sắp nói trong phần còn lại của chương này, nhất là trong Cv, về chứng từ phục sinh của Phêrô. Lc, thần học gia về đời sống giáo hội, biết rằng đức tin của giáo hội về sự phục sinh dựa trên đức tin của Phêrô, nên ông đã nhấn mạnh một cách đặc biệt đức tin của vị trưởng tông đồ và do đó làm cho chúng ta chứng kiến sự phát triển chậm chạp của nó nơi Phêrô.

Dưới đôi mắt của Lc, Phêrô là một chứng nhân tuyệt hảo của sự phục sinh. Theo lời các môn đệ (c.34) và theo Phaolô (1Co 15,5) thì ông đã được Chúa hiện ra cho cách đặc biệt trong chính ngày phục sinh. Ngày hiện xuống, Phêrô sẽ nhân danh “nhóm mười hai” để công bố sự kiện này (Cv,14-36; 3,12-26; 4,8-12). Vậy việc thấy mồ trống đã không gợi lên đức tin nơi Phêrô, thì việc nhìn thấy Đấng sống lại sẽ làm cho ông trở thành một người có đức tin không lay chuyển nổi. Chính vì thế, ông có thể “trở lại” và từ đấy “củng cố đức tin anh em mình” (Lc 22,32).

KẾT LUẬN

Mồ trống và những khăn liệm tháo ra tự chúng không đưa đến đức tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu. Nhưng tác giả phúc âm xác tín rằng sau khi sống lại, xác Chúa Giêsu không thể còn nằm trong mồ, người ta không thể tìm thấy Ngài ở đó nữa. Sự phục sinh của Chúa Giêsu là sự phục sinh thể xác. Sự phục sinh đó đã được các thiên thần công bố và được đối chiếu với những lời Chúa Giêsu tiên báo lúc Ngài còn tại thế. Chỉ còn đợi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra là hoàn toàn xác tín.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúng ta đã nghe nhiều câu chuyện sống lại. Chính Chúa Giêsu đã cho nhiều người chết sống lại. Phúc âm kể cho chúng ta việc Ngài cho con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô và Lazarô bạn Ngài sống lại Mt cũng thuật: khi Chúa Giêsu chết, thì “xác của nhiều thánh đã yên nghỉ được sống lại” (Mt 27,52). Nhưng những kẻ được Chúa cho sống lại thực sự chỉ là được hồi sinh. Họ trở về lại cuộc sống như bao người khác, chịu những định luật thông thường của kiếp người và rồi cũng sẽ chết. Họ là dấu chỉ cho một cuộc phục sinh khác, cuộc phục sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta mừng lễ hôm nay.

Thật vật, đối với Đức Kitô hoàn toàn khác. Sự phục sinh của Ngài không giống tí nào sự hồi sinh của Lazarô hay của con gái ông Giairô. Nếu đọc những trình thuật phúc âm về những lần Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ sau khi sống lại, trước tiên chúng ta nhận thấy rằng Chúa Giêsu đi đứng như một người sống bình thường: Ngài ăn với các tông đồ cho người ta nhìn thấy để nhận ra; Ngài nói, Ngài nghe, Ngài kêu tên những ai Ngài gặp, Ngài đề nghị họ đến sờ những thương tích Ngài, để bảo đảm Ngài đang thực sự hiện diện.

Nhưng sự sống của Ngài rất khác lạ. Ngài đang sống, nhưng được lúc đi đứng như một người thường thì Ngài lại có thể hành động cách khác như thể Ngài đã thoát khỏi thân phận, điều kiện con người. Không gian và thời gian, các vật thể đặc cứng không đáng kể đối với Ngài. Trong Đức Kitô phục sinh, hiện ra một con người hoàn toàn mới mẻ, chưa bao giờ gặp thấy. Ngài vừa là một con người, vừa là một tinh thần thuần túy (pur esorit). Thật khó mà diễn tả vì Ngài rất giống chúng ta nhưng cũng lại rất khác chúng ta. Ngài đạt đến một trạng thái đã hứa từ lâu nhưng chưa bao giờ thực hiện. Đó là trạng thái con người “đi ngang qua thế gian này mà về cùng Cha”.

Đó là sự kiện phục sinh của Chúa Kitô, một sự kiện duy nhất nhưng làm đảo lộn tất cả. Chúa Giêsu là người đầu tiên và là người duy nhất được lịch sử đã đi qua cái chết và đã sống lại nguyên vẹn với thân xác Ngài đã chết và sau đó đã trở về; dĩ nhiên Ngài không tỏ tâm sự bí mật, không nói cho chúng ta hay Ngài đang cảm thấy gì để chúng ta thỏa mãn tính tò mò. Ngài làm hơn thế, Ngài nói cho chúng ta biết cái chết có mục đích gì và ý nghĩa nào. Ngài bảo chúng ta đừng sợ chết, vì nó đưa chúng ta đến trạng thái chung cục, khởi điểm cho một cuộc sống mới một sáng tạo mới.

2. Cuộc sống mới này, mà Chúa Giêsu là người đầu tiên sinh ra trong đó, chúng ta có thể kinh nghiệm được ngay từ bây giờ. Nó không phải là một giả thiết cho tương lai, song là một thực tại hiện thời. Đó là tất cả ý nghĩa của phép thánh tẩy và sức mạnh canh tân của nó mà ta đang thấy qua các cử hành phục sinh. Nếu Chúa Giêsu là trưởng tử của tạo vật mới, thì không nguyên một mình Ngài mà tất cả những ai được rủa tội, ngay từ bây giờ, đã làm thành một dòng tộc mới giống Chúa Giêsu. Và đây là vai trò chính yếu của Giáo hội: loan báo cho thế gian biết rằng: Chúa Giêsu đã sống lại và trao ban sự sống mới của Ngài cho mọi người nhờ phúc âm.

3. Những tín hữu đã chịu phép thánh tẩy giống Chúa Giêsu phục sinh. Họ giống đồng thời cũng khác biệt mọi người. Như mọi người, họ sống giữa thế gian; họ nói, họ làm, họ lao động, họ đau khổ và họ sung sướng giống hệt những người khác. Như mọi người và với mọi người, họ cộng tác vào việc là chủ vũ trụ và nỗ lực xây dựng một thế giới công bình và bình an.

Khác với mọi người, họ không đóng khung trong trần gian. Họ biết rằng trần gian này không phi lý như một vài người nghĩ, cũng quá đủ như một số người chủ trương. Họ biết rằng Thiên Chúa muốn con người, chấp nhận trần gian với tất cả yêu sách của nó, họ biết rằng phải tùng phục các định luật của sáng tạo, họ cũng hiểu rằng trần gian này không vĩnh cửu mà chỉ là một hình thức chuyển tiếp của một thực tại luôn tiến về việc thiết lập Nước Thiên Chúa.

4. Chúng ta hãy canh tân phép rửa của chúng ta lại trong sức mạnh nguyên tuyền của nó để củng cố sự hiện hữu của thế giới mới đã được Chúa Giêsu phục sinh khai mào. Muốn thế, chúng ta phải không ngừng từ bỏ tội lỗi và sự chết của con người và luôn luôn sống Chúa Giêsu là sự sống của nhân loại.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tham khảo thêm

SUY NIỆM CHÚA NHẬT

Lên đầu trang