THÁNH VỊNH 33

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM C

Bối Cảnh

Thánh vịnh 33 được kể vào số các thánh vịnh Tạ ơn cá nhân. Câu đầu tiên của Thánh vịnh cho ta biết vua Đa-vít là tác giả. Đa-vít sáng tác thánh vịnh này trong bối cảnh của một cuộc chạy trốn sự săn lùng của vua Sa-un. Theo như trình thuật của sách 1 Sa-mu-en , khi chạy trốn vua Sa-un, Đa-vít đã dừng chân tại một thành của người Phi-li-tinh và ông đã đến gặp A-khít, vua thành Gát. Vì sợ vua A-khít giết hại nên ông giả điên trước mặt triều thần. Thế rồi, ông bị vua A-khít đuổi đi và đã trốn vào hang A-đu-lam (x. 1 Sam 21,10-22,1). Khi nghe tin Đa-vít trốn thoát vào hang A-đu-lam, toàn thể gia đình, các anh cùng với cha của ông và những người theo ông đã xuống đó với ông. Trước sự hiện diện đầy cảm xúc của toàn thể gia đình, Đa-vít đã tấu lên bài ca tạ ơnnày. Ông đã kêu mời tất cả những người hiện diện cùng với ông tạ ơn Thiên Chúa, Đấng yêu thương và giải thoát những người thân phận khốn cùng.

Bố Cục

Thánh vịnh 33 với 23 câu có thể được chia thành 3 phần:

– Phần I (cc. 2-9): tâm tình chúc tụng và ngợi khen

– Phần II (cc. 10-15): lý do của lời tạ ơn và những lời giáo huấn

– Phần II (c. 16-23) tâm tình tin tưởng và phó thác

Ý Nghĩa

Toàn bộ nội dung của Thánh vịnh 33 quảng diễn tâm tình tạ ơn trong tin tưởng và phó thác. “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi” (c. 2). Trong lời tạ ơn, vịnh gia Đa-vít đã tự nhận mình là một trong số những kẻ khốn cùng, bị áp bức, những vẫn một lòng kính sợ Chúa, tín thác nơi Chúa: “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (c. 7). Chính trong sự tín thác tuyệt đối vào Chúa mà ông được cảm nếm bình an và niềm vui: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (c. 9). Thêm vào đó, vịnh gia cũng thể hiện mình là nhà lãnh đạo, một người cha khôn ngoan. Ông thấu hiểu rằng cái căn của sự khôn ngoan là lòng kính sợ Chúa: “Kính sợ Chúa đi, đoàn dân thánh hỡi, vì ai kính sợ Người chẳng thiếu thốn chi.” (c.10). Ông con mời gọi: “Các con ơi, hãy đến mà nghe, ta sẽ dạy cho biết đường kính sợ Chúa” (c. 12). Sau cùng, thánh vịnh này khép lại với những lời khẳng định đầy tin tưởng vào tình Chúa yêu thương: “Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (c. 23).

Truyền Thống Cầu Nguyện và Phụng Vụ

Trong truyền thống cầu nguyện và phụng vụ, ngoài Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm C hôm nay, Thánh vịnh 33 còn được sử dụng trong Chúa Nhật XIX (cc. 2-9), Chúa nhật XX (cc. 10-15), và Chúa nhật XXI (cc. 16-23) Thường Niên Năm B. Ba Chúa Nhật tương ứng với 3 phần của thánh vịnh. Như vịnh gia Đa-vít vùng với toàn thể gia đình ông đã cùng nhau dâng lên Chúa lời tạ ơn, hôm này, toàn thể gia đình Giáo Hội một lần nữa mượn lời bài ca của Đa-vít mà cảm tạ và ngợi khen Chúa, Đấng luôn thương yêu và giải cứu con cái mình trong mọi cơn gian nan, khốn khó của cuộc đời. Khi hoà tấu bài ca này, tâm hồn mỗi người Ki-tô hữu được đong đầy niềm vui, vì “Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (c. 23).

Lm. Antôn Trần Văn Phú

Bài hát cộng đồng

những hướng dẫn khác

Nhạc Lý

nhạc kèn

Tài liệu tham khảo

giới thiệu bài hát mới

giải nghĩa thánh vịnh

Scroll to Top