
Phần “Hòa âm cơ bản” được trích từ cuốn sách “Học nhạc, học đàn và học hát” xuất bản năm 1989 của Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn.
————————————
HỢP ÂM
Khái niệm: Một chùm gồm ba, bốn hay năm âm, được sắp xếp theo quãng ba, phát ra cùng một lúc gọi là hợp âm

Trong thực tế, chúng ta hay sử dụng các hợp âm có ba hay bốn âm, còn các hợp âm gồm năm hay nhiều âm hơn thì ít sử dụng.
I – Hợp âm ba
1. Định nghĩa: Hợp âm ba gồm ba âm được sắp xếp theo quãng 3. Mỗi âm trong hợp âm ba đều có tên gọi riêng:
- Âm gốc hay còn gọi là âm 1.
- Âm giữa cách âm gốc một quãng ba gọi là âm 3.
- Âm ngọn cách âm gốc một quãng năm gọi là âm 5.

Có hai loại hợp âm hay được sử dụng hơn cả là hợp âm ba trưởng và hợp âm ba thứ.
2. Hợp âm ba trưởng: Là hợp âm được cấu tạo bởi ba âm có quan hệ quãng 3 với nhau theo thứ tự:
- Từ âm gốc lên âm giữa là quãng 3 trưởng.
- Từ âm giữa lên âm ngọn là quãng 3 thứ.
- Từ âm gốc lên âm ngọn là quãng 5 đúng.

3 – Hợp âm ba thứ: Là hợp âm được cấu tạo bởi 3 âm có quan hệ quãng 3 với nhau theo thứ tự.
- Từ âm gốc lên âm giữa là quãng 3 thứ.
- Từ âm giữa lên âm ngọn là quãng 3 trưởng.
- Từ âm gốc lên âm ngọn là quãng 5 đúng.

4 – Thể đảo của hợp âm ba: Nếu ba âm của hợp âm ba được sắp xếp theo thứ tự: âm 1 nằm ở dưới cùng làm âm nền, rồi đến âm 3 và âm 5, người ta gọi đó là hợp âm nguyên vị hay hợp âm ba gốc.

Ngoài các sắp xếp trên, nếu trật tự của các âm thay đổi, thì các sắp xếp mới ấy của hợp âm ba được gọi là các thể đảo. Hợp âm ba có hai thể đảo:
a/ Thể đảo một của hợp âm ba: Các âm được sắp xếp theo thứ tự: âm 3 làm nền, trên đó là âm 1 và âm 5. Hợp âm ba đảo một gọi là hợp âm sáu, ký hiệu bằng số 6:

b/ Thể đảo hai của hợp âm ba: Các âm được sắp xếp theo thứ tự: Âm 5 làm âm nền, rồi đến âm 1 và âm 3. Hợp âm ba đảo hai gọi là hợp âm bốn sáu, ký hiệu 6/4

II- Hợp âm bảy – Hợp âm bảy: Là hợp âm gồm 4 nốt được sắp xếp theo thứ tự quãng 3. Nói cách khác, hợp âm bảy là hợp âm ba được chồng lên thêm một quãng ba nữa.
Như vậy sẽ có rất nhiều loại hợp âm bảy. Nhưng trong thực tế, chúng ta hay dùng hợp âm bảy át (ký hiệu là D7) hơn cả.
1 – Định nghĩa: Hợp âm bảy át (D7) được cấu tạo bằng cách chồn thêm một quãng 3 thứ lên trên hợp âm ba trưởng.

Trong hợp âm bảy, ba âm bên dưới được gọi tên như ở hợp âm ba (là âm 1-3-5) âm thứ tư, theo khoảng cách tính từ âm 1 được gọi là âm 7.

2 – Thể đảo của hợp âm bảy át: Nếu âm 1 của hợp âm bảy át nằm ở dưới cùng làm âm nền, trên nó là âm 3, âm 5, âm 7, người ta gọi là thể nguyên vị của hợp âm bảy át.

Nếu trật tự của các âm có sự thay đổi, người ta gọi là các thể đảo của hợp âm bảy. Hợp âm bảy có ba thể đảo:
a/ Thể đảo một: âm 3 của hợp âm làm nền, các âm 5,7,1 nằm ở phía trên. Hợp âm bảy át đảo một gọi là hợp âm năm sáu – ký hiệu D6/5

b/ Thể đảo hai: âm 5 của hợp âm làm nền, các âm 7,1,3 nằm ở phía trên gọi là hợp âm ba bốn – Ký hiệu D4/3

c/ Thể đảo ba: âm 7 của hợp âm bảy át làm nền, các âm 1.3.5 nằm ở phía trên. Hợp âm bảy át đảo ba gọi là hợp âm hai – Ký hiệu D2

GHI NHỚ: Nắm được công thức cấu tạo của hợp âm ba trưởng, hợp âm ba thứ và hợp âm bảy át, tập thành lập các hợp âm.
Hiểu được khái niệm về thể đảo của các hợp âm, và tập chuyển các hợp âm nguyên vị sang các thể đảo, đồng thời gọi tên các thể đảo của hợp âm ba và hợp âm bảy.
CÁC HỢP ÂM CHÍNH CỦA ĐIỆP THỨC
Các bài hát, bản nhạc chúng ta quen dùng ngày nay hầu hết là được viết bằng điệu thức thứ hay điệu thức trưởng.
I – Có ba loại giọng trưởng: Trưởng tự nhiên và trưởng hòa thanh hay được sử dụng, còn giọng trưởng giai điệu ít được sử dụng hơn.

II – Có ba loại giọng thứ: Thứ tự nhiên và thứ hòa thanh hay được sử dụng, còn giọng thứ giai điệu ít được sử dụng hơn.

III – Các hợp âm ba chính
Từ bất cứ bậc nào của điệu trưởng và thứ, ta cũng có thể xây dựng được hợp âm, nhưng quan trọng nhất là các hợp âm ba xây dựng trên bậc I – IV- V của điệu thức. Người ta gọi đó là các hợp âm ba chính vì nó tiêu biểu cho tính chất của điệu thức.
Ở điệu trưởng, các hợp âm ba chính đều là hợp âm ba trưởng, ký hiệu:
T – S – D
(I) (IV) (V)

Ở điệu thức, các hợp âm ba chính đều là hợp âm ba thứ, ký hiệu:
t – s – d
(I) (IV) (V)

Trong thực tế, điệu thức hòa thanh được dùng phổ biến hơn điệu thức tự nhiên, cho nên hợp âm át (D) không phải là hợp âm thứ mà là hợp âm trưởng.

Nếu chỉ dùng các hợp âm ba chính: T-S-D (đối với giọng trưởng), và t-s-D (đối với giọng thứ), người ta có thể đệm cho các bài hát và thu hiệu quả tương đối tốt. Nhưng để tăng thêm vẻ đẹp và màu sắc cho tác phẩm, người ta còn dùng hợp âm xây dựng trên các bậc khác để đệm. Đặc biệt là hợp âm bảy xây dựng trên bậc át (bậc 5) của điệu trưởng và điệu thứ hòa thanh, mà ta quen gọi là hợp âm bảy át (Ký hiệu D7)

Ta hãy xét ví dụ sau đây:
Giả sử ta có bài hát ở giọng Đô trưởng

Hoặc ta có bài ở giọng La thứ

Qua ví dụ trên ta thấy là chỉ cần dùng hợp âm T-S-D-D7 và t-s-D-D7 là đã đệm được bài hát rồi. Hợp âm xây dựng trên bậc II-III-VI-VII cũng dùng để đệm được, nhưng nó đòi hỏi phải có sự luyện tập dần dần, và sự hiểu biết các quy luật của hòa âm, chứ không thể dùng bừa bãi. Cách sử dụng các hợp âm phụ chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn trong các bài học sau.
HÒA ÂM BỐN BÈ
Trong thực tế, khi ngồi đánh đàn là ta đã sử dụng hòa âm, tất nhiên các thức sử dụng nó đôi khi chúng ta không nghĩ tới hay là chưa biết. Bài học này sẽ giúp chúng ta cách giải quyết vấn đề đó.
Từ nhiều thế kỷ trước, các bộ lễ hay các bản Thánh ca đều hát bằng bốn bè, gọi là thể loại Acapenla. Với những bài hát ở thể loại đó, nhạc cụ đệm nhiều khi chỉ là cây đàn Óocgo ống, với chức năng phụ họa thêm bằng những hợp âm. Bởi vì loại Acapenla vừa có giai điệu của bè chính, lại vừa có hòa âm đệm của các bè còn lại. Bốn bè trong hát Acapenla được bố trí như sau:

Các bài hát ta vẫn dùng ngày nay như:
- Đêm thánh vô cùng
- Hôm nay
- Adeste
- Vinh quang Chúa Ba Ngôi
- Hà hơi thần linh
- Ai lên núi Chúa v.v…
Đều là những bài hát loại Acapenla. Nhưng nhiều khi điều kiện không cho phép ta dựng cả bốn bè. Trường hợp đó có thể ta chỉ hát bè giai điệu chính, còn phần hòa âm sẽ chuyển cho nhạc cụ đệm.
Song không phải bao giờ ta cũng có sẵn các bài bốn bè để chuyển bớt bè đệm cho nhạc cụ. Hoặc nếu bài hát chỉ có giai điệu thôi, thì ta cũng phải biết cách viết thêm bè và soạn phần đệm cho đúng. Chính vì thế ta phải biết cách viết hòa âm 4 bè.
I – Hướng đi của các bè: Cách thức tiến hành các bè đều nằm trong ba hướng đi chính
- 1 – Tiến cùng hướng: tức là cả hai bè cùng đi lên hay đi xuống.

2 – Tiến ngược hướng: một bè đi lên, bè kia đi xuống.

3 – Tiến chếch: một bè di chuyển một bè đứng yên.

Trong thực tế, khi đệm đàn hay viết bè cho bài hát, người ta kết hợp cả ba cách tiến hành bè. Như vậy sẽ tạo được hiệu quả âm thanh tốt, vì các bè khi mở rộng, khi thu hẹp, có bè ngân dài, có bè chuyển động.

II – Nối tiếp các hợp âm chính
Khi soạn phần đệm cho các bài hát, chúng ta cũng cần chú ý đến cách tiến hành bè khi nối tiếp các hợp âm với nhau.
1 – Hợp âm có quan hệ quãng 4, quãng 5: Giữa chúng có 1 âm chung, khi nối tiếp âm chung giữ nguyên ở một bên, cách nối tiếp dùng âm chung này gọi là nối tiếp theo kiểu hòa thanh.

2 – Hợp âm có quan hệ quãng 3: Hợp âm xây dựng trên bậc I với bậc III, hoặc giữa hợp âm xây dựng trên bậc IV và bậc VI…Giữa các hợp âm này có 2 âm chung, khi nối tiếp các âm chung cũng được giữ nguyên ở cùng bè (nối tiếp theo kiểu hòa thanh)

3 – Hợp âm có quan hệ quãng 2: Hợp âm xây dựng trên bậc IV với bậc V; bậc I với bậc II v.v… Các hợp âm có quan hệ quãng 2 không có âm chung. Các hợp âm này được nối tiếp theo kiểu giai điệu.

III – Tăng đôi âm trong hợp âm ba – Sử dụng hợp âm ba thiếu nốt.
1 – Tăng đôi âm: Hợp âm ba chỉ có ba âm, nếu dùng cho 4 bè thì ta phải tăng thêm âm. Thông thường âm gốc (âm 1) được tăng đôi.

Âm 5 của hợp âm cũng có thể được tăng đôi trong một số trường hợp, nhưng âm 3 thì không bao giờ được tăng đôi vì nghe sẽ cứng.
2 – Cách sử dụng hợp âm ba thiếu nốt: Không phải các bài hát hay bài đệm đàn lúc nào cũng được dùng ở dạng ba hay bốn bè. Khi viết bài hát chỉ có hai bè; khi soạn đệm cho các bài bình ca hay nhạc dân tộc, chúng ta cần thoáng, ít nốt. Trường hợp đó, ta vẫn dựa vào hợp âm ba, nhưng lược bỏ bớt âm đi, chỉ dùng hai nốt.
- Nốt gốc (âm 1): là nốt xác định tên gọi của hợp âm ta không được bỏ.
- Nốt giữa (âm 3) là nốt xác định tính chất trưởng hay thứ của hợp âm, ta cũng không được bỏ.
- Nốt ngọn (âm 5) không quan trọng bằng âm 1 và âm 3 trong việc xác định hợp âm, nên ta có thể lược bỏ trong trường hợp này.

IV – Giải quyết hợp âm bảy – Sử dụng hợp âm bảy thiếu nốt
1 – Tính chất nghịch của hợp âm bảy: Ta chỉ biết hợp âm bảy được cấu tạo bằng cách chồng thêm một quãng ba lên trên một hợp âm ba.
Hợp âm bảy át (D7) là do hợp âm át (D) cộng thêm một quãng ba thứ. Âm mới thêm này hợp với âm gốc của hợp âm làm thành quãng 7, là quãng có tính nghịch, nghe không êm tai. Do đó hợp âm D7 nghe chói tai và tạo nên sự căng thẳng nhiều hơn hợp âm D
Sự có mặt của hợp âm D7 bên cạnh hợp âm T ở các chỗ kết của đoạn hay câu nhạc, càng làm nổi bật sự tương phản giữa tính không ổn định (D7) với tính ổn định (T). Vì thế nó nhấn mạnh sự kết thúc bằng hợp âm T, tạo được cảm giác vững vàng, chững chạc hơn so với kết thúc bằng hợp âm khác.
2 – Giải quyết hợp âm bảy át: Hợp âm bảy át tạo nên tính chất xung đột căng thẳng, nó đòi hỏi tiến tới sự ổn định.
Chuyển trạng thái căng thẳng của hợp âm về trạng thái ổn định, ta gọi là sự giải quyết hợp âm nghịch.
Hợp âm D7 giải quyết về T là tốt nhất vì hợp âm T là ổn định nhất.
Khi giải quyết D7 – T, ta cần chú ý đến sức hút nửa cung từ bậc IV về bậc III và từ bậc VII về bậc I, âm chung giữ nguyên:

Như vậy khi giải quyết thì nhất thiết:

3 – Sử dụng hợp âm bảy át thiếu nốt: Hợp âm bảy át có 4 âm, nhưng trong nhiều trường hợp ta chỉ dùng 3 âm.
Khi dùng D7 thiếu nốt thì người ta bỏ âm 5, còn giữ lại âm 1-3-7

V – Một vài điều cần tránh khi tiến hành nối tiếp các hợp âm:
1 – Không nên để xảy ra quãng 5 song song, quãng 8 song song, quãng 5 ngược hướng và quãng 8 ngược hướng ở các đôi bè, vì nó tạo ra hiệu quả trống rỗng.

Lỗi song song quãng 5, quãng 8
Lỗi ngược hướng quãng 5, quãng 8
2 – Khi viết bè cho các bài hát hoặc khi soạn đệm cần chú ý để tránh các bước đi quãng 2 tăng, quãng 4 tăng ở bất cứ bè nào, đặc biệt là ở bè giai điệu và bè trầm, vì như vậy sẽ rất khó hát và nghe chói tai.

3 – Khi viết bài nhiều bè, nên để các bước đi nửa cung ở cùng một bè, nhất là với các bước đi nửa cung:

CÁC HỢP ÂM PHỤ CỦA ĐIỆU THỨC
I – Khái niệm: Như ta đã biết hợp âm xây dựng trên bậc I-IV-V của điệu thức gọi là các hợp âm chính.
Các hợp âm xây dựng trên các bậc còn lại như bậc II-III-VI-VII gọi là các hợp âm phụ. Gọi như vậy vì vai trò của chúng trong điệu thức không quan trọng bằng các hợp âm chính.
Trong thực tế, ta thường sử dụng điệu thức hòa thanh, nên ta cũng xét các hợp âm xây dựng từ các bậc của điệu thức hòa thanh và điệu trưởng tự nhiên.
Ký hiệu của các bậc chính là T-S-D (t-s-d)
Ký hiệu của các hợp âm bậc phụ là: SII – DTIII – TSVI – DVII

Các hợp âm có dấu khuyên tròn là các hợp âm nghịch, khi sử dụng phải hết sức thận trọng vì âm vang của nó nghe chói tai.
II – Nhóm công năng: Tất cả các hợp âm của điệu trưởng tự nhiên và thứ hòa thanh được chia thành ba nhóm công năng. Sự phân chia này dựa trên cơ sở âm chung giữa hợp âm chính với hợp âm phụ.

Hợp âm bậc III có cả ở nhóm át và nhóm chủ.
Hợp âm bậc VI có cả ở nhóm chủ và nhóm hạ át.
Đó là những hợp âm mang công năng kép, ký hiệu là DTIII và TSVI
Ký hiệu của hợp âm bao gồm chữ cái (S-D-T…)chỉ nhóm công năng của hợp âm và chữ số La mã chỉ bậc của hợp âm.
Ví dụ: SII tức là hợp âm xây dựng trên bậc II thuộc nhóm công năng hạ át (S).
Hay DVII tức là hợp âm thuộc nhóm công năng át (D) được xây dựng trên bậc VII của điệu thức.
III – Sử dụng hợp âm phụ: Theo cách phân chia thành nhóm công năng, ta nhận thấy mỗi hợp âm chính như T – S – D đều có hai hợp âm phụ.
Hợp âm T có hai hợp âm phụ là TSVI và DTIII
Hợp âm S có hai hợp âm phụ là DVII và DTIII
Khi soạn phần đệm, ta có thể dùng hợp âm phụ thay thế cho hợp âm chính để tăng thêm màu sắc của hòa âm. Thường thì:
- Hợp âm chủ T được thay thế bằng TSVI
- Hợp âm hạ át S được thay thế bằng SII
- Hợp âm át D được thay thế bằng DVII
Chú ý:
+ Hợp âm TSVI có công năng kép, nhưng trong đó công năng chủ chiếm ưu thế, nên nó (TSVI) được dùng để thay cho T nhiều hơn là để thay cho S
+ Hợp âm DTIII cũng mang công năng kép, song tính chất át trội hơn, cho nên nó thường được dùng để thay thế cho công năng át. Khả năng thay thế cho T của hợp âm DTIII yếu hơn của hợp âm TSVI
+ Hợp âm phụ có thể thay thế cho hợp âm chính, nhưng không có nghĩa là nó hoàn toàn có thể đại diện cho hợp âm chính được. Vì thế khi sử dụng, ta nên để xen kẽ hợp âm phụ với hợp âm chính

Không nên để toàn các hợp âm phụ liên tiếp nhau.
IV – Công năng thuận chiều: Trong ba hợp âm xây dựng trên bậc I – IV – V thì,
- Hợp âm T nghe ổn định nhất.
- Hợp âm S nghe không ổn định bằng T.
- Hợp âm D nghe căng thẳng.
Cho nên các hợp âm thường được bố trí theo chiều hướng tăng dần sự căng thẳng:
T – D – T
T – S – T
T – S – T – D – T v.v..
T – D – T – S – D – T
Khi đã tới mức độ căng thẳng thì nhất thiết phải chuyển sang trạng thái ổn định (gọi là sự giải quyết):
T—-S—-D—-T
căng thẳng
cũng có thể chỉ dùng:
T – D – T
T – S – T
T – S – T – D – T v.v..
T – D – T – S – D – T
Những cách dùng như trên gọi là sử dụng công năng thuận chiều. Khi ta soạn phần đệm nên hết sức chú ý điều này. Tuyệt đối tránh cách dùng ngược công năng như: T – D – S – T
Bởi vì khi dùng như vậy sẽ tạo nên âm hưởng không đẹp.
Dùng hợp âm phụ để thay thế cho hợp âm chính cũng cần tuân theo qui luật trên.
- Dùng bậc I – IV – V (T – S – D) làm nòng cốt.
- Dùng bậc phụ còn lại II – III – VI – VII ít, không nên dùng nhiều. Dùng các hòa âm này nhằm mục đích:
+) Tăng mầu sắc của hợp âm phụ.
+) Dùng tránh các lỗi quãng 5, quãng 8 song song và hiện tượng ngược công năng, lẽ ra là T – S – D lại bị T – D – S
Các hệ thống chính phụ, có thể thay nhau:

V – Điểm qua một vài cách sử dụng các hợp âm phụ:
1 – Hợp âm SII: Dùng trước D tạo thành kết trọn

Khi bè giai điệu tiến liền bậc đi lên bằng nét La – Si – Đô ta không dùng S – D – T được, về mặt công năng không có lỗi gì, nhưng bị lỗi quãng 5 song song bè 3 và 4, dùng hợp âm SII – D – T tránh lỗi:

2 – Hợp âm DTIII: Khi giai điệu tiến liền bậc đi xuống: Đô – Si – La, nếu ta dùng T – D – S bị ngược công năng, phải chữa là T – DTIII – S Đây là cách dùng quan trọng nhất của hợp âm DTIII

3 – Hợp âm TSVI:
Thay chủ, dùng sau D tạo nên kết ngắt. Mở rộng câu nhạc nếu muốn quay lại lần nữa (khi dạo đàn).
Dùng kết giữa bài nếu hai câu 1 và 2 đều dùng D – T. Lúc này ta nên dùng:

4 – Hợp âm DVII thay cho D về T tạo nên kết trọn.

Ta điểm chung một vài nét về việc sử dụng các hợp âm phụ, muốn dùng hay, phải tập nhiều trong các bài đàn.
ÂM NGOÀI HỢP ÂM
Trong các bài hát, khi ta soạn phần đệm thì không phải là mỗi nốt ta đều đệm một hợp âm, nhưng căn cứ vào đường nét giai điệu, để lựa chọn hợp âm và vị trí của hợp âm cho thích hợp.
Ngoài các âm nằm trong thành phần của hợp âm đệm, giai điệu còn bao gồm cả những âm không nằm trong thành phần hợp âm, đó có thể là:
- Âm lướt
- Âm thêu
- Âm sớm
- Âm muộn
Ta phải biết và phân biệt được các dạng nốt ngoài hợp âm để không bị lúng túng khi chọn hợp âm để đệm.
I – Âm lướt: Các âm ở các phần tương đối yếu của một nhịp và đi liền bậc, hầu như âm lướt lấp đi các khoảng cách giữa các âm nằm trong hợp âm – Các âm này có thể là âm tự nhiên hoặc biến âm.
Có hai loại âm lướt chính:
1 – Âm lướt đơn khi gặp hai âm chính, cách nhau một quãng 3

+) Giữa Đô xuống La (hợp âm đệm là Fa) Sib lướt
+) Giữa Fa lên La âm Son lướt.
2 – Âm lướt nằm ở giữa hai âm chính cách nhau khoảng 4 sẽ có hai âm lướt.

Từ Sơn lên Đô cách nhau quãng 4, ta đệm hợp âm Đô, lúc này La-Si lấp kín, nối hai âm trên và trở thành hai âm lướt liền bậc.
II – Âm thêu: Đặt ở phần yếu của nhịp, nằm giữa hai âm cùng tên của hợp âm cách âm đó một bậc đi lên hay một bậc đi xuống. Do tính chất này ta có:
- Âm thêu trên
- Âm thêu dưới
Nhiều người lẫn lộn giữa âm thêu và âm lướt.

Hai âm lướt, thêu, dùng nhiều trong giai điệu các bài hát cũng như đàn.
III – Âm sớm: là âm của hợp âm sau nhưng lại xuất hiện trước (ở thời gian yếu).

Lẽ ra, âm Đô phải đệm hợp âm Đô, nhưng nó xuất hiện trước (ở hợp âm Son) và ở thì yếu. Ta coi như âm ngoài hợp âm gọi là âm sớm.
IV – Âm muộn: Là âm nằm ở thì mạnh hoặc tương đối mạnh, mặc dù đã đổi sang hợp âm khác rồi mà âm này vẫn ngân muộn sang, thường dùng liền bậc.

MỘT VÀI LỐI KẾT CƠ BẢN
I – Khái niệm: Trong văn học, người ta dùng dấu chấm, dấu phảy để phân biệt từng câu, từng ý. Có như vậy bài viết mới mạch lạc, rõ nghĩa. Trong âm nhạc cũng vậy, người ta có thể phân biệt được câu nhạc, đoạn nhạc, căn cứ vào kết.
Trong các bài hát, ta hay gặp các loại kết:
- Kết đoạn là kết ở cuối đoạn nhạc, ở cuối của điệp khúc hay cuối tiểu khúc.
- Kết nửa là kết ở giữa của đoạn nhạc. Có thể gặp kết nửa ở giữa tiểu khúc hay ở giữa điệp khúc.

II – Các kiểu kết cơ bản:
1 – Kết đoạn là kết thúc, là “chấm hết” đoạn nhạc, nên phải rõ ràng, dứt khoát. Vì vậy, kết đoạn thường dùng hợp âm ổn định là hợp âm T. Kết bằng hợp âm T có mấy dạng như sau:
a) Kết chính cách: Trước hợp âm T là hợp âm D D – T

b) Kết biến cách: Trước hợp âm T là hợp âm S S – T

c) Kết hoàn toàn: Ở dạng kết này hợp âm T phải đứng ở phách mạnh, giai điệu là âm chủ (âm 1), hợp âm S hay D đứng trước T phải là hợp âm nguyên vị.

d) Kết không hoàn toàn: Nếu thiếu một trong những điều kiện của kết hoàn toàn sẽ trở thành kết không hoàn toàn.

2 – Kết nữa (còn gọi là kết mở) là chấm dứt một phần của đoạn nhạc, để rồi tiếp tục tiến tới chỗ dừng hẳn ở cuối đoạn. Vì thế kết nửa thường dùng hợp âm không ổn định là S hay D.
Kết bằng hợp âm không ổn định (S, D) có mấy dạng như sau:
a/ Kết nửa chính cách là kết bằng hợp âm D.
b/ Kết nửa biến cách là kết bằng hợp âm S.

3 – Kết ngắt (còn gọi là kết tránh) là kết bằng hợp âm TSVI Trong kiểu kết này hợp âm TSVI thay thế chỗ của hợp âm T, vì thế sẽ phải đàn tiếp để về được T là hợp âm ổn định.
Kết ngắt dùng để mở rộng, kéo dàu đoạn nhạc.

4 – Chú ý:
a/ Kết nửa thường dùng hợp âm S hay D nhưng cũng có thể dùng hợp âm T, điều đó là do giai điệu quyết định.
Ngược lại kết đoạn luôn luôn dùng hợp âm bậc chủ (T).
b/ Hợp âm TSVI dùng ở kết ngắt nhưng nó cũng có thể dùng kết ở giữa bài (tức là kết nửa).
MỘT VÀI ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI SOẠN ĐỆM
I – Lựa chọn hợp âm:
1 – Muốn chọn hợp âm cho đúng, trước hết ta phải xác định được giọng điệu của bài hát:
Bài ở giọng trưởng hay giọng thức
Bài ở một giọng hay giữa bài lại xảy ra chuyển giọng.
Nếu là chuyển giọng, cần xác định được chỗ bắt đầu chuyển giọng mới để thay đổi hợp âm đệm, tránh tình trạng bài đã chuyển giọng mới mà vẫn đệm bằng những hợp âm của giọng cũ, thường gặp những lối chuyển giọng như sau:
- Chuyển sang giọng song song có cùng hóa biểu với giọng cũ như:

- Chuyển sang giọng cùng tên (giọng đối nhau) như:

2 – Cần nghe kỹ giai điệu để lựa chọn hợp âm, vì bản thân giai điệu nhiều khi đã gợi ý cho ta phải dùng hợp âm nào.

- Khi nghe giai điệu, nên chú ý tới các nốt nằm ở phách mạnh hay phần mạnh của phách. Ở phần yếu hay ở phần yếu của phách thường là cá âm ngoài hợp âm, những nốt đó ta có thể bỏ qua.Trong ví dụ (54) nốt “Rê” là nốt thêu, nốt “La” là nốt lướt, nốt “Fa” là nốt sớm.
- Hết sức tránh việc thay đổi để hợp âm ở phách yếu hay phần yếu của phách. Nên thay hợp âm ở những chỗ phách mạnh, đầu nhịp hay là ở phần mạnh của phách.
VD 55:

3 – Nếu bài hát viết ở giọng thứ, khi đệm ta dùng

Nếu ở điệu thứ tự nhiên thì:
- Khi giai điệu có âm bậc VII, ta đệm bằng hợp âm d hoặc d7 (hợp âm thứ)
- Khi giai điệu không có bậc VII, ta có thể dùng hợp âm D hoặc D7 (hợp âm trưởng) để đệm.
Hợp âm bậc III và bậc VII ở thứ tự nhiên là hợp âm thuận, có thể dùng nó để thay thế cho hợp âm chính.
Ở thứ hòa thanh, nếu dùng hợp âm bậc III và bậc VII phải hết sức thận trọng vì nó là hợp âm nghịch.

II – Lựa chọn hình thức đệm:
Cách thức để đệm cần phụ thuộc vào tính chất vui, buồn, êm đềm, hùng tráng, trang nghiêm…của bài hát.
1 – Nếu bài ở nhịp 2/4 thì
- Với bài vui ta dùng hình thức

- Với bài buồn:

2 – Nếu bài ở nhịp 3/4 thì:
- Với bài êm đềm:

- Với bài trang nghiêm:

3 – Nếu bài ở nhịp kép như 4/4 hoặc 6/8…. ta cũng coi như là hai nhịp đơn.
4/4 = 2/4 + 2/4
Khi đệm cũng như đệm nhịp đơn 2/4 hoặc 3/4 đối với nhịp 4/4 hoặc 6/8, chỉ trừ những trường hợp ngoại lệ, còn nói chung chỉ nên sử dụng một hopwjj âm cho một nhịp. Không nên thay đổi nhiều hợp âm trong một nhịp, vì nghe sẽ rườm rà, nặng nề.
III – Xác định câu đoạn của bài hát: Nói phải có lúc nghỉ, viết phải có chỗ ngắt ý, có như vậy nghe mới mạch lạc, sáng sủa.
1 – Để nắm vững hình thức của các tác phẩm lớn thì phải học hỏi nhiều. Nhưng với những bài hát bình thường, ta cũng có thể căn cứ vào lời ca để tìm ra chỗ kết câu, kết đoạn của bài hát được.
Ta hãy xem bài “Dâng bánh”
VD 57: Êm đềm

Trong ví dụ này ta thấy kết câu (kết nửa), kết đoạn xảy ra trùng hợp với chỗ chấm để kết thúc một ý nghĩa mà lời ca diễn tả:
“Đây Bánh Thánh! Đây rượu……
………dâng lên Chúa nhân lành.
“Đây Thánh lễ! Đây……
……..Chúa hãy ban phép lành.
2 – Dựa vào ý của lời ca để p hân câu trong âm nhạc, ta có thể làm theo cáchđó. Nhưng tốt hơn cả vẫn là căn cứ vào giai điệu của bài để phân chia. Có mấy dấu hiệu ta cần lưu ý khi phân chia câu nhạc là:
- Dấu lặng
- Dừng lại ở nốt bậc V hay bậc I có trường độ tương đối dài so với âm xung quanh.
- Một nửa độ dài của đoạn nhạc cũng thường là chỗ hết một câu. Ví dụ đoạn dài 16 nhịp thì kết câu thường ở nhịp thứ 8, hay là phần điệp khúc của bài “Dâng bánh” trong ví dụ trên, tất cả dài 18 nhịp, thì kết câu (kết nửa) ở nhịp thứ 9 v.v….
Ghi nhớ: Kết câu bằng D, kết đoạn bằng D7 – T
Trên đây là đơn cử vài dấu hiệu, một vài cách thức để tìm được chỗ phân chia câu trong đoạn nhạc. Trong thực tế sẽ có nhiều dạng, nhiều dấu hiệu khác nữa của sự phân chia câu nhạc.Chú ý lắng nghe, cố gắng thực hành, kiên trì học hỏi chúng ta sẽ dần dần thành thạo hơn.
IV – Cách xếp đặt các bè:
1 – Việc lựa chọn khoảng cách giữa các bè là một nghệ thuật, bởi vì chọn được khoảng cách thích hợp thì các bè sẽ vang lên hòa hợp, đẹp đẽ cân đối.
Ta nên làm theo lối “trên liền – dưới cách” tức là:
- Tay phải có giai điệu chính, nên xếp bè theo quãng hẹp như quãng 3, quãng 4 hoặc quãng 2. Như vậy nghe sẽ không bị rỗng.
2 – Thay đổi hợp âm khi đệm nên cố gắng tạo được sự nối tiếp:
- Hai hợp âm có âm chung thì nên giữ âm chung ở cùng bè.
- Hai hợp âm không có âm chung (như S – D) thì cố gắng để các bè tiến liền bậc (q.2, q.3) tránh nhảy xa quá.
3 – Nên bố trí đan xen sự ngân dài và sự di chuyển giữa các bè, nhất là bè trầm và bè giai điệu. Nếu bè trầm ngân dài, bè giai điệu nên di chuyển linh hoạt, và ngược lại.
Tránh lối tiến hành cùng hướng giữa bè giai điệu với bè trầm. Tốt nhất là tạo nên sự thêu đan đi lên, đi xuống giữa tay phải và tay trái.
V – Ký hiệu hợp âm đệm bằng chữ cái:
Trong nhiều bài hát mới sáng tác, người ta thường sử dụng các ký hiệu bằng chữ cái để ghi hợp âm. Cách này rất thuận lợi cho người mới tập đệm còn chưa thông thạo cách chọn hợp âm. Chỉ cần nhìn ký hiệu hợp âm, đàn đúng hợp âm là đạt yêu cầu về mặt hòa âm.

Lối ký hiệu hợp âm này dùng chữ cái để chỉ nốt gốc của hợp âm, kèm theo chữ M hoặc m để chỉ tính chất của hợp âm như:
Cm: hợp âm Đô thứ
AM: hợp âm La trưởng
Bm: hợp âm Si thứ
BbM: hợp âm Si giáng trưởng …
F#m: hợp âm Fa thăng thứ …
Cũng có khi người ta dùng chữ cái hoa để chỉ hợp âm trưởng, chữ cái thường chỉ hợp âm thứ, như vậy không cần chữ M hay m nữa.
E: hợp âm Mi trưởng
g: hợp âm Son thứ
Nếu là hợp âm bảy hay thể đảo của hợp âm ba, người ta dùng chữ số ghi cạnh chữ cái chỉ hợp âm.

Gặp những bài có sẵn hợp âm đệm, ta có thể dùng những hợp âm như đã chỉ dẫn. Nhưng cũng có thể ta dùng những hợp âm khác nếu như ta cảm thấy nó hay hơn. Dù cách nào chăng nữa thì vẫn phải tôn trọng sự hợp lý khi sử dụng các hợp âm và hiệu quả thực tế của hợp âm khi nó vang lên.




















