Phần I: Học nhạc – Nhạc lý

Phần “Nhạc lý” được trích từ cuốn sách “Học nhạc, học đàn và học hát” xuất bản năm 1989 của Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn.

————————————

KHÁI NIỆM ÂM NHẠC

I – Định nghĩa

Âm nhạc là bộ môn nghệ thuật dùng âm thánh để thể hiện tư tưởng và tình cảm của con người, thể hiện những khía cạnh rất tinh tế bằng ngôn ngữ của âm thanh. Cũng chính vì vậy đối tượng chủ yếu của những người học và làm công tác âm nhạc là phải cảm thụ cho được ngôn ngữ âm thanh này.

II – Những đặc tính của âm nhạc

Âm thanh trong âm nhạc có bốn đặc tính cơ bản: cao độ, trường độ, cường độ và âm sắc.

1 – Cao độ là độ cao thấp của âm thanh

2 – Trường độ là độ ngắn dài của âm thanh

3 – Cường độ là độ mạnh nhẹ của âm thanh

4 – Âm sắc là tính chất khác biệt giữa hai âm thanh có cùng cao độ, trường độ và cường độ (tiếng đàn, tiếng hát có giọng thanh, giọng ấm, giọng đục, giọng trong).

III – Ký âm

Âm nhạc được ghi lại bằng những ký hiệu và những quy ước chung. Có những ký hiệu sau đây:

1 – Khuông nhạc là 5 đường kẻ ngang song song cách đều nhau.

  • Khoảng cách giữa các đường kẻ gọi là khe, có bốn khe.
  • Đường kẻ và khe đều đếm từ dưới lên trên.

Ví dụ:

2 – Vị trí nốt trên khuông nhạc

Tùy theo vị trí của dòng nhạc, nốt ở các vị trí đó sẽ tượng trưng cao độ của âm thanh. Nốt ở phía dưới có âm thanh trầm, nốt ở phía trên có âm thanh cao hơn.

3 – Đường kẻ phụ và khe phụ

  • Đường kẻ phụ là những đường kẻ ngắn chỉ đủ ghi một nốt đặt ở phía dưới hay phía trên khuông nhạc, cáchd dều khoảng như khuông nhạc, để ghi những nốt có âm thanh cao thấp vượt ngoài phạm vi của dòng nhạc.
  • Khoảng các giữa các đường kẻ phụ là khe phụ.
  • Đường kẻ phụ và khe phụ được đếm từ phái dòng nhạc trở ra.

4 – Nốt nhạc là hình bầu dục rỗng hay đặc, có đuôi hoặc không đuôi để ghi cao độ. Có 7 nốt nhạc chính, nếu đọc lần lượt theo thứ tự từ thấp lên cao, ta có:

Đô – Rê – Mi – Fa – Son – La – Si

Thế kỷ XI, một tu sĩ người I-ta-li-a tên là Ghi Đa-rê-đô (1000 – 1050) lấy tên các nốt nhạc là lấy ra từ các vần đầu trong bài thơ ca ngợi Thánh Gio-an: Ut, Rê, Mi, Fa, Son, La, Si.

Vào thế kỷ XVII, ông Đô-ni, người thành Phơ-lô-răng-xơ (I-ta-li-a), đã thay tên Ut bằng tên Đô là vần đầu của tên ông, để khi ngân thì âm được vang hơn và dễ phát âm.

Ngày nay, người ta còn dùng các ký hiệu bằng chữ La-tin để gọi tên các nốt nhạc:

Đô –Rê –Mi –Fa –Son –La –Si
C –D –M –F –G –A –B

5 – Khóa nhạc là dấu hiệu đặt ở đầu khuông nhạc để xác định tên gọi của các nốt ghi trên đó. Có 3 loại khóa nhạc:

  • Khóa Son đặt tại đường kẻ thứ hai:
  • Khóa Đô đặt ở đường kẻ thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ bốn, gọi là khóa Đô 1, Đô 2, Đô 3, Đô 4:
  • Khóa Fa đặt ở đường kẻ thứ bốn:

Khóa đặt ở đường kẻ nào thì nốt đặt ở trên đường kẻ ấy mang tên của khóa.

Các nốt đặt trên khuông nhạc khóa Son:

IV – Xướng âm: là đọc lên những dấu hiệu đã ghi chép (các nốt nhạc).

Đọc các nốt nhạc sau đây cho đúng cao độ:

Bài xướng âm số 1

———————————–

TRƯỜNG ĐỘ

I – Bảy hình nốt

1 – Giá trị tương quan giữa các nốt

Mỗi một hình nốt, theo thứ tự, bằng một nửa nốt đứng trước nó và gấp đôi nốt đứng sau nó. Ví dụ: Nốt đen bằng nửa nốt trắng và gấp đôi nốt móc đơn. Nốt tròn là hình nốt có giá trị lớn nhất, nó bằng hai nốt trắng, bằng 4 nốt đen, bằng 8 nốt móc đơn, bằng 16 nốt móc kép, bằng 32 nốt móc tam và 64 nốt móc tứ.

2 – Bảng giá trị tương quan giữa các nốt

II – Nhịp – Phách – Số báo nhịp

1 – Nhịp là những phần chia nhỏ của bản nhạc nằm giữa 2 vạch nhịp.

Trong một tác phẩm âm nhạc, các nhịp bằng nhau về giá trị trường độ.

Ví dụ:

Trong ví dụ trên, các nhịp đều có giá trị bằng trường độ của nốt trắng.

2 – Phách là phần trường độ chia đều của nhịp. Nhịp 2/4 được chia thành hai phần đều nhau, ta gọi là nhịp có 2 phách. Nhịp 3/4 gồm 3 phần đều nhau, ta nói nhịp đó có 3 phách.

Khi ta đọc xướng âm, mỗi phách thường là một gõ. Nếu lấy đơn vị nốt đen là một phách (một gõ), thì nốt trắng bằng 2 phách và nốt móc đơn là nửa phách.

3 – Số báo nhịp là phân số ghi ở đầu bản nhạc, bên cạnh khóa nhạc.

Tử số: Chỉ số lượng phách của ô nhịp

Mẫu số: Chỉ giá trị của mỗi phách trong ô nhịp đó bằng mấy phần của nốt tròn.

Ví dụ:

Nhịp 2/4: con số 2 cho ta biết mỗi ô nhịp có 2 phách. Con số 4 cho ta biết giá trị của mỗi phách bằng 1/4 nốt tròn (bằng một nốt đen).

Nhịp 3/8: tức là mỗi ô nhịp có 3 phách, và giá trị của mỗi phách là 1/8 nốt tròn (tức là mỗi phách bằng một nốt móc đơn).

Nhịp 2/4: là nhịp có 2 phách, phách đầu mạnh, phách sau nhẹ.

Bài xướng âm số 2

Bài xướng âm số 3

———————

DẤU LẶNG – CHẤM DÔI

I – Dấu lặng

Là chỗ ngắt, nghỉ, im lặng trong bản nhạc. Tuy vậy, vẫn phải gõ nhịp. Người ta dùng 7 hình dấu lặng tương ứng với 7 hình nốt về trường độ.

II – Chấm dôi

Là một chấm ở cạnh bên phải nốt. Nốt có chấm dôi trường độ dài thêm ra 1/2 nốt ấy nữa.

Bài xướng âm số 4

Bài xướng âm số 5

——————————–

NHỊP LẤY ĐÀ – DẤU LUYẾN – DẤU NỐI – VẠCH NỐI LIỀN

I – Nhịp lấy đà

Là nhịp bắt đầu bằng phách nhẹ nằm ở đầu bản nhạc, nhịp đó thiếu số phách quy định có thể có một hay nhiều nốt.

Ví dụ:

II – Dấu luyến

Là một vòng cung nối liền hai hoặc nhiều nốt có cao độ khác nhau.

Ví dụ:

III – Dấu nối

Nối liền 2 nốt hoặc nhiều nốt cùng cao độ. Khi chỉ đọc nốt đầu rồi ngân hết trường độ các nốt sau.

Ví dụ 1:

Ví dụ 2:

IV – Vạch nối liền

Thường nối từ 2, 3 nhịp trở lên, trong vạch nối liền có thể có cả dấu nối, dấu luyến, đọc liền không lấy hơi giữa chừng.

Ví dụ:

Bài xướng âm số 6

—————————-

MỘT SỐ DẤU LÀM ĐƠN GIẢN CÁCH VIẾT

I – Dấu quay lại

Có nhiều loạn, dùng ký hiệu nào thì quay lại tìm ký hiệu đó. Hai loại thường dùng:

1 – Đọc lại đoạn này một lần nữa

2 – Tác dụng như dấu trên, thường dùng cho đoạn lớn hơn

II – Dấu nhảy

Khi đọc lại một đoạn nhạc nào đó, phần cuối đoạn có thay đổi một chút ít, để kết thúc ta dùng dấu nhảy.

Lần thứ nhất đọc từ đầu bài qua ô ghi số 1 đến vạch kép thì quay lại đọc từ đầu đến trước ô ghi số 1, rồi đọc tiếp từ ô ghi số 2 cho đến hết.

III – Dấu Cô-đa

Gặp dấu Cô-đa khi đọc lại lần thứ 2 thì bỏ dấu  thứ nhất đến dấu  thứ 2 rồi đọc tiếp.

IV – Dấu ngân nghỉ tùy ý

Dấu này đặt trên nốt nhạc nào, nốt ấy ngân dài tùy ý. Dấu này đặt trên dấu lặng nào nghỉ dài tùy ý.

Chữ Da capô viết tắt là DC, có nghĩa là đọc lại bản nhạc từ đầu cho đến hết hoặc gặp chữ “hết” (Fine).

Bài xướng âm số 7

Bài xướng âm số 8

———————————–

CHÙM NỐT

Trường độ các nốt hơn kém nhau 2 lần.

Lối chia này không thỏa mãn được các loại tiết tấu, vì vậy cần có loại phân chia chùm nốt đặc biệt.

Hai loại phân chia cơ bản:

I – Loại phân đôi chia ba

II – Loại phân ba chia đôi

Ngoài ra, còn có một số chùm nốt khác nhưng thông dụng nhất là loại

Điều cần nhớ là dưới chùm phải có số 3, nếu không ghi số, phách trong nhịp sẽ bị coi là thừa hoặc thiếu.

Bài xướng âm số 9

——————————-

CUNG – DẤU HÓA

I – Cung và 1/2 cung

Từ nốt nọ tới nốt kia có khoảng cách nhất định về cao độ, khoảng cách này không đều nhau. Trong bát độ tự nhiên sau đây, ta thấy có 2 khoảng cách tự nhiên chỉ có nửa cung, còn lại là một cung.

II – Dấu hóa

Dùng để xê dịch cao độ lên hoặc xuống từng nửa cung.

1 – Có 5 loại dấu hóa

  1. Dấu # nâng cao độ lên nửa cung
  2. Dấu b hạ cao độ xuống nửa cung
  3. Dấu  xóa ảnh hương của tất cả các dấu để trở về vị trí cũ
  4. Dấu thăng kép x nâng cao độ lên hai nửa cung
  5. Dấu giáng kép bb hạ cao độ xuống hai nửa cung

2 – Có hai cách dùng dấu hóa

  1. Dấu hóa vĩnh viễn: đặt sau khóa nhạc, ở đầu bản nhạc hoặc sau gạch đôi (||) có giá trị suốt cả bài.
  • Dấu hóa bất thường: đặt trước nốt nhạc nào thì có ảnh hưởng từ nốt đó tới tất cả các nốt trùng tên trong nhịp đó.

Bài xướng âm số 10

—————————–

ĐẢO PHÁCH

Đảo phách: là sự đảo lộn bất thường. Trong đảo phách, phách mạnh hay phần phách mạnh chuyển thành phách nhẹ hay phần phách nhẹ, hoặc ngược lại.

Có ba trường hợp đảo phách:

I – Đảo phách chẵn

Là đảo từng phách. Khi xướng âm đảo phách lẻ thì nhấn mạnh vào phần phách nhẹ, rồi ngân nhẹ sang phần phách mạnh.

Đảo phách lẻ xảy ra giữa 2 nốt có trường độ khác nhau:

Trong ca khúc thường hay gặp đảo phách

Bài xướng âm số 11

——————————

NGHỊCH PHÁCH

I – Nghịch phách

Là phách mạnh hay phần của phách mạnh thay thế bằng dấu lặng, tạo nên cảm giác bất thường, không ổn định làm bản nhạc thêm phong phú.

Trong bài hát, bài đàn hay gặp:

II – Nhịp 4/4 hay ký hiệu C

Là loại nhịp có 4 phách, phách một mạnh, phách hai nhẹ, phách ba mạnh vừa, phách bốn nhẹ.

Bài xướng âm số 12

—————————

MỘT SỐ DẤU, TỪ GHI CƯỜNG ĐỘ SẮC THÁI VÀ NỐT TÔ ĐIỂM

I – Từ ghi cường độ

pp:rất nhẹ(pianissimo)
p:nhẹ(piano)
mp:hơi mạnh(mezzo-piano)
f:mạnh(forte)
ff:thật mạnh(fortissimo)
fp:Mạnh rồi nhẹ ngay(forte-piano)

Dấu _ () đặt trên nốt nào, nốt ấy đánh cường độ vang đều cả nốt.

Dấu . () đặt trên nốt nào, thì đọc rời, gọn.

Dấu > () đặt trên nốt nào, thì to rồi nhỏ ngay.

II – Từ chỉ tốc độ

Rall: chậm dần lại (rallentando)

Rit: chậm đột ngột (ritenuto)

Atempo: trở lại tốc độ cũ

Ba từ này dùng cho 3, 4 nhịp.

III – Từ chỉ sắc thái

  • Cantabile: như hát, du dương
  • Conmoto: linh hoạt, linh động
  • Dolce: mềm mại, dịu dàng
  • Grandioso: lộng lẫy, huy hoàng
  • Funebre: bi ai, buồn thảm
  • Con dolore: với sự đau xót
  • Energico: đầy nghị lực

IV – Nốt tô điểm

Là nốt dùng để trang sức cho giai điệu. Nốt tô điểm viết nhỏ hơn nốt chính, không tính vào phách.

1 – Nốt luyến ngắn

  1. Nốt luyến ngắn một âm
  • Nốt luyến ngắn 2 âm
  • Nốt luyến ngắn 3 âm

2 – Móoc đăng

3 – Nốt luyến dịu

4 – Láy rền

5 – Hợp âm rải

Ngoài ra có thể ghi chữ arpeggiato mà không cần ghi làn sóng, thôi rải ghi non arpeggiato. Mục đích của các ký hiệu trên nhằm giúp cho người biểu diễn thể hiện đúng tình cảm của bài, đúng ý của tác giả, nếu ta xem thường sẽ làm mất sắc thái hoặc hát bài hát rất ngô nghê, không có phong vị gì đặc biệt.

——————————

QUÃNG

I – Quãng là gì ?

Quãng là sự liên kết của hai âm thanh.

  • Hai âm thanh cùng phát ra một lúc là quãng hòa thanh
  • Hai âm thanh phát ra lần lượt gọi là quãng giai điệu

II – Quãng cơ bản trong một gam (thang âm)

III – Quãng cơ bản: Trưởng – Đúng – Số cung

Quãng 10 cunglà quãng đồng âm(Đồ – Đồ)
Quãng 21 cunglà quãng trưởng(Đồ – Rê)
Quãng 32 cunglà quãng trưởng(Đồ – Mi)
Quãng 42 cung 1/2là quãng đúng(Đồ – Fa)
Quãng 53 cung 1/2là quãng đúng(Đồ – Son)
Quãng 64 cung 1/2là quãng trưởng(Đồ – La)
Quãng 75 cung 1/2là quãng trưởng(Đồ – Si)
Quãng 86 CUNGlà quãng đúng hoàn toàn 

IV – Quãng thứ và số cung

Quãng thứ là quãng trưởng bớt đi 1/2 cung

Quãng đúng không bao giờ có trưởng, thứ

Tên quãng không cố định cho các nốt cụ thể, mà bất cứ nốt nào cũng có thể lấy làm gốc để tính quãng và gọi tên quãng.

Chú ý: Đừng bao giờ thấy # tưởng quãng trưởng, hoặc thấy b bảo là quãng thứ. Quãng trưởng, thứ, đúng, tính theo số cung quy định.

V – Quãng tăng

Là quãng trưởng và đúng, thêm 1/2 cung

Dấu + là quãng tăng

VI – Quãng giảm

Dấu – là quãng giảm

Nhịp 3/4 là nhịp có 3 phách – phách là một mạnh, hai phách sau yếu.

Bài xướng âm số 13

——————————

GAM

I – Gam

Là sự sắp xếp các âm thanh từ chủ âm thấp lần lượt đến chủ âm cam hoặc ngược lại. Khởi đầu bằng nốt gì, gam mang tên nốt đó.

Có nhiều gam khác nhau theo tập quán, thẩm mỹ của từng dân tộc, từng địa phương. Ở Việt Nam trong chèo cổ, dân ca phổ biến loại gam 5 âm:

Tuy vậy, chúng ta học gam thông dụng cho tất cả các nước là gam 7 âm. Ta làm quen với gam Đô trưởng, sau đây, vốn là gam tự nhiên.

Sự khác nhau giữa gam Trưởng và gam Thứ sẽ học trong bài điệu thức.

II – Số cung bậc và tên nốt

Bậc I bao giờ cũng được gọi là chủ âm hoặc nốt chủ.

III – Âm ổn định

Những âm bậc I – III – V là những âm ổn định và làm trục cho gam, chúng ấn định mầu sắc của gam, biểu hiện sự hoàn thành ý nhạc, tạo ra cảm giác kết thúc câu, đoạn.

IV – Âm ít ổn định và không ổn định

Những âm bậc II – IV – VII là những âm ít ổn định và không ổn định, luôn luôn bị hút về âm ổn định. Những âm này hầu như không bao giờ có mặt ở những chỗ kết thúc, những chỗ ổn định.

Bài xướng âm số 14

——————–

THÀNH LẬP GAM CÓ DẤU # VÀ b

Ta hãy xét mẫu gam sau đây và cũng là 2 gam gốc, cơ sở cho sự thành lập các gam khác.

I – Gam Đô trưởng tự nhiên

Ta thấy quan hệ giữa các bậc liên tiếp từ âm chủ bậc I đến âm chủ bậc VIII, có quan hệ số cung như sau và cũng gọi là công thức thành lập gam trưởng bất kỳ.

1c – 1c – 1/2c – 1c –1c – 1c – 1/2c

Lấy bất cứ nốt nào làm bậc chủ ta so đọ cho đúng công thức trên sẽ được gam trưởng tự nhiên.

1 – Ví dụ: Lấy âm Rê làm bậc chủ (bậc 1)

Ta được gam Rê trưởng, gam này có một dấu giáng là Sib.

II – Gam La thứ tự nhiên

Ta thấy từ bậc chủ lần lượt có quan hệ quãng và là công thức thành lập gam thứ tự nhiên như sau:

1c – 1/2c – 1c – 1c –1/2c – 1c – 1c

Lấy bất cứ âm nào làm bậc chủ so đọ đúng công thức trên sẽ cho ta gam thứ tự nhiên.

1 – Ví dụ: Lấy âm Si làm bậc chủ

Ta được gam Si thứ có 2 dấu thăng là Fa # và Đô #

2 – Ví dụ: Lấy âm Rê làm bậc chủ

Ta được gam Rê thứ có 1 dấu giáng là Sib

III – Kết luận

  • Việc thành lập gam trưởng và gam thứ, ta có thể lấy bất kỳ âm nào để chọn làm chủ.
  • Sự xuất hiện dấu #, dấu b là do yêu cầu của việc dịch lên, dịch xuống cao độ, cho phù hợp với công thức lập gam mà ta cần có.

Sau này người ta tìm ra quy luật xuất hiện thứ tự các dấu thăng, giáng cho hệ thông.

Bài xướng âm số 15

—————————-

TRẬT TỰ DẤU HÓA

Như ta đã lập gam Trưởng, gam Thứ ở bài trước, việc xuất hiện dấu hóa là điều tất nhiên do yêu cầu xê dịch điều chỉnh cho cao độ giữa các bậc theo đúng công thức lập gam.

Đối tượng của bài này là chúng ta xem xét và hệ thống về vấn đề xuất hiện các dấu thăng, giáng theo quy luật nào, và trên cơ sở nào.

Nếu nói tới gốc của gam trưởng bao giờ chúng ta cũng có gam Đô trưởng và gam thứ là La thứ. Chúng là đại diện đơn giản nhất vì chúng không có # và b. Sau khi chọn đủ các âm để lập gam, người ta thấy rằng:

I – Thành lập gam trưởng

1 – Nếu lấy bậc V của gam Đô T lập gam mới, ta có gam Son T, xuất hiện Fa #, và cứ như vậy ta sẽ lần lượt thấy xuất hiện thêm các dấu #.

2 – Nếu lấy bậc IV của gam Đô T lập gam mới, ta có gam Fa T, xuất hiện Si b, và cũng như vậy sẽ lần lượt xuất hiện thêm các dấu b khác.

II – Thành lập gam thứ

Ở gam thứ cũng như vậy, nếu lấy bậc V, sẽ xuất hiện gam mới có #, và bậc IV sẽ có dấu b và thứ tự cũng bắt đầu từ Fa # và Si b.

III – Kết luận

  • Gam trưởng hay gam thứ đều có thể xuất hiện dấu # hay dấu b
  • Dấu # đầu tiên bao giờ cũng là Fa #
  • Dấu b đầu tiên bao giờ cũng là Si b

+) Trật tự lần lượt của dấu # là: Fa# – Đô# – Son# – Rê# – La# – Mi# – Si#

+) Trật tự lần lượt của dấu b là: Sib – Mib – Lab – Rêb – Sonb – Đôb – Fab

Trật tự này ngược lại với dấu #:

—————————-

BẢNG SO SÁNH CÁC GAM TRƯỞNG VÀ THỨ CÙNG HÓA BIỂU

I – Các gam có dấu thăng

II – Các gam có dấu giáng

Bài xướng âm số 16

Bài xướng âm số 17

—————————–

ĐIỆU THỨC

I – Trong âm nhạc, yếu tố cao độ của âm thanh đóng vai trò rất quan trọng, khi ta hát có dấu cao, dấu thấp đó là cao độ, nếu hát bài hát chỉ có một độ cao thì chẳng khác gì đọc đều đều. Vậy điệu thức chính là sự biểu hiện tính tổ chức về mặt cao độ trong tác phẩm.

  • Ta thấy gam là sự sắp xếp lần lượt từ thấp đến cao và ngược lại. Các âm thanh này lần lượt trở thành các bậc của gam.
  • Nếu lấy Đô làm nốt bắt đầu, nó sẽ là chủ âm và gam sẽ mang tên là gam Đô
  • Nếu gam Đô này là gam trưởng (Đô T), đó chính là vấn đề thuộc về điệu thức (Điệu trưởng, điệu thứ)
  • Có rất nhiều điệu thức khác nhau, mỗi dân tộc, mỗi thời đại lại có những kiểu điệu thức khác nhau. Có khi 7 âm, 5 âm, 4 âm … 12 âm.

II – Điệu thức có hai mặt

1 – Sự vận động của điệu thức: là sự cụ thể hóa điệu thức vào trong giai điệu, trong tác phẩm. Ta thấy giai điệu là do các quãng tạo nên, mà là quãng giai điệu. Mối liên quan giữa các quãng này chính là sự vận động của điệu thức.

Bản thân giai điệu lại được tạo nên do sự kết hợp của các âm ổn định (I – III – IV) và những âm không ổn định bao quanh. Điều này rất quan trọng. Mặt khác còn kết hợp với quan hệ về mặt bè trong khi đồng tấu.

2 – Màu sắc của điệu thức: (điệu trưởng – điệu thứ)

Mầu sắc của điệu thức được quyết định bởi bậc I với bậc III, nếu là quãng 3 trưởng thì gam ấy sẽ là điệu trưởng. Nếu là quãng 3 thứ thì gam ấy là điệu thứ.

Vì vậy, bậc I – III – V là bậc ổn định thì bậc III nắm vai trò ấn định mầu sắc của gam, của điệu thức.

Bài xướng âm số 18

Bài xướng âm số 19

—————————

TÌM GAM CHO MỘT BẢN NHẠC

I – Tìm gam cho một bản nhạc đơn giản

Bản nhạc đơn giản là bản nhạc kết bằng chủ âm (bậc I) và chỉ có một gam. Muốn tìm gam cho bản nhạc đơn giản phải căn cứ vào hai điều kiện là hóa biểu và nốt kết thúc. Khi xét hóa biểu, ta thấy xảy ra ba trường hợp:

1 – Trường hợp hóa biểu “KHÔNG”: Một hóa biểu bao giờ cũng có hai gam trưởng, thứ (vì trật tự dấu hóa không phải chỉ xuất hiện qua việc lập gam trưởng mà còn xuất hiện qua việc lập gam thứ). Hóa biểu “KHÔNG” cũng có hai gam là Đô T và La t. Nếu nốt kết thúc bản nhạc là La, thì bản nhạc sẽ là gam La t, nếu là Đô thì sẽ là Đô T.

2 – Trường hợp hóa biểu là dấu #: Lấy # cuối cùng trong hóa biểu để

  • Nâng lên Q2t (1/2c) để tìm gam T
  • Hạ xuống Q2T (1c) để tìm gam t

Sau đó, xem nốt kết thúc để khẳng định gam.

Ví dụ: Bài hát có hai dấu Fa# Đô#. Muốn tìm gam T, ta lấy Đô# nâng lên một Q2t (1/2c) là Rê, vậy gam trưởng là Rê T. Còn muốn tìm gam thứ, ta lấy Đô# hạ xuống một Q2T (1c) là Si, vậy gam thứ là Si t.

Muốn biết bản nhạc là Rê  hay Si t, ta phải xem nốt kết. Nếu nốt kết thúc là Si, bản nhạc sẽ là Si t, còn nếu là Rê thì bản nhạc sẽ là gam Rê T.

3 – Trường hợp hóa biểu là dấu b: Lấy b cuối cùng trong hóa biểu để

  • Nâng lên Q3T (2c) để tìm gam t
  • Hạ xuống Q4Đ (2 1/2c) để tìm gam T

Ví dụ: Bài hát có hai dấu Si b Mi b. Muốn tìm gam thứ, ta lấy Mi b nâng lên Q3T (2c) là Son, vậy gam thứ là Son t. Còn muốn tìm gam T, lấy Mi b hạ xuống quãng 4Đ là Si b thì gam trưởng sẽ là Si b T.

Muốn kết luận bản nhạc gam gì phải xem nốt kết thúc. Nếu là Son thì bản nhạc sẽ là gam Son t, còn nếu là Si b thì bản nhạc sẽ là gam Si b T.

II – Tìm gam cho một bản nhạc phức tạp (bản nhạc không kết bằng chủ âm, bản nhạc có nhiều gam)

1 – Trường hợp bản nhạc có đổi gam và đổi hóa biểu vẫn căn cứ vào dấu hóa biểu và nốt kết để tìm gam theo từng đoạn, để đi đến kết luận bản nhạc có mấy gam.

Ví dụ:

2 – Trường hợp bản nhạc không kết bằng chủ âm muốn tìm gam phải qua 4 bước:

  1. Xét dấu hóa
  2. Xét nốt kết
  3. Lập âm ổn định của cả hai gam T, t
  4. Đọc giai điệu

Ví dụ:

B.1 Xét hóa biểu Si b: Rê t, Fa T

B.2 Nốt kết La không kết bằng âm chủ

B.3 Lập âm ổn định của cả Rê t và Fa T:

+) Rê t: Rê – Fa – La

+) Fa T: Fa – La – Đô

B.4 Đọc giai điệu gam Rê t kết ở bậc V

B.1 Xét hóa biểu Fa #: Son T, Mi t

B.2 Xét nối kết Si không kết bằng chủ âm

B.3 Lập âm ổn định của cả hai gam Son T và Mi t:

+) Mi t: Mi – Son – Si

+) Son T: Son – Si – Rê

+) B.4 Đọc giai điệu gam Son T kết ở bậc III

3 – Trường hợp bản nhạc có đổi gam nhưng không đổi hóa biểu vẫn căn cứ vào hóa biểu và nốt kết để tìm gam, nhưng phải coi trọng bước đọc giai điệu.

Ví dụ:

Nhìn qua sẽ có thể vội vàng kết luận bản nhạc trên gam Đô T, nhưng nếu đọc kỹ giai điệu sẽ thấy dòng đầu chỗ dựa của giai điệu, không phải là các âm Đô – Mi – Son, mà là các âm ổn định La – Đô – Mi của gam La t. Từ đó, ta rút ra rằng, bản nhạc này có hai gam, dòng đầu La t, dòng sau Đô T.

Nói tóm lại, muốn tìm gam chính xác phải coi trọng hàng đầu, vấn đề đọc giai điệu. Phải phối hợp tất cả các trường hợp để tìm gam. Nếu chỉ đơn thuần xét hóa biểu và nối kết để xác định gam, thì nhiều khi không tìm được chính xác.

Bài xướng âm số 20 (Nếu dùng A group of musical notes
AI-generated content may be incorrect. có thể viết thành A black and white image of a musical note
AI-generated content may be incorrect.)

Bài xướng âm số 21

——————————–

GIỌNG – DỊCH GIỌNG

I – Giọng

Nói đến giọng là nói đến gam + điệu thức và vị trí cụ thể về cao độ của chủ âm. Khi nói đến giọng là nói đến bài hát, tức là âm thanh không còn sắp xếp thứ tự như ở gam.

II – Dịch giọng

Rất cần thiết cho cả người hát cũng như cho đàn. Dịch giọng là sự xê dịch cao độ của bài hát từ giọng này sang giọng khác, để thích hợp cho giọng hát hay nhạc cụ.

Khi dịch giọng, cần chú ý:

1 –  Giai điệu không thay đổi

2 – Quãng, số cung của các nốt không đổi

3 – Nhịp điệu không đổi

4 – Các dấu chỉ cường độ, sắc thái không đổi

5 – Khi dịch giọng hóa biểu #, b có thay đổi, nhưng điệu trưởng vẫn là trưởng và điệu thứ vẫn là thứ.

6 – Dấu hóa bất thường có thể thay đổi

III – Các bước tiến hành dịch giọng

Có 5 bước chính khi tiến hành dịch giọng:

1 – Xác định giọng của giọng cũ, căn cứ: Hóa biểu và Nốt kết.

2 – Tìm giọng mới

3 – Thành lập gam mới để tìm hóa biểu

4 – Xê dịch cao độ các nốt nhạc

5 – Điều chỉnh các nốt #, b bất thường giữa hai giọng cũ và mới theo yêu cầu dịch giọng

Nếu làm tốt 5 bước trên, cần nắm vững và xem lại bài trước về Cung – Dấu hóa – Công thức lập gam – Công thức tìm giọng

Bài xướng âm số 22

—————————

CÁC DẠNG BÀI MẪU DỊCH GIỌNG

Sau đây là các dạng bài mẫu dịch giọng từ đơn giản đến phức tạp, để chúng ta tham khảo quá trình tiến hành dịch giọng.

I – Dạng 1

Dịch câu nhạc sau đây lên quãng 2 trưởng

Ta sẽ tiến hành thử 4 bước như trên:

Bước 1: Hóa biểu có Si b, nốt kết là Fa => Bài giọng Fa trưởng.

Bước 2: Dịch lên quãng 2 trưởng (tức là 1c) => Vậy Fa T lên 1 cung thành Son T

Bước 3: Lập gam, căn cứ công thức trưởng.

Bước 4: Xê dịch nốt nhạc theo quãng 2 và theo giọng mới có Fa #

Bước 5: Điều chỉnh các nốt có #, b bất thường cho đúng 1 cung (Q2 trưởng)

Fa T

Son T

Ta thấy dạng bài này đơn giản nhất vì mới chỉ xê dịch dấu # đi với dấu b đi với dấu b, dấu  đi với dấu

Chú ý: Trên đây trình bày thứ tự theo 5 bước để làm mẫu, khi dịch ở nháp. Chỉ cần bước 5, là kẻ hai dòng trên, dưới, rồi chỉnh luôn như đã làm.

II – Dạng bài 2

Bài dịch giọng sau đây sẽ cho ta làm quen với các dấu khi dịch khác nhau, chẳng hạn b với  hoặc b với b, và  với #. Đó là dạng bài 2.

Dịch câu nhạc này lên quãng 2 trưởng (1 cung)

Tiến hành:

  • Bài giọng Đô T vì: Hóa biểu không có #, b; Nốt kết là Đô
  • Lên quãng 2T là 1 cung, tức là từ Đô T lên Rê T
  • Gam Rê T có hai # là Fa # và Đô #
  • Xê dịch các nốt trong câu nhạc lên quãng 2 trưởng
  • Điều chỉnh #, b bất thường

Bài xướng âm số 23: Dùng nốt phụ tô điểm

Bài xướng âm số 24

III – Dạng bài 3

Dịch xuống quãng 3 trưởng

Dịch lên quãng 2 thứ

Dịch lên quãng 3 trưởng

Bài xướng âm số 25: Nhịp 2/2

Bài xướng âm số 26

IV – Dạng bài 4,5

1 – Dạng bài 4

Giọng Đô T, hoặc La t, là giọng đơn giản, chỉ việc dịch theo yêu cầu.

Dịch xuống quãng 3 trưởng

2 – Dạng bài 5

Giọng Đô T hay La t là giọng đơn giản không phải lập gam tìm hóa biểu.

Xuống quãng 3 thứ

Nhịp 6/8 là nhịp có hai phách, mỗi phách bằng , phách đầu mạnh, phách sau nhẹ.

Bài xướng âm số 27

V – Dạng bài 6

Bài dịch giọng này sử dụng đến dấu thăng kép và giáng kép để điều chỉnh.

Dịch lên quãng 3 trưởng

Nhịp 3/8 là nhịp có ba phách, mỗi phách bằng , phách một mạnh, phách 2, 3 nhẹ.

Bài xướng âm số 28

——————————

DỊCH GIỌNG – DẠNG BÀI PHỨC TẠP, CHỨA ĐỰNG NHIỀU GIỌNG KHÁC NHAU

Cũng có khi ta gặp những bài hát trong một bài chứa đựng nhiều giọng khác nhau.

Ví dụ:

1 – Bài Đô trưởng – La thứ; Son trưởng – Mi thứ => Chung nhau hóa biểu.

2 – Bài Đô trưởng – Đô thứ; Mi thứ – Mi trưởng => Giọng đối nhau

3 – Nốt kết không phải là bậc chủ (I)

Lúc này, ta phải rất chú ý đến nốt trục là bậc I – III – V, vì tỉ lệ các bậc này rất cao trong giọng, kết hợp với âm kết ta tìm mới ra được, phải đọc kỹ giai điệu của bài.

  • Với bài dùng giọng đối nhau, nốt trục cũng như nhau chỉ khác hóa biểu.
  • Với bài không dùng bậc I kết, ta phải tìm nốt trục I – III – V. Sau đó, xem nốt kết là bậc mấy của gam. Ta coi như âm kết thúc này tránh kết âm chủ do dụng ý của bài.
  • Ta sẽ lấy bậc I để tính bình thường như mọi khi.

I – Bài sử dụng hai giọng song song (chun hóa biểu)

Khi gặp dạng bài này, chú ý nhất đến cấu tạo giai điệu các nốt trục bậc ổn định I – III – V tỉ lệ lớn hơn các bậc kia, cần lập ra trục của gam. Có bài các chỗ kết của giọng đầu lại là bắt đầu của giọng sau, nên chú ý đến trục ổn định nhiều hơn.

Ta thấy đoạn đầu rất nhiều nốt Đô – Mi – Son là bậc ổn định của Đô T. Khi sang đoạn 2 xuất hiện La – Đô – Mi là bậc ổn định của gam La t. Đến đoạn 3 lại trở về Đô trưởng.

II – Bài sử dụng hai giọng đối nhau (Trưởng – Thứ)

Bài dạng này khi đổi giọng hay thay đổi hóa biểu nên dễ nhận ra chỗ kết hoặc bắt đầu, nốt trục giống nhau, chỉ khác bậc III để đổi màu sắc trưởng hay thứ thôi.

Dạng bài này đọc giai điệu lên cũng đã phân biệt khác rõ rồi.

Ta thấy rằng, nốt trục của hai đoạn đều là bậc ổn định I – III – V (Son – Si – Rê), các âm kết đều là bậc chủ. Nửa đầu hóa biểu có Fa #, đoạn này là giọng Son trưởng. Nửa sau bỏ Fa# dùng 2 dấu b là Si b, Mi b, đoạn này là Son thứ. Hai giọng này đối nhau.

III – Có bài do yêu cầu thể hiện nội dung nên không dùng nốt kết là bậc chủ, mà lại dùng bậc V hoặc bậc III để kết, tạo nên cảm giác không trọng vẹn, hoặc kết tránh bậc chủ đi.

IV – Kết luận

Từ những vấn đề trên, ta thấy việc đọc đi, đọc lại giai điệu, thiết lập trục ổn định I – III – V, là vấn đề rất quan trọng, bài phải dựa vào đó mà làm sườn để phát triển.

Khi gặp ba dạng bài trên, phải xác định giọng cho đúng từng đoạn, sau đó tiến hành dịch bình thường, chỉ khác ở chỗ phải dịch làm nhiều lần khác nhau về giọng, chư skhông thuần như bài một giọng.

Với những người đánh đàn, khi gặp một bài hát mà tầm âm quá cao hoặc quá thấp, thì nên có một tập sách mong dịch giọng sẵn, cho phù hợp với những người hát. Giả sử các bài có những nốt thấp như từ Là đến Mí thì vừa hơn cả:

Nếu là trẻ em hát, không nên hát quá cao, có thể từ:

Nếu các em hát thấp quá nốt Son thì sẽ không còn nghe rõ nữa, và cao quá Đố, sẽ bị lạc tiếng.

Trong bộ Thánh Ca của Tòa Tổng Giám mục Hà Nội có các bài sau đây nên dịch thấp xuống

Tập I:

  • Rất Thánh Trái Tim – Fa T nên xuống (1 cung 1/2): Rê T
  • Thờ lạy Chúa Giêsu – Fa T nên xuống (1 cung 1/2): Rê T
  • Ca Thánh Thể VII – Fa T nên xuống (1 cung 1/2): Rê T

Tập II:

  • Hát lên mừng Chúa – Fa T nên xuống (1 cung 1/2): Rê T

Tập III:

  • Ai lên núi Chúa – Si b T xuống (1 cung 1/2): Son T
  • Hội nhạc Thiên quốc – Fa T xuống (1 cung 1/2): Rê T
  • Vực sâu – La t xuống (2 cung 1/2): Mi t

———————–

KHÓA FA DÙNG CHO NGƯỜI HỌC ĐÀN

Với những người đánh đàn có phần đệm ở tay trái, chúng ta phải làm quen với khóa Fa (âm vực thấp).

Khóa Fa hay dùng hiện nay, điểm bắt đầu ở dòng kẻ thứ 4 từ dưới lên. Từ đó, ta sẽ tính lên xuống theo trật tự nốt, bậc quy định.

Từ vị trí quy định này, ta sẽ có các nốt nằm ở khe và ở đường kẻ của khóa Fa.

Nốt nằm ở trên đường kẻ:

Nốt nằm ở khe:

Với hàng kẻ phụ phía trên:

Với hàng kẻ phụ phía dưới:

Như vậy, so sánh cao độ giữa khóa Son và khóa Fa như nhau:

Hai nốt Đô bằng nhau về cao độ ở giữa hai khóa.

BÀI TẬP XƯỚNG ÂM TÊN NỐT

Bài 1:

Bài 2:

Bài 3:

Bài 4:

Bài hát cộng đồng

giải thích thánh vịnh

giới thiệu bài hát mới

những hướng dẫn khác

ALBUM MẪU DÂNG HOA 2025

Nhạc Lý

nhạc kèn

Tài liệu tham khảo

Lên đầu trang