Phụng vụ Thánh Thể

161. Phụng vụ Thánh Thể gồm 3 phần chính: Chuẩn bị Lễ phẩm, Kinh nguyện Thánh Thể, và Hiệp lễ.

Chuẩn bị Lễ phẩm

162. Sau khi sửa soạn bàn thờ xong, một vài người trong cộng đoàn phụng vụ mang bánh và rượu đến cho vị linh mục hoặc phó tế. Khi rước Lễ phẩm lên thì hát Ca tiến lễ và kéo dài bài hát ít là cho tới khi đặt lễ phẩm trên bàn thờ. Quy luật về cách hát Ca Tiến lễ cũng giống như cách hát Ca Nhập lễ. Ca Tiến lễ được hát như sau: hoặc luân phiên giữa ca đoàn và cộng đoàn, hoặc luân phiên giữa một ca viên và cộng đoàn, hoặc tất cả do cộng đoàn hát, hay do một mình ca đoàn hát mà thôi. Có thể dùng điệp ca Graduale Simplex; hoặc dùng bản hát khác phù hợp với cử hành phụng vụ, với tính chất của ngày lễ, hay mùa phụng vụ. Bản văn bài hát này phải được Hội đồng Giám mục chuẩn nhận. Có thể hát đối đáp giữa chủ tế và cộng đoàn theo bản văn của Sách lễ Rôma.  

163. Ngay cả khi không rước Lễ phẩm, nghi thức tiến lễ luôn có thể có bài hát kèm theo. Dạo đàn lúc này cũng thích hợp.

164. Đoạn linh mục đọc một Lời nguyện trên Lễ phẩm (Lời nguyện tiến lễ). Ngay cả khi không hát lời nguyện, thì cũng nên hát câu kết thúc lời nguyện Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con cùng với lời đáp của cộng đoàn.

Kinh nguyện Thánh Thể

165. Kinh Nguyện Thánh Thể là điểm trung tâm và chóp đỉnh của toàn bộ việc cử hành Thánh lễ. Liên kết cộng đoàn với mình và nhân danh tất cả cộng đoàn, vị tư tế đọc lời Kinh nguyện Thánh Thể dâng lên “Chúa Cha, qua Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần.” Qua Kinh nguyện Thánh Thể toàn thể cộng đoàn tín hữu kết hiệp với Đức Kitô mà tuyên xưng những kỳ công của Thiên Chúa và hiến dâng hy lễ. Kinh nguyện Thánh Thể đòi buộc mọi người lắng nghe với lòng kính trọng trong thinh lặng, họ tham dự trọn vẹn khi lên tiếng liên kết với vị chủ tế trong những lời tung hô.

166. Kinh nguyện Thánh Thể là một hành vi phụng vụ riêng biệt gồm những yếu tố: lời đối đáp mở đầu, kinh Tiền tụng, kinh tung hô Thánh, Thánh, Thánh, kinh Cầu xin Chúa Thánh Thần, lời Tường thuật việc lập Bí tích Thánh Thể, lời Tung hô tưởng niệm, kinh Kính nhớ, lời Chuyển cầu và Vinh tụng ca kết thúc với lời Tung hô Amen.

167. Để làm cho tính duy nhất của phần Kinh nguyện Thánh Thể được nổi bật, đề nghị phải có tính duy nhất về thể loại cho những yếu tố âm nhạc trong Kinh nguyện, nhất là kinh Thánh, Thánh, Thánh, Tung hô tưởng niệm và tiếng Amen trọng thể. Khi hát những phần như lời đối đáp mở đầu kinh Tiền tụng và chính kinh Tiền tụng, nên cố gắng chọn bậc giọng sao cho phù hợp với cung thể của những phần khác của Kinh nguyện Thánh Thể.

168. Kinh nguyện Thánh Thể bắt đầu bằng lời đối đáp giữa linh mục và cộng đoàn. Lời đối đáp này diễn tả sự hiệp thông với nhau khi dâng tiến hy lễ Thánh Thể. Các tín hữu “tạ ơn Thiên Chúa và dâng lên Người lễ phẩm tinh tuyền, không những nhờ tay linh mục, nhưng còn cùng với ngài.” Lời đối đáp mở đầu kinh Tiền tụng là một trong những lời đối đáp quan trọng nhất của Thánh Lễ, vì thế rất nên hát, nhất là vào ngày Chúa nhật và các dịp long trọng khác.

169. Cộng đoàn tham dự vào Kinh nguyện Thánh Thể bằng cách chăm chú lắng nghe những lời được linh mục đọc lên hay hát lên và liên kết tâm trí họ với những tác động trong phần Kinh nguyện. Mọi người nên đồng thanh hát lên các câu tung hô trong Kinh nguyện Thánh Thể, gồm có kinh Thánh, Thánh, Thánh là lời tung hô ca ngợi của cả hoàn vũ; câu Tung hô Tưởng Niệm là lời của các tín hữu dự phần vào việc kính nhớ Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Sau Vinh tụng ca của linh mục, cộng đoàn thưa Amen để tỏ lòng đồng thuận với toàn bộ Kinh nguyện Thánh Thể. Cộng đoàn nên hát những lời tung hô này, nhất là trong các ngày Chúa nhật và lễ trọng.

170. Kinh nguyện Thánh Thể là động tác trọng tâm của toàn bộ cử hành, do đó nếu có thể, linh mục nên hát ít ra là những phần mà sách lễ Rôma (bản La-tinh) đã ghi nốt nhạc, vào ngày Chúa nhật và những dịp lễ trọng. Những phần này bao gồm lời đối đáp mở đầu kinh Tiền Tụng, lời mời gọi Tung hô tưởng niệm, và Vinh tụng ca kết thúc Kinh nguyện. Không được phép đọc thầm Kinh nguyện Thánh Thể trước khi kinh Thánh, Thánh, Thánh chấm dứt

171. Cũng là việc linh mục nên làm là hát toàn bộ Kinh nguyện Thánh Thể, nhất là trong các dịp lễ trọng. Các bản hát đã được trù liệu trong Sách lễ và những cung điệu khác cũng được phép sử dụng nếu đã được Hội đồng Giám mục chuẩn nhận. Trong khi linh mục đọc lớn tiếng Kinh nguyện Thánh Thể thì không được đọc lời nguyện khác hay hát, không được sử dụng đại phong cầm và các nhạc cụ khác trừ khi đệm đàn cho cộng đoàn tung hô.

172. “Thật đáng ca ngợi khi tất cả các vị đồng tế cùng đồng thanh hát lên những phần có ghi nốt nhạc trong Sách lễ.”

Nghi thức Hiệp lễ

173. Đỉnh cao của phần Hiệp lễ là việc rước lễ. Có một số nghi thức chuẩn bị cho các tín hữu rước Mình Máu Thánh Chúa như của ăn thiêng liêng.126

Kinh Lạy Cha

174. Các nghi thức chuẩn bị cho phần Rước lễ được bắt đầu bằng Kinh Lạy Cha. Nếu hát Kinh Lạy Cha thì mọi tín hữu cùng hát với linh mục; sau đó một mình ngài đọc tiếp kinh khẩn xin, và giáo dân kết thúc bằng lời chúc vinh: “Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời”. Nếu có thể, linh mục cũng nên hát lời mời gọi vào Kinh lạy Cha và kinh khẩn xin sau Kinh lạy Cha.

175. Tiếp theo sau Kinh Lạy Cha và việc Chúc bình an là cử chỉ Bẻ Bánh, “cử chỉ Bẻ Bánh đã trở thành tên gọi cho cả Thánh lễ vào thời các Tông đồ” và nghi thức này “nói lên rằng, các tín hữu đông đảo làm nên một thân thể127 nhờ thông phần cùng một tấm bánh ban sự sống là Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ thế gian.”128 Đang khi bẻ Bánh thì hát “Lạy Chiên Thiên Chúa – Agnus Dei”, rồi linh mục mời gọi Đây Chiên Thiên Chúa… sau đó linh mục và các tín hữu rước Mình Máu Chúa. Kết thúc phần Hiệp lễ bằng lời nguyện kết lễ.

Chúc bình an

176. Một thời gian ngắn rất cần thiết để chào chúc bình an cho nhau nhưng không được hát bài nào nhằm kéo dài nghi thức này.

Bẻ Bánh và Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa

177. Lạy Chiên Thiên Chúa là bài ca khẩn nài được hát khi bẻ Bánh. Bài ca này “được ca đoàn hay ca xướng viên hát hay ít là đọc lớn tiếng và cộng đoàn đáp lại. Kinh này đi kèm với việc bẻ Bánh, vì thế có thể lặp đi lặp lại nếu cần cho đến khi bẻ Bánh xong. Lần cuối cùng được kết thúc bằng câu xin ban bình an cho chúng con.”

Khi Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa được hát lặp đi lặp lại như kinh cầu, thì có thể dùng những lời khẩn cầu quy hướng về Chúa Kitô với những bản văn khác. Trong trường hợp này lời khẩn cầu đầu tiên và cuối cùng luôn phải là Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội … xin ban bình an.

Ca Hiệp lễ

178. “Đang khi vị linh mục rước lễ, thì hát Ca Hiệp lễ. Bài ca này có mục đích diễn tả sự hiệp nhất thiêng liêng ngay giữa những người rước lễ, khi họ đồng thanh ca hát, đồng thời biểu lộ niềm vui trong lòng, và làm cho việc tiến lên rước Mình Thánh Chúa có tính cách cộng đoàn hơn.”. Ca Hiệp lễ kéo dài suốt thời gian các tín hữu rước lễ. Một mình ca đoàn hát, hoặc ca đoàn hay ca xướng viên hát với cộng đoàn. Vì bài Ca Hiệp lễ diễn tả sự hiệp nhất của những người tiến lên rước Mình Máu Chúa, nên cần phải ưu tiên việc hát cộng đồng.

179. Về Ca Hiệp lễ, có thể dùng đối ca theo ngày lễ trong sách Graduale Romanum, hoặc dùng điệp ca theo mùa phụng vụ trong sách Graduale Simplex, hoặc bài hát nào khác thích hợp đã được Hội đồng Giám mục chuẩn nhận.

Luôn luôn có thể hát Thánh vịnh 33 với điệp khúc Hãy nếm thử thay thế ca Hiệp lễ (x. Thông cáo số 3/94, ngày 30.8.1994, của UBTN-HĐGMVN)

180. Khi tuyển chọn bài Ca Hiệp lễ phù hợp cho bữa tiệc Thánh Thể là nơi Thiên Chúa tuôn đổ dạt dào phúc lành của Người, nên tìm những bản văn có chủ đề về niềm vui, niềm ngưỡng mộ, sự hiệp nhất, lòng biết ơn và tán tụng. Theo truyền thống phụng vụ Rôma xưa, Ca Hiệp lễ có thể nói lên những chủ đề của bài Tin Mừng trong ngày lễ hay mùa phụng vụ. Trong khi cộng đoàn lên rước lễ, cũng rất thích hợp là bài hát phản ánh động tác phụng vụ, thí dụ ăn và uống Mình và Máu Thánh Chúa Kitô.

181. Là bài hát dùng cho phần rước lễ, bài Ca Hiệp lễ có những khó khăn riêng khi thể hiện. Ca Hiệp lễ giúp các tín hữu nắm bắt được một cách sâu xa hơn tính cách cộng đoàn trong việc tiến lên rước lễ. Để cổ vũ sự tham gia của tín hữu khi “họ đồng thanh ca hát,” nên hát Thánh vịnh theo kiểu đáp ca hoặc dùng những bài ca có điệp khúc dễ nhớ. Thông thường, các điệp khúc cần được giới hạn về số lượng và thường được lặp đi lặp lại, nhất là ở câu mở đầu để những câu hát này trở nên quen thuộc đối với tín hữu.

182. Khi việc rước lễ kéo dài, nên hát thêm bài hát khác nữa. Trong trường hợp này, có thể nối kết bài hát dành cho cộng đoàn và bài hát dành cho một mình ca đoàn. Ca đoàn nào có khả năng thì có thể lấy Ca Hiệp lễ trong sách Graduale Romanum và hát theo kiểu bình ca hay đa âm, hoặc sử dụng những bài hợp xướng thích hợp. Cũng có thể sử dụng nhạc cụ đơn tấu hoặc hòa tấu để thúc đẩy tinh thần hiệp nhất và vui mừng. Nếu sau khi Rước lễ còn hát thêm bài nào nữa, thì phải kết thúc “vào đúng lúc.” Sau khi Rước lễ, cũng nên dành cho toàn thể cộng đoàn ít giây phút thinh lặng cầu nguyện.

183. Theo dòng các mùa phụng vụ trong năm, nên chọn Thánh vịnh hoặc bài ca khi rước lễ theo tinh thần của từng mùa. Vào hầu hết các lễ Chúa nhật và những ngày khác, luôn luôn là thích hợp khi chọn hát một trong những Thánh vịnh mà bao đời nay có nội dung gắn kết với việc tham dự bữa tiệc Thánh Thể, như Thánh vịnh 23, 34 và 147. Cũng đã có sẵn một tuyển tập những bài ca phụng vụ có ý diễn tả niềm vui và lòng say mến khi được chia sẻ bữa tiệc của Chúa.

184. Hãy sắp đặt sao cho những người đảm trách việc ca hát (các ca viên, người đệm đàn) “cũng rước lễ một cách thuận tiện.”135 Bài Ca Hiệp lễ phải được bắt đầu ngay khi linh mục rước lễ, vì thế ca đoàn có thể rước lễ khi kết thúc hoặc sắp kết thúc việc rước lễ.

Bài ca sau khi rước lễ

185. “Sau khi cho rước lễ, linh mục và cộng đoàn tùy nghi cầu nguyện một khoảng thời gian nào đó. Nếu muốn, tất cả cộng đoàn có thể hát một thánh thi, một Thánh vịnh, hay một bài thánh ca ngợi khen nào khác.”136 Bài ca sau khi rước lễ nên giúp cộng đoàn tập trung vào mầu nhiệm Thánh Thể mà họ vừa tham dự, và đừng bao giờ để cho bài ca ấy khiến cộng đoàn chú ý thái quá vào ca đoàn hay những người phụ trách ca nhạc. Cộng đoàn có thể đứng trong khi hát bài ca sau rước lễ nếu bài ca ấy có vẻ cần đến tư thế cầu nguyện này.

186. Linh mục có thể hát lời nguyện Hiệp lễ, hoặc chỉ hát câu kết thúc (Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con). Khi kết thúc lời nguyện, toàn thể cộng đoàn hát lời Amen để tỏ ý tán thành.

Nghi thức Kết lễ

187. Nhất là ngày Chúa nhật và dịp lễ trọng khác, linh mục có thể hát lời ban phép lành và cộng đoàn hát lời thưa Amen, phó tế hoặc linh mục hát câu giải tán cộng đoàn (Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an), và cộng đoàn hát lời Tạ ơn Chúa.

188. Mặc dầu không cần thiết phải hát thánh ca ra về, nhưng nếu có thói quen ấy, thì tất cả có thể hát chung một bài ca sau lời giải tán. Khi hát bài ca này, đoàn rước các thừa tác viên rời khỏi cung thánh khi sắp kết thúc bài hát. Ngoài ra, cộng đoàn có thể ra về trong tiếng đàn dạo đơn tấu hay hòa tấu; riêng trong Mùa Chay thì nên thinh lặng ra về (như không được chưng hoa trên bàn thờ, dùng nhạc cụ để đệm hát, nhằm làm nổi bật ý nghĩa phụng vụ mùa chay).

Những bài ca không được phép đổi bản văn và những bài ca được phép thích ứng

189. Các bản văn: Trước tiên, nên nhớ rằng: trong phụng vụ bản văn chi phối âm nhạc, chứ không phải âm nhạc chi phối bản văn. Đó là luật chung. Do đó khi sáng tác hoặc sử dụng bài hát trong Thánh lễ, cần phân biệt:

a) Bản văn cố định: Không được thay đổi vì bất cứ lý do gì các bản văn thuộc nghi thức Thánh lễ như: các lời cầu nguyện của chủ tế, bộ lễ, Thánh vịnh Đáp ca, các lời tung hô, các lời đối đáp giữa linh mục hoặc phó tế với cộng đoàn, kinh Tiền Tụng, Kinh nguyện Thánh Thể, kinh Lạy Cha… phải theo sát bản văn đã được HĐGM chuẩn nhận, được Tòa Thánh châu phê và được in trong sách lễ Rôma.

b) Bản văn được thích ứng: Những bản văn khác như: Ca Nhập lễ, Ca Dâng lễ, Ca Hiệp lễ “được thích ứng khi phiên dịch sao cho hợp với tinh thần của ngôn ngữ và đòi hỏi của sáng tác”.

Ngoài ra, còn được thay thế các bài hát này bằng các bài hát khác đã được HĐGM chuẩn nhận vào việc này.

190. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma cũng cho phép: để dân chúng có thể hát Thánh vịnh Đáp ca dễ dàng, một số bản văn đáp ca và Thánh vịnh đã được lựa chọn cho từng mùa trong năm hoặc cho từng loại lễ, để mỗi khi hát đáp ca, có thể dùng các bản văn này thay cho bản văn hợp với bài đọc liên hệ. Sách Lectionarium, cuốn 1, trang 861-874 có liệt kê các bản văn và các Thánh vịnh đó.

Còn tiếp…

Trích: Hướng dẫn mục vụ Thánh nhạc – Ủy ban Thánh nhạc HĐGMVN

Bài hát cộng đồng

những hướng dẫn khác

Nhạc Lý

nhạc kèn

Tài liệu tham khảo

giới thiệu bài hát mới

giải nghĩa thánh vịnh

Scroll to Top