
Phần “Nhạc bình ca” được trích từ cuốn sách “Học nhạc, học đàn và học hát” được xuất bản năm 1989 của ĐHY Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn.
———————
MỘT VÀI NÉT VỀ NHẠC BÌNH CA[1]
Trong phụng vụ, việc sử dụng nhạc điệu bình ca trong các bài thánh ca là rất quan trọng. Hầu như mỗi cảm xúc ở lời ca đều từ Kinh Thánh mà ra. Giáo Hội đã lấy nhạc điệu bình ca làm nòng cốt trong các lễ nghi từ xưa tới nay, điều này rất phù hợp với mọi nghi thức cử hành trọng thể trong cả năm phụng vụ của Giáo Hội. Vì vậy cũng cần phải nói qua đôi nét về đặc điểm riêng của nhạc điệu bình ca.
Bình ca bắt nguồn từ những bài hát đơn điệu mộc mạc, giản dị có tính chất ngâm vịnh. Giai điệu được hát lên trên cơ sở mối tương quan các âm nối tiếp nhua thành những quãng đơn điều dàn ra theo chiều ngang, không dựa trên cơ sở hòa âm của phương tây như ta thấy ngày nay. Nhạc điệu bình ca không phải dành riêng cho một người hát mà nhiều người cùng hát trong đội đồng ca.
Giáo Hội đã nhiều lần cải biên, chỉnh lý và đặt ra những quy luật làm nên Thánh nhạc chính thức của Giáo Hội Rô-ma, cũng như cho toàn thể các nhà thờ công giáo thế giới.
Vào thời trung cổ, âm nhạc Hy-lạp đã có những ảnh hưởng đến các bài hát trong nghi lễ, khiến Giáo Hội quan tâm đặc biệt để tạo cho mình có một thứ nhạc thuần khiết về mặt tín ngưỡng, và phải tương xứng với yêu cầu của phần lời ca. Vì thế, Giáo Hội đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển chung của nền âm nhạc phương tây, và thiết lập một thể loại nhạc riêng lấy tên là bình ca.
Trước hết, Giáo Hội đã phổ nhạc vào các Thánh vịnh trong Kinh Thánh. Từ chỗ hát một giọng, sau này nảy nở rất phong phú các hình thức xen kẽ giữa bè chính và các bè phụ trong các bản Thánh thi. Nhưng nếu cứ để mức độ phát triển tự do sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, nên Giáo Hội đã cố gắng tìm ra một thể nhạc duy nhất. Đức Thánh Cha Gơ-re-goa thứ nhất đã chỉnh đốn lại nhạc bình ca.
Khi lên ngôi Giáo hoàng (590 – 604), Thánh Gơ-re-goa đã gạt bỏ mọi yếu tố pha tạp làm mất chất giản dị, thuần khiết của những bài bình ca lúc bấy giờ, nâng lên thành bản nhạc có giá trị về nghệ thuật cũng như về phụng vụ. Tập bài hát phụng vụ của người không chỉ là những bản hát tôn giáo cổ xưa, được chỉnh lý lại, mà điều quan trọng hơn cả là làm cơ sở cho việc sáng tạo những hình thức Thánh nhạc mới, mà ta quen gọi là những bài hát Gơ-re-goa. Những bài hát này giữ tính chất đơn điệu, không có nhịp điệu, tiết tấu, thực tế trở thành một thứ bình văn về âm nhạc, mỗi vần tương đương với một nốt hay một nhóm nốt đều đều, chỉ có trường độ quy tụ vào những nốt lên xuống liền nhau, không có những quãng quá lớn, đột biến, tránh kịch tính.
Bài hát bình ca Gơ-re-goa thực sự đã bảo vệ sự xâm nhập của dòng nhạc đời vào thánh nhạc, giữ gìn sự tinh khiết, trong sạch và thống nhất trong cả Giáo Hội.
Thánh nhạc phải mang ý nghĩa tinh khiết cao cả, thánh thiện, phổ cập, để phục vụ đắc lực cho các nghi thức Thánh lễ. Không phải chỉ có bài hát mang những tính chất đó, mà những người hát cũng phải truyền đạt những điều tốt đẹp ấy đến tai người nghe. Không được để những gì phàm tục làm vẩn đục các nhân tố tích cực này.
Muốn cho Thánh nhạc thấm vào tâm hồn người nghe, ngoài thể nhạc bình ca, các dân tộc có thể dựa vào Kinh Thánh mà sáng tác những Thánh ca riêng cho mình, miễn là phải thật sự xứng đáng với tinh thần mà Giáo Hội đã quy định.
Thật vậy, Giáo Hội trên khắp thế giới đều nhận thấy rằng, Thánh nhạc là linh hồn của nghi lễ, có sức thuyết phục lớn lao làm cho những trái tim khô héo trở nên tươi mát tốt lành.
Hy vọng chúng ta cố gắng tập hát và sáng tác Bình ca để mọi người nghe rõ lời, hiểu được ý nghĩa và thêm lòng sốt sắng, còn nếu luôn hát nhạc phương tây thì có một số bài khi hát nghe không rõ lời, không hiểu ý nghĩa, và không sinh ích về phần thiêng liêng.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I – Nốt
Bảy tên nốt để chỉ cao độ trong bình ca: Đô – Rê – Mi – Fa – Son – La – Si
II – Hình nốt:
Tất cả các nốt đều có giá trị bằng nhau.
III – Khuông nhạc
Có bốn dòng kẻ chính và các dòng kẻ phụ.

IV – Khóa nhạc
Có hai loại khóa nhạc: Khóa Đô và khóa Fa
1. Khóa Đô: Có 3 loại: Đô 1, Đô 2, Đô 3

2. Khóa Fa: Có 2 loại: Fa 1, Fa 2

V – Gam
Dùng gam 7 nốt: Đô – Rê – Mi – Fa – Son – La – Si
VI – Quãng
Thường chỉ dùng trong các quãng hẹp 2, 3, 4, 5. Quãng rộng như quãng 6, quãng 8 ít dùng, quãng 7 không dùng trong Bình ca.
VII – Dấu hóa
Chỉ dùng cho nốt Si giáng, Si bình

VIII – Những vạch thẳng
Ở trong khuông nhạc là những dấu ngắt câu, lấy hơi, nghỉ.

IX – Cung
Bình ca có tám cung: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 được ghi ngay đầu bản nhạc.
- Cung 1, 3, 5 và 7 là những cung chính thức.
- Cung 2, 4, 6 và 8 là những cung phụ.
- Cung được xác định bởi nốt kết và nốt át.
1. Nốt kết hay nốt chủ: Vừa là nốt cuối cùng của bản nhạc, vừa là nốt thứ nhất của gam trong bản nhạc này.
2. Nốt át: là nốt cùng với nốt kết luôn luôn được nhắc lại nhiều lần trong giai điệu (không nên quan niềm là nốt bậc V trong nhạc mới).


Nốt thứ 1 là nốt kết. Nốt thứ 2 là nốt át.
Ví dụ: Cung 1
- Rê: nốt kết
- La: nốt át
HÌNH NỐT, HỘI NỐT VÀ CÁC QUY LUẬT
I – Hình và các hội nốt
1. Các nốt đơn

2. Hội hai nốt

3. Hội ba nốt

4. Hội bốn nốt

5. Hội nốt có nốt lướt
Những nốt nhỏ ở giữa hai nguyên âm hợp thành một nguyên âm đôi, ví dụ: au-tem sẽ đọc là a-ou-tem, e-jus sẽ đọc là e-i-ous hay ở giữa hai phụ âm, ví dụ; om-nis sẽ đọc là o-me-nis.
Những nốt này là nốt lướt nhưng vẫn giữ nguyên trường độ.

II – Trường độ của nốt
Quy luật: Tất cả các nốt trong một bản nhạc đều có trường độ như nhau. Mỗi nốt bằng một nốt móc đơn.

III – Thay đổi trường độ các nốt
Có hai dấu kéo dài trường độ:
1. Chấm dôi (.): Chấm dôi ở bên phải một nốt, đặt ở phía trên, ở giữa hay ở dưới nốt ấy.
Quy luật: Tất cả các nốt đơn có chấm dôi đều được tăng đôi, nghĩa là có trường độ bằng nốt đen.

2. Vạch ngang ( – ): Vạch ngang nhỏ đặt ở trên hay dưới một hội nốt.
Quy luật: Tất cả các nốt có gạch nhỏ ở trên hay ở dưới thì hát nốt ấy hơi kéo dài trường độ, nhưng không được kéo dài bằng một nốt đen, để thể hiện cho có sắc thái.

IV – Nốt răng cưa: là nốt chủ yếu thể hiện sắc thái.
1. Nốt đơn đứng trước nốt răng cưa
Quy luật: Nếu nốt đơn đi trước nốt răng cưa thì nốt ấy có vạch ngang nhỏ ở trên hay ở dưới, khi hát nốt ấy hơi nhấn, kéo dài trường độ thể hiện sắc thái.

2. Hội hai nốt đứng trước nốt răng cưa
Quy luật; Nếu hội hai nốt xếp theo thứ tự thì nốt thứ nhất có chấm dôi và nốt thứ hai phải hiểu ngầm là có vạch ngang nhỏ.

3. Hội ba nốt đứng trước nốt răng cưa
Quy luật: Nếu là hội ba nốt đứng trước nốt răng cưa thì cả ba nốt đều có vạch ngang dài.

Nhưng nếu là hội

thì chỉ nốt đầu có vạch ngang, còn các nốt khác hiểu ngầm.
4. Đôi khi có nốt sau nốt răng cưa cũng có vạch ngang, thì nốt ấy cũng theo quy luật như các nốt đứng trước nốt răng cưa.

Chú ý: Vậy tất cả các nốt có vạch ngang thường có trường độ bằng nốt đi trước nốt răng cưa.
V – Tiết tấu và vạch thẳng ( | )
1. Tiết tấu: là sự sắp xếp nhịp điệu của âm thanh. Tiết tấu đơn giản nhất là tiết tấu hai nốt. Nó gồm hai thành phần. Một động tác lên tiếp theo một động tác xuống, một khởi điểm tiếp theo một điểm tựa, một vận động tiếp theo một lúc nghỉ, hay nói một cách khoa học, một Ác-sít (arsis) tiếp theo một Té-sít (thésis).
khởi điểm + điểm tựa = tiết tấu
Ác-sít té-sít

2. Nhịp tiết tấu – Vạch thẳng ( | ) hay ích-tút (Ictus)

– Nhịp tiết tấu: Khi vào bài, thì tiết tấu đã phân tích ở trên sẽ bị đảo ngược thứ tự trong mỗi nhịp cụ thể. Phần đầu của nhịp là té-sít (điểm tựa), phần cuối của nhịp là ác-sít (khởi điểm).
Phách đầu tiên của một nhịp gọi là điểm tựa (té-sít) hay là ích-tút.
Ghi chú:
1/ Nhịp đơn giản nhất không phải lúc nào cũng là hai phách, đôi khi có ba phách.

2/ Thường thường nhịp tiết tấu không phải lúc nào cũng là 2 phách mà dùng nhịp hai và nhịp ba xen lẫn nhau.
Quy luật: Vạch thẳng ( | ) (ích-tút) là vạch nhỏ đặt trên hay ở dưới một nốt. Nó đặt ở nốt nào thì nốt ấy là phần mạnh của nhịp.
VI – Từ có đuôi đực và từ có đuôi cái
Trong tiếng La-tinh mỗi từ có một trọng âm. Vần trọng âm là vần có dấu sắc ở trên.

VII – Những quy luật để tìm phách thứ nhất trong nhịp tiết tấu của bản nhạc bình ca
1. Những nốt mang dấu ích-tút
2. Nốt có chấm dôi
3. Nốt ở hội hai nốt
4. Nốt đứng trước nốt răng cưa
5. Nốt mang dấu vạch ngang (nhưng không phải lúc nào cũng như thế)
6. Nốt thứ nhất của một hội nốt.
VIII – Cường độ của phách thứ nhất
Phách thứ nhất của Bình ca không phải là phần mạnh của một nhịp, thực tế phần nhiều nó ở phách yếu.
Ví dụ: Cre-do in ú-num Dé-um
IX – Vần trọng âm
Vần trọng âm mà chỉ nguyên nó là trọng âm thì không phải là phách thứ nhất của một nhịp. Thực tế, nó chỉ khởi điểm đi đến điểm tựa, thường nó ở vần cuối của một từ.
Như thế cũng không có nghĩa là vần trọng âm không bao giờ ở phách thứ nhất.
X – Nốt vừa mang vạch thẳng ( | ) và mang vạch ngang ( – )
Những nốt mang cùng một lúc vạch thẳng và vạch ngang thì đồng thời cũng mang hai tính chất riêng của mỗi ký hiệu.
1- Chúng là phách thứ nhất vì có vạch thẳng.
2- Chúng phải kéo dài vì có vạch ngang.
3- Chúng thường là những nốt yếu vì ở cuối một tiết nhạc

XI – Một vài trường hợp phải viết vạch ngang thay vạch thẳng
Có hai trường hợp vạch thẳng thay bằng vạch ngang, và phải dùng nó như vạch ngang.
1- Trong hội nốt

Vạch ở nốt Son, dễ làm cho mắt nhìn nhầm thành nốt Fa có đuôi, vì vậy phải dùng vạch ngang.
2- Trong hội nốt

Vạch thẳng ở nốt La sẽ làm cho ta hiểu nốt Si có ký hiệu phụ bên cạnh, nên phải tránh bằng cách dùng vạch ngang.
XII – Sự nối tiếp các nhịp
Nối tiếp các nhịp trong bình ca phải uyển chuyển nhẹ nhàng, tránh nhấn mạnh quá ở những chỗ phải nhấn mạnh.
XIII – Các dấu ngắt, nghỉ, lấy hơi
Các dấu nghỉ được thể hiện qua các vạch nhịp:
- 1/4 vạch sau một tiết nhạc
- 1/2 vạch sau một phân câu
Cả vạch dài sau một câu nhạc.
- Vạch 1/4 lấy hơi rất nhanh
- Vạch 1/2 lấy hơi bằng nốt đứng đằng trước
- Vạch dài nghỉ dài một móc
- Hai vạch dài kéo chậm ra để kết thúc hay để bắt đầu sang đoạn khác.
- Dấu phảy cũng như 1/4 vạch
- Quy luật: Cấm không được lấy hơi trước vần đầu của một từ.
XIV – Dấu lấy hơi nhấn mạnh
Sau vạch 1/4 và 1/2, tiết nhạc bắt đầu bằng một nốt mạnh hơn, ta có thể lấy hơi ở nốt có châm dôi đứng trước.
Đầu tiên có thể hát nhỏ ở nốt có chấm dôi, và mạnh dần lên rồi tiếp tục tiết nhạc cho đến khi gặp một vạch dọc dài.
XV – Sắc thái giảm dần và tăng dần
Bình ca là một loại hát nối liền và rất trầm tĩnh, nó cũng là loại hát có tâm tình. Không bao giờ được hát gào lên. Cường độ trong bình ca của nó là mạnh vừa. Rồi cho giảm dần hay tăng dần.
1- Bắt đầu hát nốt nào phải rõ ràng, cả sau khi lấy hơi cũng thế, đến vần nào phải đọc cho rõ, nếu có thể nhấn mạnh những phụ âm đi trước nguyên âm của chúng.
Ví dụ: Amen phải đọc là Am-men, đừng đọc là A-men.
2- Những trọng âm cũng phải đọc như trên, phải làm chúng nổi bật lên và cho chúng có đà, nhưng không nên nhấn mạnh ở phách đầu.
3- Giai điệu đi lên gọi là tăng dần, đi xuống gọi là giảm dần.
4- Tất cả những chỗ kết trước những vạch thẳng phải hát nhẹ. Nó phải bắt đầu giản dần cho đến chỗ nhỏ.
XVI – Nhịp điệu
Nhịp điệu trong nhạc bình ca không vội cũng không kéo dài.
Nhịp điệu trung bình là 140, đôi khi có những câu nhạc nhanh hơn hay chậm hơn tùy theo lời, theo giai điệu và những dấu hiệu hát chậm lại của các vạch ngang (-), chậm nhất có thể 120 và nhanh nhất là 160
Quy luật: Nhịp điệu phải giữ theo các quy định ở trên, nhưng còn tùy thuộc vào lời ca và giai điệu.
ĐỆM BÌNH CA
Định nghĩa: Muốn hiểu bình ca cho đúng phải nắm mấy điểm căn bản sau đây.
- Nhận rõ vai trò ích-tút
- Đã thạo về các hợp âm và các cung giọng nhạc mới
- Nốt nào đệm, nốt nào lướt qua.
I – Khi đệm gặp nốt có ích-tút phải hiểu thế nào?
Đành rằng khi hát các dấu cứ đi liền đều nhau, không nên nhấn mạnh luôn luôn các nốt quan trọng sợ sinh ra vỡ vụn câu nhạc, nhưng người giữ nhịp và người đệm đàn phải phân biệt đâu là nốt chính đâu là nốt lướt, thì mới biết cách đưa tay lên xuống để chỉ huy, hoặc người đệm đàn biết đặt đệm vào nốt nào và bỏ qua nốt nào không phải đệm.
Trong các nốt có khả năng nhận lấy đệm, ở nhạc mới thì ta chú ý tới phách mạnh, hoặc phần mạnh của phách, ở bình ca thì có ích-tút.
Một nhịp đơn của bình ca gồm có một móc đơn, một nhịp kép ở bình ca giống như một nhịp ở nhạc mới, gồm 2 động tác, một động tác đặt tay xuống là phần mạnh, hất tay lên thuộc về phần nhẹ. Nốt nào thuộc về phần mạnh bao giờ cũng được coi trọng. Bao nhiêu người hiểu sai vai trò ích-tút và khi thấy có ký hiệu ấy thì tưởng là phải nhấn mạnh nốt ấy. Trong các sách giáo khoa của các Cha ở Solesimes về ích-tút thì nốt nhạc đó là nốt thuộc phần mạnh. Điều ấy có nghĩa là:
1- Trong những bản nhạc các nốt viết đơn giản rời rạc. (Chant syllabique) như các Gloria, Credo, Diesiroe, Sequentia nhiều khi không biết nốt nào là ác-sít hay té-sít, thì lúc đó sẽ có vạch (|) để chỉ nốt ấy là té-sít, và cứ thế mà tính ra nhịp kép (chúng ta nên nhớ một điều quan trọng này: nhịp kép gồm ít nhất là 2 nốt móc và nhiều nhất là 3 nốt móc. Nốt móc thứ nhất là té-sít, còn nốt móc thứ hai hoặc thứ ba là ác-sít).
2- Trong các bài có nhiều hội nốt (Chant neumaticque) như introit, alleluia … nhiều lúc không biết chỗ nào là ác-sít, chỗ nào là té-sít, lúc đó sẽ có vạch (|) để chỉ nốt đó là té-sít, lại còn có khi trong một hội dấu gồm 3 nốt, theo nguyên tắc thì nốt thứ nhất là té-sít, còn 2 nốt kia là ác-sít, nhưng cũng có khi vì lý do nào đó mà người ta đặt vạch ích-tút vào nốt thứ hai, hoặc nốt thứ ba, lúc ấy chùm 3 nốt bị tách ra, có nốt thì dồn vào hội nốt đằng trước, có nốt thì dồn vào hội nốt sau.
Ví dụ: Trong văn bản

Vần Pa có một hội gồm 3 nốt, nếu bình thường thì tôi áp dụng nguyên tắc đặt đệm vào nốt đầu của hội, tức là đệm nốt Rê, còn hai nốt La – Si thì cứ việc lướt đi. Nhưng ở đây ích-tút đặt vào nốt La còn nốt thứ nhất một là sẽ dồn vào nhịp trước, hai là nốt ấy là nốt đầu bài, thì cứ đi lướt theo cách gọi là nốt lấy đà (anacrouse).
Theo quy luật thì như thế, còn thường ra, đặt đệm vào nốt đầu hội cũng được. Cho nên, vần ấy có thể đệm bằng hai nốt.

II – Các cung giọng hay dùng ở bình ca
Nếu cứ theo đúng các khóa như trong khi xướng âm một bài, thì các cung giọng phải dùng, tóm tắt chỉ ở mấy giọng chính sau đây:
1. Giọng Rê thứ gồm có các hợp âm: Rê thứ, Fa trưởng, Son trưởng, Son thứ, La thứ, Đô trưởng cho các cung 1, 2
2. Giọng La thứ cho cung 3, 4
3. Giọng Fa trưởng cho cung 5, 6
4. Giọng Đô cho cung 7, 8
Nhưng trong 8 cung thì có những cung biết âm vực thấp quá, lại có những cung dùng âm vực cao quá, khó hát, thì người đánh đàn có trách nhiệm phải dịch thấp quá lên vừa phải, và cao quá thì dịch xuống cho vừa.
Chính vì phải dịch lên xuống như vậy, là ta đã phải đi vào các bài học về dịch giọng. Vì thế, ta phải thạo về các giọng và các hợp âm của mỗi giọng.
III – Sắp xếp các dấu lẻ tẻ thành hội dấu, tách các chùm liên tiếp ra những hội 2, 3 dấu
1. Xếp các nốt lẻ tẻ thành những hội nốt
Thường thường mỗi hội nốt là 2 nốt móc đơn, nếu thừa 1 nốt móc đơn thì hội đó sẽ là 3 móc đơn.
Chú ý: Nếu là 2 móc đơn đầu bài hoặc đầu câu mà không có ký hiệu ích-tuuts thì phải coi móc đơn thứ nhất là đầu hội nốt, nếu trong 2 móc đầu mà móc thứ hai có ích-tút thì phải coi móc đơn thứ nhất là nốt lấy đà, không đệm ngay.
Ta sẽ phân tích và dịch thử câu này thành các hội nốt

2. Tách các chùm nốt liên tiếp ra các hội đơn 2 hay 3 nốt
Cứ theo phương pháp dồn thành từng nhịp kép có 2 nốt, nếu thừa nốt nào thì dồn thành nhịp 3 nốt. Khi hội nốt có nốt răng cưa và khi hội nốt có 2 nốt cùng cao độ liền nhau hoặc có chấm, thì theo luật của mỗi thứ mà dồn
Dịch Verset ở bài Requiem (Graduel)

Dịch xuống thấp 2 cung rưỡi

3. Nốt nào có đệm nốt nào không có đệm?
Theo nguyên tắc chung những nốt có đệm là:
a) Nốt ở đầu hội nốt
b) Nốt có chấm dôi
c) Nốt có vạch thẳng (ích-tút)
d) Nốt đầu của hội nốt có 2 nốt cùng bậc viết sát nhau
Bài thí dụ ở trên đây và bài dịch sẵn đã phân tích ra từng hội nốt chỉ việc chọn hợp âm thích hợp
TÁM CUNG TRONG NHẠC BÌNH CA
Phân loại: Nốt Sib hay Si bình
Trong bình ca, chúng ta không hề gặp một nốt dấu hóa nào trừ nốt Si thì có thể có b. Vậy nốt Sib thường gặp trong nhạc thì phải chọn hợp âm thích hợp cho nó. Nhưng trong nhiều câu nhạc, nốt đi bè giai điệu lại không có Si thì làm thế nào mà khẳng định rằng câu nhạc này câu nhạc kia thuộc về loại Sib. Và trong trường hợp ấy ta phải sử dụng âm nào có Sib và hợp âm nào có Si bình.
I. Khi có Si bình
Khi nét nhạc là Si bình thì hợp âm hay dùng là:
Đô trưởng hoặc La thứ
Son trưởng hoặc Mi thứ
Và câu nhạc hay kết vào nốt La, Son, Rê, Đô, Si, Mi
Nếu kết vào nốt La thì dùng hợp âm: La thứ
Nếu kết vào nốt Son thì dùng các hợp âm: La, Đô
Nếu kết vào nốt Rê thì dùng hợp âm: Son
Nếu kết vào nốt Đô thì dùng hợp âm: Đô
Nếu kết vào nốt Si thì dùng hợp âm: Son
Nếu kết vào nốt Mi thì dùng các hợp âm: Đô, Mi thứ (La thứ cũng được)

II. Khi có Sib
Khi câu nhạc có Sib thì hợp âm hay dùng là:
Fa trưởng hoặc Rê thứ
Sib trưởng hoặc Son thứ
Và câu nhạc hay kết vào những nốt Rê, Fa, La, Đô, Sib, Son
Nếu kết vào nốt Rê thì dùng hợp âm: Rê thứ
Nếu kết vào nốt Fa thì dùng hợp âm: Fa
Nếu kết vào nốt La thì dùng hợp âm: Fa
Nếu kết vào nốt Đô thì dùng các hợp âm: Đô, Fa
Nếu kết vào nốt Sib thì dùng hợp âm: Sib
Nếu kết vào nốt Son thì dùng hợp âm: Son thứ
Chú ý:
a) Những nét nhạc đi theo công thức Si bình thì hay dùng ở: cung thứ 2 (loại kết vào La) 3,4,7,8.
Những nét nhạc đi theo công thức Sib thì hay dùng ở: cung 1,2 (loại kết vào Rê) 5 và 6.
Nhưng nhiều khi đang ở loại Si bình, nét nhạc có thể chạy và chuyển sang loại Sib và ngược lại. Lúc ấy phải nắm vững các công thức như đã nói ở trên.
b) Khi trong nét nhạc mà không có rõ ràng nốt Si.
Lúc ấy sẽ xét sem bài nhạc đó thuộc về cung nào là cung thuộc loại Sib như đã nói ở phần I, và trong trường hợp này, cung thứ 4 là cung hay chuyển sang cung 1, hay cung 6 (lúc ấy sẽ áp dụng những hợp âm hay dùng cho cung 1 và 6).
Sau đây chúng ta sẽ đi vào riêng từng cung một, trong đó chúng ta sẽ phải nắm vững những công thức chung và riêng của mỗi cung, rồi ta sẽ xem đến những thay đổi của cung đó.
Ví dụ: Cung 8 thì giống như giọng Đô trưởng, như vậy ta chỉ cần sử dụng mấy hợp âm quen thuộc là hợp âm Đô, Son, Fa là đủ, nhưng nếu thấy xuất hiện Sib, trường hợp này ở cung 8 thì hiếm, nhưng nếu có Sib và tiết nhạc đi vào kết nốt Rê chẳng hạn, thì ta thấy cung 8 ở chỗ này chuyển dịch sang cung 1, hoặc kết Fa thì chuyển sang cung 6…Ví dụ:

CUNG THỨ NHẤT
Cung 1 đòi hỏi phải học rất kỹ vì hai lý do:
a) Vì cung 1 dùng nhiều nhất
b) Các cung khác hay chuyển dịch sang cung 1, lúc ấy không nên lẫn lộn trong khi dùng các hợp âm để đệm.
Âm vực: Từ Rê cao xuống Đô thấp
Nốt kết: Rê
Nốt át: La
Trừ một bài kết La (Jesu dulcis)
Cung này đa số viết khóa Đô nhất, âm vực vừa phải, không cao lắm, không thấp quá, như cung 2. Cho nên không phải dịch lên xuống.
Công thức và đặc điểm của cung 1
1. Có Sib: Khi có Sib thì ta hay thấy nốt kết của câu đi vào nốt Rê hoặc La. Như vậy hợp âm chủ yếu là Rê thứ.

Chú ý: Cung này hơi giống giọng Rê thứ tự nhiên, nghĩa là không có Đô # cho nên ta sẽ tránh không dùng hợp âm át của Rê thứ hòa thanh. Như vậy, nếu kết là Mi thì chớ nên dùng hợp âm La trưởng mà phải dùng hợp âm Đô trưởng.
Ví dụ:

Một số kết quen thuộc hay gặp:


2 – Có Si bình:
Khi những nét nhạc mà nốt giai điệu là Si bình thì cuối câu hay kết vào nốt La hoặc Son. Như vậy, chỉ là tạm thời, sau đó, các câu lại trở về loại Sib.
Ví dụ:

Hợp âm hay dùng những câu có Si bình là: La thứ, Son trưởng, Đô trưởng
Bảng các hợp âm hay dùng khi có Sib và khi có Si bình.
Loại Si b
Hợp âm: Rê thứ, Fa trưởng, Sib trưởng, Son thứ, Đô trưởng
Loại Si bình
Hợp âm: La thứ, Son trưởng, Đô trưởng
CUNG THỨ HAI
Cung 2 cũng chiếm một số lớn trong bộ giáo nhạc (1/8). Cung 2 cũng kết Rê như cung 1 nhưng cung 1 nghe có vẻ trầm, nghiêm, oai hùng. Trái lại, cung 2 nghe nhẹ nhàng, thanh bình như ta thấy mấy bài trong đầu mùa Chay ngày lễ Tro.
Cung 2 có một đặc điểm nữa: có hai loại, một loại viết rất thấp, hay dùng khóa Fa hai, và thuộc về loại Sib thỉnh thoảng mới gặp Si bình. Còn loại nữa viết rất cao, hay dùng khóa Đô hai và loại Si bình.
1 – Loại Sib
Nếu chưa dịch lên cao (phận sự của đàn) thì nốt kết là Rê, nốt át là Fa.
Hợp âm giống như cung 1, nghĩa là hợp âm Rê thứ (và Đô trưởng, Fa trưởng). Người đàn phải dịch lên hai cung, Rê lên Fa thăng, như vậy nó trở thành giọng Fa thăng thứ (và mi trưởng, La trưởng).
Chú ý: Khi đã dịch lên 3 thăng như thế này, thì nói chung những dấu kết là Fa thăng, dùng hợp âm Fa thăng thứ (Không được dùng hợp âm Rê) nốt giai điệu La thì dùng Fa thăng thứ và La trưởng, nốt giai điệu là Đô thăng thì dùng Fa thăng hoặc La trưởng, nốt Si thì dùng hợp âm Mi…Thỉnh thoảng thay đổi và dùng hợp âm Si thứ đệm cho nốt giai điệu Fa thăng thay cho hợp âm Fa thăng thứ và cũng dùng Si thứ đệm cho nốt giai điệu thay cho hợp âm Mi.
Ví dụ:




Chú ý: Khi đã dịch lên 3 thăng như thế này, thì nói chung những dấu kết là Fa thăng, dùng hợp âm Fa thăng thứ (Không được dùng hợp âm Rê) nốt giai điệu La thì dùng Fa thăng thứ và La trưởng, nốt giai điệu là Đô thăng thì dùng Fa thăng hoặc La trưởng, nốt Si thì dùng hợp âm Mi…Thỉnh thoảng thay đổi và dùng hợp âm Si thứ đệm cho nốt giai điệu Fa thăng thay cho hợp âm Fa thăng thứ và cũng dùng Si thứ đệm cho nốt giai điệu thay cho hợp âm Mi.
Ví dụ:

2. Cung thứ hai nốt kết là loại Si bình
Đa số cung 2 thuộc loại Si b hay dùng khóa Fa hai, như đã nói ở trên. Nhưng cũng có một loại viết khóa Đô hai và nốt kết là La, cũng có khá nhiều bài viết cao quá người đánh đàn bó buộc phải dịch thấp xuống 1 cung rưỡi, tức là nốt kết La dịch xuống kết Fa thăng. Như vậy ta thấy rằng nó cũng sẽ ngang với cung 2, nốt kết Rê khi đã được dịch cao lên.

Tóm lại: cung 2 loại thấp viết khóa Fa hai, cung 2 loại cao viết khóa Đô hai, một thứ phải dịch thấp xuống Fa thăng, thì giống nhau, vì hai loại cùng dịch vào Fa thăng, và trong trí ta phải coi các nốt ở khóa Fa hai và Đô hai y như là viết ở Đô nhất, có 3 thăng kèm theo. Cách ấy đơn giản nhất, và khi gặp các khóa khác nhau như thế, ta không bị lúng túng.
Bàn thêm: loại Đô hai, loại kết La thuộc loại Si bình, nhưng khi nào gặp Si giáng tức là Son bình khi dịch xuống thấp, thì cung 2 sẽ chuyển sang cung 5, và kết Fa (tức là Rê khi đã dịch xuống và lúc đó người đàn sẽ dùng thêm hợp âm Rê mà đệm cho cho những nốt gieo vào các nốt Rê, Fa thăng.
Ví dụ: Offertorium Lễ Tro

CUNG THỨ BA
Cung này có ít bài. Âm vực từ Mi cao xuống Rê thấp
Nốt kết Mi
Nốt át Đô
Hay viết khóa Đô nhất, họa hiếm viết Đô hai. Vì hay viết cao cho nên phải dịch xuống 1 cung cho dễ hát, nhất là khi hát thánh vịnh cứ gặp luôn nốt Đô (nốt át) thì rất mệt.
Dịch xuống một cung tức là giọng Sib (có Si b và Mib)
Cung 3 này thuộc loại Si bình, và kết Mi cho nên hợp âm hay gặp là hợp âm Mi thứ.
Chú ý: Nốt kết là Mi thì phải đệm Mi thứ không đệm Đô trưởng
Hợp âm hay gặp:
Mi thứ (Mi, Son, Si)
Son trưởng (Son, Si, Rê)
La thứ
Đô trưởng
Rê thứ
Khi gặp nét nhạc có Sib tức là cung ấy có ý chuyển sang cung 1 hay cung 5, tùy nốt kết là Rê (Rê Fa La) hoặc (Fa La Đô)
CUNG THỨ TƯ
Cung 4 có khá nhiều bài. Âm vực trung bình từ Đô cao xuống Đô thấp. Đa số viết khóa Đô nhất. Nếu gặp khóa Fa hai hoặc Đô hai thì người đàn sẽ đọc như Đô nhất, kèm thêm 3 thăng và nốt kết khi đã dịch rồi, sẽ là nốt Son thăng, dùng hợp âm Mi trưởng mà đệm (Gloria I).
Cung 4 thuộc loại Si bình, kết Mi, át là La, hợp âm chính là Mi thứ, khi nốt giai điệu là Son thì hay dùng hợp âm Son, không dùng hợp âm Mi thứ hoặc hợp âm Đô.
Nhưng không có cung nào hay chuyển cung nhiều bằng cung này, và như cậy, khi có Si b thì hay chuyển sang cung 1, và cung 6 (tận Rê, Fa), nhiều khi không có Sib báo hiệu nhưng nếu nét nhạc gieo vào các nốt Rê, Fa tức là có chuyển sang cung 1 và 6 thì ta phải chọn hợp âm Rê thứ, Fa trưởng mà đệm cho thích hợp, như bài Resurrexi…
Đệm cung này khó nhất ở chỗ hay chuyển cung, nhưng chuyển thế náo thì chuyển, nốt Mi kết vẫn phải dùng hợp âm Mi thứ.
Hợp âm hay gặp khi chưa chuyển sang cung khác là:
| Mi thứ | và | Rê thứ |
| Son trưởng | La trưởng | |
| Đô trưởng |
Panis angelicus

CUNG THỨ NĂM
Ít dùng cung này, trừ ra một số các bản graduale theo bản lễ cũ đều viết theo cung này với công thức: hai đoạn trên dùng khóa Đô nhất, nhạc không lên cao lắm và giống như cung 6, còn đoạn sau của graduale thì dùng Đô hai, nhạc viết cao giống như giọng Fa trưởng của nhạc mới, pha giọng Đô, và như vậy nét nhạc sẽ là cung 5
Nốt kết: Fa (Hợp âm Fa, La, Đô)
Nốt át: Đô
Đoạn trên khóa Đô nhất ít khi có Si bình
Đoạn sau viết khóa Đô hai ít khi có Sib
Còn một số bài viết cung 5, nhưng cùng khóa Đô nhất và nốt kết là Đô thì không cao lắm, không thấp lắm, giống như giọng Đô trưởng của nhạc mới và đệm như ở nhạc mới. Một số bài hay gặp như:
Salve Mater, Salve Regina, Tantum 2…Loại này đệm rất dễ, dùng 3 hợp âm quen thuộc là Đô, Son, Fa và thêm 2 hợp âm Rê thứ, La thứ thì đệm rất phong phú.
Cách dịch cung 5: Để nguyên bản, cung 5 viết khóa Đô hai thì rất cao, nhiều nốt luôn luôn ở từ Đô cao lên Fa cao, người hát rất vất vả, người đàn phải tìm cách dịch xuống.
Vậy ta sẽ dịch xuống 1 cung rưỡi, người lớn hát sẽ vừa, đủ trong sáng, nghĩa là đang ở Fa thì xuống Rê và như vậy người đàn phải hiểu rằng đang ở giọng Fa trưởng có những hợp âm quen thuộc Fa, Đô, Si, bây giờ phải dịch xuống 1 cung rưỡi là Rê thì phải làm quen với giọng Rê, với những hòa âm quen thuộc của giọng Rê là Rê, La, Son.
Như vậy ta sẽ đổi khóa Đô hai ra Đô nhất, thêm 2 dấu thăng (hoặc trong trường hợp ở bản chính có Si bình)
Ta có:

Đổi ra Đô nhất (Đổi khóa không đổi nốt trên dòng kẻ)
Sau đó đổi sang khóa Son và thêm Fa# Đô# vào thì sẽ vừa cho người hát (Nếu bài cũ không có Sib thì phải dùng 3 dấu thăng và sau cùng sẽ đọc là:

Bản đệm điển hình
PIE PELLCANE (đã được dịch xuống 1 cung rưỡi)

CUNG THỨ SÁU
Cung 6 có ít bài hơn cả, giống như cung 5 vì kết là Fa, nhưng thấp hơn nhiều, át là nốt La. Đa số dùng khóa Đô nhất có Sib, đệm giống như giọng Fa ở nhạc mới. Nghĩa là hay dùng 3 hợp âm này: Fa, Đô, Sib.
Như vậy cung này rất đơn giản.
Trừ ra khi cung 6 chuyển dịch sang cung khác thì lại mượn các hợp âm của cung khác mà đệm.
Khi có Si bình tức là cung 6 chuyển sang cung 2 kết La, lúc đó sẽ hay gặp hợp âm La thứ vì cuối câu hay kết La. Có khi chuyển sang cung 8 và nét nhạc hay kết: Đô, Son; Son, Đô.
Ví dụ: Chuyển sang cung 2, kết La:

Chuyển sang cung 8

Khi nét nhạc nhắc đi nhắc lại Rê-Fa, Fa-Rê tức là chuyển sang cung 1, sẽ dùng hợp âm Rê thứ mà đệm.
Những bài hay gặp viết theo cung 6 là: Requiem, Ave verum, Adeste, Sanctus và Kyrie Thiên Thần.


CUNG THỨ BẢY
Cung này chiếm một số bài tương đối lớn. Viết nhiều nét lên rất cao từ La cao xuống Rê thấp. Nốt kết là Son, át là Rê (Son – Rê), đôi khi pha lẫn với cung 8 cho nên có những nét nhạc Son, Đô; Đô, Son.
Đa số dùng khóa Đô hai, một số ít bản viết theo khóa Đô ba (Asperges)
Vì rất cao cho nên cung này phải dịch xuống.
a) Hoặc xuống 1 cung rưỡi (đọc như Đô nhất, thêm 3 thăng).
b) Hoặc xuống 2 cung rưỡi thì dễ hát hơn (và như vậy thì đọc như Đô nhất thêm 3 thăng nhưng trong óc lại phải dịch xuống 1 cung nữa).
Chúng ta phải áp dụng cách dịch kiểu b, vì như vậy mới vừa giọng không bị cao quá.
Còn khi nào viết khóa Đô ba thì dịch xuống sẽ dễ hơn, bằng cách: đọc như Đô nhất, có Sib và đệm theo như giọng Fa trưởng.
Ở đây chúng ta vẫn chú ý về lối dịch xuống 2 cung rưỡi, cho nên nét nhạc hay ở giọng Son có Fa thăng và các hợp âm theo giọng Son gồm:
| Hợp âm Son | |
| Hợp âm Rê | Kết sẽ là Rê |
| Hợp âm Mi thứ | |
| Hợp âm La thứ | Át sẽ là La |
| Hợp âm Đô |


Đàn sẽ phải dịch:
a) Cao quá không tiện cho người hát:

b) Vừa tầm, dễ hát:

Kết hay rơi vào nốt nào? Hợp âm gì?
Nốt Rê (Hợp âm Rê); Nốt La (Hợp âm Rê hoặc La thứ); >> Rất nhiều
Nốt Fa thăng (Hợp âm Rê) >> Ít thôi
Kết vào Rê và La

Kết vào Fa thăng thì có ít:

(Ant Lễ Lá Cum appropin) (Alleluia Phục sinh)

Chú ý – Nếu kết rơi vào Đô tức là cung 7 pha cung 8, thường có rất nhiều, thì dùng hợp âm Đô, rơi vào Son dùng hợp âm Son, rơi vào Mi dùng hợp âm Mi thứ.
CUNG THỨ TÁM
Cung 8 cũng như cung 1, gồm một số lớn các bài bình ca (1/5)
Âm vực từ Mi cao xuống Đô thấp.
Kết Son
Át Đô
Cung 8 cũng như cung 3, át là Đô, cho nên hơi cao, nhất là khi hát Thánh vịnh. Vậy hai cung này nên dịch xuống thấp 1 cung thành giọng có 2b
Cung 8 phần nhiều dùng khóa Đô nhất, nhưng có một số dùng Đô hai. Khi gặp Đô hai bài có thể cao hơn. Cho nên bó buộc phải dịch xuống. Dịch cũng dễ: đọc như ở Đô nhất thêm 3 thăng. Hợp âm sử dụng giống như ở giọng La của nhạc mới, và 3 hợp âm quen thuộc vẫn là: La, Mi, Rê.
Tóm lại cung 8 có thể:
1) Để nguyên thì hơi cao
2) Dịch xuống 1 cung là Sib, Mib thì vừa tầm cho người lớn hát.
3) Dịch xuống 1 cung rưỡi là La trưởng thì vừa tầm cho trẻ em.
Nên ở đây có bảng đối chiếu cho 3 cách sử dụng như vừa nói ở trên
| Chưa dịch | Xuống một cung | Xuống một cung rưỡi |
| Hợp âm Đô | Hợp âm Sib | Hợp âm La |
| Hợp âm Son | Hợp âm Fa | Hợp âm Mi |
| Hợp âm Fa | Hợp âm Mib | Hợp âm Rê |
Phần nhiều cung 8 thuộc loại Si bình (khi dịch xuống một cung thì nốt La là hợp âm Son, nhưng khi hết câu hoặc hết bài thì nốt kết Son phải dùng hợp âm Son.
Khi chưa dịch nếu kết vào nốt Rê thì đừng dùng hợp âm Rê thứ, mà phải dùng hợp âm Son.
Kết vào La thì dùng hợp âm La thứ.
Cung 8 hay chuyển như thế nào?
Cung 8 ít chuyển. Họa hoằn có những nét nhạc chuyển sang cung 1 hoặc 5,6. Lúc đó phải sử dụng hợp âm Rê thứ, hợp âm Fa.
Ví dụ Cung 1

Cung 5, 6

Lễ Đức Chúa Thánh Thần Fa – Son thứ
Chú ý: Khi trong nét nhạc rõ ràng có Sib thì mới dùng hợp âm có Sib (Si b và Son thứ)
Xin nhắc: Khi muốn đệm có nghệ thuật nên để ý sử dụng hợp âm đảo 1 và những hình thức lưu láy. Ta sẽ gặp rất nhiều hai điểm này trong bất cứ bài nào, bất kể nhạc mới hay bình ca.
Salutaris (Đã dịch xuống 1 cung)

Lucis Creator (Dịch xuống 1 cung rưỡi)

BẢNG TỔNG KẾT 8 CUNG
| Kết Rê | Cung 1 | Rê thứ: Đô, Fa, Son, La thứ |
| Cung 2 | 1. Khóa Fa hai: Fa thăng thứ: La, Mi, Si thứ | |
| 2. Đô hai: Fa thăng thứ: La, Mi, Si thứ |
| Kết Mi | Cung 3 | Chưa dịch: Mi thứ, Đô, Son, Fa, La thứ |
| Dịch xuống 1 cung (2b) Rê thứ: Sib, Fa, Mib, Son thứ | ||
| Cung 4 | Mi thứ, Son, Đô hay chuyển sang cung 1 thì: Rê thứ, Fa… |
| Kết Fa | Cung 5 | 1. Khóa Đô 1: Đô, Son, Fa |
| 2. Khóa Đô 2: Dịch thành cung Rê trưởng(2 thăng) hoặc La (3 thăng) bằng cách đọc như khóa Đô nhất có thăng. | ||
| Cung 6 | Fa trưởng – Sib – Đô |
| Kết Son | Cung 7 | Trước nhất, đọc như Đô nhất, sau đó trong óc lại dịch xuống một cung nữa, thành giọng Son có Fa thăng, Son, Rê, La, Mi. |
| Cung 8 | 1. Chưa dịch: Đô nhất | |
| – Dịch xuống 1 cung: (2b) Sib, Fa, Mib | ||
| – Dịch xuống 1 cung rưỡi (3 thăng) La – Mi – Rê | ||
| 2. Khóa Đô 2: Đọc như Đô nhất, thêm 3# |
MẤY BÀI HÁT BÌNH CA BẰNG TIẾNG LA TINH
Chú ý đến ích-tút, nốt răng cưa và hội dấu





[1] Plain chant




















