Giải nghĩa thánh vịnh 66 – Khánh nhật truyền giáo

giải nghĩa thánh vịnh 66

THÁNH VỊNH 66

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

1. Bối cảnh

Khi tìm hiểu 150 thánh vịnh, chúng ta thấy có những thánh vịnh mang tính cá nhân, nhưng cũng có thánh vịnh mang tính tập thể. Có những thánh vịnh vừa mang tính cá nhân vừa mang tính tập thể. Thánh vịnh 66 mà chúng ta vừa nghe là lời tạ ơn tập thể. Điều này được thể hiện ở ngay câu đầu tiên với sự xuất hiện của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều “chúng con”.

Thánh vịnh 66 vẽ lên một bức tranh của mùa màng bội thu. Từ hình ảnh của một mùa màng bội thu (c. 7), nhiều học giả cho rằng Thánh vịnh này được soạn thảo để dùng trong tục lệ mừng lễ Thu hoạch vào cuối năm, khi người ta thu hoạch hoa màu ngoài đồng (x. Xh 23,16); Trong mùa thu hoạch, người người hoan hỉ tạ ơn Chúa vì có được mùa màng bội thu. Tuy nhiên, Thánh vịnh 66 không dừng lại ở việc diễn tả mùa màng bội thu với những bông lúa, những hoa màu ruộng đất, nhưng là muôn dân muôn nước được hưởng ơn cứu độ trong ngày mùa sau hết.  

2. Bố cục và Ý nghĩa

Thánh vịnh gồm 8 câu và tạo thành một cấu trúc đối xứng đồng tâm: câu 2 và 3 đối xứng với câu 7 và 8 đều nói nên lời nguyện xin. Câu 4 và 6 đối xứng với nhau trong cùng một điệp ca được nhắc lại hai lần. Tâm của thánh vịnh nằm ở câu 5 với mục đích quảng diễn quyền của Thiên Chúa trên muôn dân muôn nước.

A.  Lời nguyện xin phúc lành đi kèm với hiệu quả của lời cầu xin (2-3)

B: Điệp ca (4)

C: Uy quyền của Thiên Chúa (5)

B’: Điệp ca (6)

A’: Lời cầu xin và  hiệu quả của lời cầu xin (7-8)

Thánh vịnh 66, mặc dù rất ngắn ngọn nhưng lại mở ra cho chúng ta một cái nhìn rộng lớn: trên toàn cõi đất. Trước tiên, Thánh vịnh 66 khởi đi với lời khấn xin Thiên Chúa ban phúc lành xuống trên cộng đoàn những người cầu khẩn: “Nguyện Chúa Trời rủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.” Câu này hướng chúng ta trở lại vời công thức chúc lành mà Thiên Chúa truyền cho Aharon trong sách Dân số: “Nguyện Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và rủ lòng thương anh em” (Ds 6,24-25).

Qua lời chúc lành, vịnh gia nhấn mạnh đến ý định của Thiên Chúa trong việc tuyển chọn và chúc phúc cho Israel. Thiên Chúa chúc lành cho Israel, không phải vì Israel mà vì muôn dân muôn nước được hưởng ơn cứu độ. Ở đây Israel được mời gọi trở nên máng chuyển ân sủng của Thiên Chúa tới muôn dân muôn nước. Điều này gợi cho chúng ta thấy kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa khi gọi Abraham. Từ Abraham mọi gia đình trên trái đất sẽ được Thiên Chúa chúc phúc (St 12,3). Trong kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, Israel được mời gọi trở nên ánh sáng chỉ đường cho muôn dân. Muôn dân sẽ biết đường lối của Thiên Chúa, nghĩa là biết đến ơn cứu độ của Ngài.

Qua việc nhận biết ơn cứu độ của Thiên Chúa mà “Tất cả chư dân đồng thanh cảm tạ Thiên Chúa.” (cc. 4.6). Muôn dân với đủ thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng hợp nhất thành một dàn hợp xướng cùng đồng thanh hoà tấu bài ca cảm tạ: “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!” (cc. 4.6).

Sau điệp ca cảm tạ, chúng ta tiến vào trung tâm điểm của Thánh vịnh (c. 5). Câu 5 của Thánh vịnh quảng diễn quyền năng của Thiên Chúa xuất phát từ đức công minh và chính trực của Thiên Chúa: Chúa cai trị hoàn cầu theo lẽ công minh, và cai trị muôn nước theo đường chính trực. Phán quyết công minh của Thiên Chúa là lý do để cảm tạ. Bởi lẽ, Thiên Chúa đến không phải để phá huỷ và tiêu diệt nhưng để thiết lập một thế giới công minh chính trực để qua đó muôn dân muôn nước được dẫn đưa về Vương quốc vĩnh cửu.

Thánh vịnh khép lại với hiệu quả thực tại của ân sủng Chúa trên toàn cõi đất. Dấu chỉ hiện hữu được phác họa qua hình ảnh của mùa màng bội thu trên toàn cõi đất: “Đất đã sinh ra mùa màng hoa trái: Chúa Trời, Chúa chúng ta, đã ban phúc lộc.” (c.7).

3. Truyền thống

Thánh vịnh 66 là một trong ba thánh vịnh được đưa vào sử dụng cùng với các bài Sách Thánh của ngày lễ cầu nguyện cho việc loan báo Tin Mừng. Điều này cũng thật dễ hiểu vì toàn bộ Thánh vịnh 66 trình bày kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Để thực hiện kế hoạch này, Thiên Chúa đã chọn Israel trở nên Dân của Thiên Chúa. Qua Israel muôn dân muôn nước xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa kiện toàn kế hoạch cứu độ phổ quát qua việc sai Con Một của Người đến với muôn dân. Đức Kitô đã thiết lập giao ước mới trong máu Người, Người kêu gọi mọi người trở nên một, không phải theo huyết nhục nhưng là trong Thần Khí, và đây chính là Dân mới của Thiên Chúa. Dân thiên sai này có thủ lãnh là Đức Kitô. Khi thông ban Chúa Thánh Thần, Người đã quy tụ các anh chị em của mình từ các dân tộc để thiết lập cách mầu nhiệm thân mình của Người (x. Lumen Gentium, số 9).

Bởi thế, Giáo Hội, Dân mới của Thiên Chúa, tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Giáo Hội là thửa đất của Thiên Chúa. Trên mảnh đất này, Chúa tiếp tục cho trổ sinh nhiều hoa trái. Trong ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, Chúng ta ơn Chúa và khấn xin Ngài tiếp tục ban cho chúng ta mùa màng bội thu, nhiều người biết đường lối Chúa và hưởng ơn cứu độ của Ngài.

Xin kết lại với lời khẳng định của Thánh Công Đồng Vaticanô II trong Hiến chế Lumen Gentium: “Cùng đích của Dân mới là Nước Thiên Chúa đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế, và phải được trải rộng hơn nữa cho tới khi được nên hoàn tất vào lúc tận cùng thời gian, khi Đức Kitô, sự sống của chúng ta xuất hiện, và cả mọi tạo vật cũng sẽ được giải thoát khỏi tình trạng hư nát, được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Lumen Gentium, số 9).

Lm. Antôn Trần Văn Phú

Share on print
Print
Share on email
Email
Scroll to Top