Thánh vịnh 84 – Chúa nhật XV thường niên B – Giải nghĩa và hát mẫu

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN NĂM B

Tv 85, 914

Bối cảnh

Thánh vịnh 85 (84) được sáng tác bởi con cái ông Cô-rắc, là một ai ca tập thể tràn đầy niềm hy vọng về một tương lại cứu độ. Thánh vịnh này cũng đồng thời diễn tả khoảnh khắc vui mừng của Ít-ra-en được hồi hương từ cảnh lưu đầy Ba-by-lon. Con cái nhà Ít-ra-en vui mừng vì được trở về quê cha đất tổ. Cuộc sống của một dân tộc lại bắt đầu trên mảnh đất yêu dấu mặc dù đã bị thiêu huỷ và tàn phá bởi cuộc chiếm đánh Giê-ru-sa-lem của quân đội vua Na-bu-cô-đô-nô-xo năm 586 tCn. Cuộc hồi hương này, cuộc tái sinh này không chỉ liên hệ đến dân tộc Ít-ra-en mà đến toàn bộ người tín hữu, những người coi cuộc lưu đầy như một hình phạt cho tội lỗi mà họ đã phạm, và giờ một sự sống mới, sự tự do mới như ân huệ mà Thiên Chúa ban tặng cho những ai có lòng ăn năn trở lại.

Bố cục và Ý nghĩa

Thánh vịnh 85 gồm 14 câu và có thể được chia thành 3 phần chính:

  • Phần I: Cầu 2-4 diễn tả những hành động tha thứ của Thiên Chúa trong quá khứ.
  • Phần II: Câu 5-8 diễn tả những lời cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa trong giây phút hiện tại.
  • Phần III: Câu 9-14 trình bày một viễn tượng về một thế giới được phục hồi.

Thánh vịnh 85 khởi đi với việc trình bày những kỳ công Chúa đã thực hiện cho nhà Ít-ra-en khi Người đưa họ trở về từ cuộc lưu đầy khốn cực tại Ba-by-lon. Vịnh gia đã phác họa kinh nghiệm lịch sử với những lời sau: “Lạy Chúa, Ngài đã tỏ lòng thương thánh địa, tù nhân nhà Gia-cóp, Ngài dẫn đưa về” (c. 2). Nhờ bài học quá khứ này, mà những người than van hướng tới niềm hy vọng chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ làm những gì mà Người đã thực hiện trong quá khứ: “Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng con về, đừng hận chúng con nữa… Nào chẳng phải chính Ngài sẽ lại làm cho chúng con được sống”  (cc. 5.7).

Đây quả là điều vĩ đại của Thiên Chúa, Đấng giải thoát dân Người khỏi nỗi thống khổ và ban cho họ sự phồn thịnh. Trong cuộc trở lại này, Thiên Chúa hành động một cách thành toàn. Người mặc khải tình yêu vô biên qua việc tha thứ tội lỗi: “Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ, mọi lỗi lầm, cũng phủ lấp đi. Ngài dẹp trận lôi đình và nguôi cơn thịnh nộ” (cc 3-4).

Thực vậy, việc giải phóng những kẻ khấn xin khỏi sự dữ, việc thứ tha tội lỗi của họ và việc thanh tẩy tội lỗi làm nên một dân mới của Chúa. Điều này được diễn tả trong lời sám hối khi bước vào nghi lễ phụng tự: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con” (c. 8).  Bình an và ơn cứu độ được ban cho “kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Người” (c. 9).

Phần cuối cùng của Thánh vịnh (cc. 9-14) thật quen thuộc với truyền thống Ki-tô giáo. Nó được sử dụng trong Chúa Nhật XV Thường Niên Năm B. Phần cuối này hướng chúng ta đến một thế giới mới, trong thế giới ấy: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” (c. 11).

Trong thế giới mới này, lòng thương xót, chính trực, công lý và hoà bình trở nên bốn cột trụ của sự hiện sinh của trái đất. Cũng trong truyền thống này, I-sai-a đã cất lên: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi, cho nẩy mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên” (Is 45,8).

Viễn tượng về một thế giới mới ở phần cuối Thánh vịnh 85 được hiện thực hoá qua mầu nhiệm Nhập thể và Giáng sinh của Đức Giêsu từ cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Sự xuất hiện của Đức Kitô chính là nguồn mạch lòng thương xót, là sự triển nở của đức chính trực, là sự tưới gội của đức công chính, và là hào quang của bình an. Nói cách khác, Đức Giêsu Kitô chính là khuôn mặt lòng thương xót của Chúa Cha, là sự thật, công lý và bình an của nhân loại.

Lm. Antôn Trần Văn Phú

Share on print
Print
Share on email
Email
Scroll to Top