Chúa Giêsu lên đền thờ – Lễ Thánh Gia C – Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

CHÚA GIÊSU LÊN ĐỀN THỜ
SUY NIỆM LỄ THÁNH GIA
 (Lc 2,41-52)

1. Mới đây, Robert Aron, trong cuốn “những năm ẩn dật của Chúa Giêsu, xuất bản tại Paris năm 1960, trang 119-169, đã cố công thiết lập lại đoạn văn này với những chi tiết dồi dào phong phú dưới một hình thức rất sống động. Thật là một lợi ích rất thiết thực cho những ai muốn hình dung lại các sự kiện quá khứ cụ thể; tuy nhiên cần phải chú ý đến điều chính yếu thuộc bình diện học thuyết. Tất cả mọi chi tiết trong đoạn này của Lc đều qui về một lời được coi như là chóp đỉnh và là chìa khóa để hiểu toàn bộ đoạn văn.

2. Tuy nhiên, xin mạn phép lưu ý điều này: bản văn không nói rõ ràng đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu theo cha mẹ Ngài lên Giêrusalem. Như Lc đã chép: câu đó chỉ có ý nghĩa là biến cố đó xảy ra lúc Chúa Giêsu lên 12 tuổi; điều đó không có nghĩa rằng trước kia Chúa Giêsu không bao giờ lên thành thánh. Theo Xac 23,17 và Đnl 16,16 tất cả nam giới ở Palestine, bất phân tuổi tác, phải đi trình diện trước Chúa vào 3 lễ trọng trong năm: lễ bánh không men, nghĩa là lễ vượt qua, lễ cầu mùa, cũng gọi là lễ gieo giống, và lễ gặt cũng gọi là lễ Lều tạm.

Đàng khác, thiếu niên Do thái chỉ chính thức tham dự phụng tự hội đường lúc 13 tuổi, và có một liên hệ nào giữa nghi thức này được người Do thái thực hiện khắp nơi, với cuộc hành hương do tác giả phúc âm kể lại.

Có lẽ phải nghĩ tác giả nhắm nói lên một biểu tượng. Con số 12 có nghĩa là toàn mãn, hoàn thành. Ghi nhận Chúa Giêsu lúc ấy, được 12 tuổi là cốt ý đưa độc giả nghĩ đến ngày chấm dứt sứ mệnh trần gian của Ngài, ngày Ngài phải trở về cùng Cha. Thế mà, chúng ta sẽ thấy, chính việc loan báo úp mở về ngày Phục sinh là điều mà trình thuật này cố ý nhắm đến đầu tiên.

3. Khung cảnh chẳng có gì khác thường. Các giảng sư kinh thánh thời đó, những vị chuyên môn về sách Torah, không hề xua đuổi các cậu du khách trẻ tuổi ưa nghe những bài chú giải của họ. Họ không có coi thường việc thảo luận với các cậu. Do đó, ngoài Chúa Giêsu còn có thể có những thiếu niên cùng lứa tuổi khác đến dự các buổi thảo luận trên.

Lc tiếp: “Vừa thấy Ngài, cha mẹ Ngài rất xúc động. Và mẹ Ngài nói cùng Ngài: Này sao con làm thế? Kìa cha con và mẹ phải lo lắng tìm con”.

Và Chúa Giêsu trả lời, một câu trả lời đầy ý nghĩa và mầu nhiệm đến nỗi cha R. Laurentin đã phải để ra phần lớn một tác phẩm khá quan trọng của ông để bàn giải mà không thế tát cạn nội dung câu trả lời đó: “Tại sao tìm con? Lại còn không biết rằng con phải ở tại nhà cha con sao?” (il me faut être chez mon Père).

Nghĩa từng chữ theo bản văn Hylạp: “dans tes de mon Père”. Đây là kiểu nói có vẻ hàm hồ, quá hàm hồ đến nỗi có nhiều tác giả, từ thế kỷ 16 trở đi, tưởng có thể chú giải như Chúa Giêsu muốn nói: “Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?” (je me dois aux affaires de mon Père). Nhưng lỗi phiên dịch này không thể đứng vững. Xét theo văn phạm thì không thể được và không có một chỗ dựa nào truyền thống giáo phụ. Đó chỉ là một sáng tác của óc duy trí (volontarisme) và duy hoạt động (activisme) tây phương. Qua một cuộc chứng minh sâu rộng, Laurentin cho thấy cách rõ ràng kiểu nói “dans les de mon Père” ám chỉ vật này vật nọ, không ám chỉ ai, lãnh vực nào, việc chi, nhưng chỉ có nghĩa “trong nhà cho con” (dans la maison de mon Père), hay cụ thể hơn, theo văn mạch của đoạn này là “trong đền thờ của Cha con” (dans le temple de mon Père). Nhưng những lối phiên dịch này bất lợi ở chỗ quá minh diện hóa một kiểu nói ẩn ngữ và giảm bớt tính cách bí ẩn của nó. Trong tiếng Pháp, có một kiểu nói tương đương và giữ được yếu tố huyền bí của câu “dans les de mon Père” là kiểu nói “chez mon Père”. Công thức này lột tả chính xác ý nghĩa Lc muốn mà vẫn phù hợp với văn phạm Hy lạp, với lối chú giải nhất trí của các giáo phụ Hy lạp và với chính văn mạch của đoạn này. (Nhưng than ôi! bản dịch BJ đã chép lại truyền thống sai lầm. May thay bản dịch mới của TOB (traduction Oecuménique de la Bibles), xuất bản năm 1972, đã dịch chez mon Père).

Cần nhấn mạnh thêm về điểm này, vì việc quán triệt đúng đắn và chính xác kiểu nói “dans les de mon Père” là chìa khóa để hiểu 2 chương phúc âm nói về thời thơ ấu của Chúa Giêsu và một cách nào đó, là chìa khóa để hiểu thần học phúc âm thứ ba cũng như của sách Cv.

Kiểu dịch “lo việc của cha con” (aux affaires de mon Père) rõ ràng làm mất ý nghĩa của trình thuật. Lo việc của Chúa Cha, đó chính là công việc mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện bắt đầu từ khi chịu phép rửa. Công việc vĩ đại, công việc duy nhất của Ngài là hoàn thành công cuộc của Thiên Chúa. Nhưng không phải là từ lúc 12 tuổi, khi lên đền thờ với cha mẹ. Lúc này Ngài chỉ muốn đến ở đó. Người ta không nói gì về những điều Ngài đàm đạo với các giảng sư Do thái mà chỉ nói Ngài “nghe và hỏi” các ông (c.46), có lẽ khi họ xin Ngài xác định lại một câu trả lời vừa phát biểu. Đó chỉ là cuộc đối thoại thầy trò, như thường xảy ra khi học về luật Torah. Trong bản văn không có gì cho phép nghỉ, như một lối giải thích nào đó của truyền thống, là Chúa Giêsu đã dạy dỗ các thầy tiến sĩ bằng cách “nói ra trước” lời loan báo về nước Thiên Chúa. Không phải là lúc Ngài tự hiến thân lo việc Cha Ngài. Giờ của Ngài chưa đến.

Nhưng kể từ lúc này, Ngài ở trong nhà Cha Ngài, trong nhà Ngài; sự hiện diện này còn là một sự hiện diện thể lý trong đền thờ.

4. Theo phúc âm, cha mẹ Ngài không hiểu được lời nói ấy. Thánh Giuse cũng như Đức Maria không lĩnh hội ngay được ý nghĩa đích thực của Lời đó. Không phải vì họ không biết nguồn gốc siêu việt của đứa con sinh ra theo phép lạ đó đâu; hơn ai hết, các Đấng là những người biết rõ nguồn gốc siêu việt của Chúa Giêsu. Nhưng các Đấng không hiểu được ngay là Chúa Giêsu muốn nói Cha Ngài ở trên trời cũng như việc Ngài gọi THIÊN CHÚA là Cha của Mình theo nghĩa đen. Nhất là các Đấng không thể đoán được tất cả mọi ý nghĩa sâu xa giấu ẩn sau lời nói con trẻ Giêsu, một lời nói đầy tính cách tiên tri, một lời nói mạc khải cách đơn sơ một tương lai hoàn toàn vượt khỏi khả năng hiểu biết của các Ngài.

Một ngày kia Ngài sẽ nói với vài người Do thái ở Giêruselem: “các ngươi sẽ tìm kiếm Ta nhưng sẽ không gặp; vì nơi Ta ở, các ngươi không thể đến được” (Ga 7,34). Các thành kiến sai lạc về Ngài của những người đối thoại với Ngài cản ngăn họ vươn tới bình diện thiêng liêng, không cho họ đi sâu vào lãnh vực thần linh, nơi mà Chúa Giêsu đang ở và nơi mà cuộc tử nạn và Phục sinh sẽ đặt Ngài vào một cách hoàn toàn.

Lúc 12 tuổi, ở trong đền thờ, Chúa Giêsu không những chỉ nói với cha mẹ Ngài mà còn nói với một cử tọa vô hình, với tất cả những ai Do thái hay lương dân, chỉ thấy Ngài như một vĩ nhân, một tiên tri, một người làm phép lạ, với những ai tìm Ngài chỉ vì một lợi ích trần tục, hạn hẹp trong cuộc đời này. “Tại sao các ông tìm tôi, như thể các ông không biết nơi tôi đang ở, nơi tôi phải ở, tôi phải ở với cha tôi luôn luôn, tại nhà Người”

Câu Chúa Giêsu trả lời mẹ Ngài hiển nhiên là khó hiểu. Xét cho kỹ, câu trả lời không giải thích gì, không nhắm bào chữa cách cư xử của Ngài, mà chỉ kêu mời Đức Maria và thánh Giuse vươn lên khỏi bình diện của những mối bận tâm thường nhật để đến trình diện thần linh, nơi mà Ngài luôn ở. Đó là một giáo huấn hơn là một câu trả lời. Cách mặc nhiên, nó cho thấy người nói lời đó không phải như các người khác và thái độ của người ấy chẳng giống thái độ của kẻ khác tí nào.

Hơn nữa, và nhất là nó hé mở trước câu hỏi mà Lc sẽ gán cho sứ thần khi ông kể lại việc khám phá mồ trống vào sáng ngày phục sinh. Các phụ nữ từng theo Chúa Giêsu từ Galilê và đã chứng kiến sự khổ hình Ngài đến viếng mồ từ tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần. “Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ; nhưng khi vào trong, họ không gặp thấy xác Chúa Giêsu. Đang khi họ phân vân về điều đó thì có hai người hiện ra cho họ, áo chói lòa. Họ đâm sợ, sấp mặt xuống đất, hai người kia mới nói với họ: “làm sao các ngươi tìm Đấng sống giữa những kẻ chết? Ngài không có ở đây, nhưng đã sống lại” (Lc 24,2-5). Rồi hai người gợi lại cho các bà những lời Chúa Giêsu đã phán dạy trước kia” làm sao Ngài đã loan báo âm mưu các thầy thượng tế, cuộc khổ nạn, cái chết trên thập giá và sau cùng là cuộc phục sinh của Ngài ngày thứ ba.

” Tại sao tìm con? Cha mẹ không biết rằng…”. Đấng luôn ở cùng Chúa Cha không thể chết mãi, không thể bị tiêu diệt ngàn đời. Ngài thật vĩ đại, Ngài là Đấng hằng sống; mọi lo lắng về Ngài đều không đúng chỗ, vì không chứng tỏ rằng nếu phải là một sự thiếu đức tin thì ít nữa cũng là một đức tin chưa nhận thức được tầm mức rộng lớn của đối tượng của nó.

5. Ở đây đã đến lúc hồi tưởng lại các chi tiết được Lc cố gom góp để hướng tâm trí độc giả về một lối giải thích không những chính xác mà còn phong phú nhựa sống thiêng liêng về lời hài nhi Giêsu nói.

Chúng ta đã nêu lên ý hướng của tác giả phúc âm khi ông ghi nhận rằng lúc đó Chúa Giêsu lên 12 tuổi. Hình như ông đã thấy trong con số này biểu tượng một sự hoàn thành, một sự hoàn tất. Cùng một ý tưởng đó được tìm thấy nơi đoạn ông viết: “Khi các ngày ấy đã mãn” những ngày của lễ vượt qua – thánh Giuse và đức Maria rời khỏi thành thánh. Nơi Lc ý tưởng “hoàn tất” này được liên kết với việc tử nạn Phục sinh (12,50; 18,31; 22,37; 9,51; 9,31; 22,16; 22,44; 21,24…), biến cố được coi như là đích điểm và hoàn thành sứ mệnh trần thế của Chúa Giêsu. Giây phút mà con trẻ nói lên một lời tiên tri liên quan đến việc Ngài trở về cùng Cha trùng hợp với giây phút Ngài hoàn tất và vâng lời nghiêm túc các giới răn của lề luật.

Chỉ sau ba ngày, thánh Giuse và đức Maria mới tìm thấy con trẻ lạc mất. Ba ngày đó chính là khoảng thời gian từ khi chết đến lúc sống lại, vì phải hiểu thành ngữ này theo nghĩa “vào ngày thứ ba”. Đây là thành ngữ Lc thường dùng. Thành ngữ này có lẽ cảm hứng theo một bản văn của Ôse (6,2) hoặc sách các vua quyển hai (20,5)

Một yếu tố khác. Chúa Giêsu quả quyết, trong câu trả lời cho đức Maria và thánh Giuse: “Con phải ở nhà Cha con”. Kiểu nói “phải” xuất hiện 6 lần khác trong phúc âm Lc và luôn luôn có liên quan đến cuộc tử nạn của Chúa Giêsu nhưng là việc hoàn tất các lời tiên tri (13,33; 24,26; 24,44…). Dường như đoạn văn chúng ta đây không đi ra ngoài thông lệ đó và xem ra đây là lời Chúa Giêsu tiên báo về cuộc tử nạn của Ngài. Vì vậy thành ngữ “ở nhà Cha con” tại chỗ này ám chỉ việc Chúa Giêsu trở về cùng Cha Ngài nghĩa là việc Ngài chết và sống lại.

Rồi đức Maria và thánh Giuse cũng không hiểu về mối tử hệ thần linh của Chúa Giêsu đâu. Vì đức Maria, ngay từ lần truyền tin, đã rõ mối tử hệ thần linh này rồi. Các nhà chú giải cắt nghĩa bản văn theo nghĩa đó cho rằng ở đây có một mâu thuẫn. Nhưng cũng ở đây, phải chú giải đoạn văn bằng cách đối chiếu với những đoạn song song. Thế mà chủ đề “không hiểu” xuất hiện nhiều chỗ trong Lc (9,45; 18,34; 14,25) và luôn luôn liên hệ với những lời Chúa Giêsu ám chỉ bí nhiệm cuộc tử nạn của Người. Do đó, việc không hiểu ở đây chẳng phải là điều đáng trách, nhưng là do lời Chúa Giêsu loan báo cuộc tử nạn còn phải che dấu đối với những người nghe. Họ chỉ hiểu được ý nghĩa lời Ngài nói sau khi các lời loan báo đó được hoàn thành.

6. Ngoài ra trình thuật này còn nhiều yếu tố thần học khác thuộc loại giáo lý. Một trong những yếu tố đó là trí thông minh mà Chúa Giêsu bày tỏ qua việc trả lời các câu hỏi của các tiến sĩ luật. Sự thông minh này làm họ phải kinh ngạc (2,47). Điều này cũng sẽ thường xảy ra trong đời công khai của Chúa Giêsu. Các phúc âm ghi lại nhiều cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với các ký lục và biệt phái. Những người này đặt nhiều câu hỏi, tìm cách làm cho Ngài lúng túng; và Chúa Giêsu làm cho Ngài kinh ngạc vì sự đối đáp khôn ngoan của Ngài (Mt 12,1-8; 19,3-9). Nói cách tổng quát, Chúa Giêsu xuất hiện trong phúc âm như một nhà chú giải kinh thánh có thẩm quyền. Một đoạn của Lc đã cho thấy điều đó: một ngày sabat nọ, sau khi Chúa Giêsu đã giảng dạy, nghĩa là đã chú giải kinh thánh, thì “ai nấy đều kinh ngạc trước lời giảng giải của Ngài (4,32).

Như vậy, đoạn này có tiêu mục giáo lý khác là cho ta thấy Chúa Giêsu thông hiểu kinh thánh đến nỗi chính các tiến sĩ luật phải công nhận. Qua đó Chúa Giêsu được chứng tỏ như là một thày dạy đáng tin. Và đó là một trong những khía cạnh chính yếu của bài giáo lý sơ khai. Nếu Chúa Giêsu là Đấng cứu thế thì Ngài cũng là thầy dạy. Thánh Gioan đã làm nổi bật cách đặt biệt khía cạnh này. Nhưng khía cạnh đó cũng không kém quan trọng đối với phúc âm nhất lãm. Đặc điểm của đoạn văn chúng ta đây là uy quyền của Chúa Giêsu được biểu lộ ngay từ thời Ngài còn niên thiếu.

7. Một yếu tố khác của trình thuật cũng quan trọng đối với giáo lý, là thái độ của Chúa Giêsu đối với đức Maria và thánh Giuse. Khía cạnh này tự nó độc lập với khía cạnh trên và đã được Lc khai triển một cách dài dòng. Chúa Giêsu ở lại trong đền thờ Gierusalem mà không báo trước cho cha mẹ Ngài. Hai ông bà thoạt tiên tưởng Ngài đã về với những người hành hương khác. Sau một ngày tìm mà không gặp, hai Đấng đã trở lại Giêrusalem. Bấy giờ họ mới thấy Ngài ở trong đền thờ, đức Maria phàn nàn đã vì Ngài mà băn hoăn lo lắng… Tất cả những điều đó đều có tính cách lịch sử. Chắc hẳn biến cố xôn xao này đức Maria đã giữ lại một kỷ niệm đáng nhớ. Cho nên phủ nhận tính cách lịch sử của trình thuật không còn gì phi lý bằng.

Tuy nhiên giai thoại cũng có một ý nghĩa học thuyết và vì thế mà giáo lý đã giữ lại. Một lần nữa chúng ta gặp lại trong phúc âm những đoạn song song nói về thái độ tương tự của Chúa Giêsu đối với đức Maria và thánh Giuse. Như trong Lc,19-21 (song song với Mc 3,32) ta thấy: mẹ và anh em Chúa Giêsu hay và Ngài trả lời: “Mẹ và anh em ta là những người nghe và giữ lời Thiên Chúa”. Cũng y như vậy trong trình thuật tiệc cưới Cana của phúc âm Gioan. Do đó đây chính là một điểm giáo huấn khiến người ta duy trì điểm này. Và giáo huấn đó là việc Chúa Giêsu xác quyết Ngài thuộc về một vũ trụ khác với vũ trụ gia đình nhân loại.

Lời quả quyết này được biểu lộ qua chính lối cư xử của Chúa Giêsu: việc Ngài không báo trước cho cha mẹ Ngài hay chứng tỏ Ngài độc lập với hai Đấng xét như Ngài là Con Thiên Chúa và sự độc lập này được nhấn mạnh bằng lời quả quyết tương phản tiếp đó về sự tùng phục đối với hai ông bà sau khi trở về Nazareth (c,51). Điều ấy chứng thực Ngài lệ thuộc đức Maria và thánh Giuse với tư cách Ngài là con người. Nhưng hành vi của Chúa Giêsu được biểu lộ cách minh nhiên qua lời Ngài nói: “Con phải ở tại nhà Cha con” (2,49), câu nói đối chiếu tử hệ thần linh của Chúa Giêsu với mối dây họ hàng thuần nhân loại được gợi qua câu “cha và mẹ hằng tìm con”.

8. Người ta có thể tự hỏi tại sao chỉ mình Lc ghi lại giai thoại này thôi. Dường như có ba lý do: lý do thứ nhất là vì giai thoại đã xảy ra trong đền thờ (2,46). Mà như chúng tôi đã lưu ý, Lc rất thích nói đến chủ đề đền thờ. Tin mừng của ông khởi đầu với việc thiên thần Gabriel hiện ra cho Giacaria trong đền thờ; rồi tiếp đến là việc dâng Chúa Giêsu vào đền thánh. Do đó thật dễ hiểu khi Lc ghi lại một giai thoại cho phép ông kết thúc phần đầu này của phúc âm bằng cách ám chỉ đến đền thờ, như ông sẽ làm với toàn bộ phúc âm (24,53). Lời của Chúa Giêsu: “Con phải ở tại nhà Cha con”, nghĩa là ở trong đền thờ, đem lại cho sự hiện diện của Chúa Giêsu tại đó chiều kích biểu tượng nói lên việc Chúa Giêsu trở về nhà Cha Ngài.

Nhưng từng ấy không thể giải thích được tại sao Lc, khác với Mt, đã ghi lại một giai thoại liên quan đến thời niên thiếu của Chúa Giêsu. Sở dĩ ông ghi lại là vì, hơn các tác giả phúc âm khác, ông hằng quan tâm đến việc trình bày cho chúng ta một “tiểu sử” của Chúa Giêsu hợp với qui định của văn thể tiểu sử thời đó. Mà những “tiểu sử” này, theo sách Haggada Do thái và sách hiền nhân Hy lạp chú tâm nhiều đến thời niên thiếu. Vì vậy Lc đã muốn lấp đầy khoảng trống giữa những trình thuật về thời thơ ấu và những trình thuật về thời công khai của Chúa Giêsu. Nội dung của thời kỳ này được nói rõ qua hai câu mở và kết thúc đoản văn. Trong hai câu này (2,40 và 2,52) đều nói đến vấn đề Chúa Giêsu lớn lên trong sự khôn ngoan (sophia). Nếu nội dung chính yếu của phúc âm thời thơ ấu là như thế đối với Lc, thì việc ông chọn một giai thoại để làm nổi bật sự khôn ngoan vô song của Chúa Giêsu là một điều dễ hiểu.

Nhưng ngoài việc tôn trọng những qui luật của thể văn lịch sử còn một lý do tín lý nữa. Trong Kitô giáo chúng ta thấy xuất hiện rất sớm một trào lưu tư tưởng cho rằng Chúa Giêsu là một con người như bao người khác, được sinh ra do cuộc hôn nhân giữa đức Maria và Giuse, nhưng Chúa Thánh Thần đã xuống trên Ngài khi Ngài chịu phép rửa để biến Ngài trở nên tiên tri cao trọng nhất. Dòng tư tưởng này là của những Kitô hữu gốc Do thái, những người Ebionites và của một vài nhà ngộ đạo. Phúc âm Mc, khai mạc đời Chúa Giêsu với phép rửa, có thể là cơ hội cho quan điểm này. Nên đây có thể là một trong những lý do thúc đẩy Lc minh chứng rằng Chúa Giêsu đã ý thức mình là Con Thiên Chúa từ lúc thiếu thời, để bài bác sai lầm của tư tưởng kia. Chúng ta thấy có chuyện tương tự như thế trong phúc âm Gioan, nếu thực sự Gioan cũng nhằm bác bỏ thuyết ảo thân của Cérinthe.

KẾT LUẬN

Giai thoại này xuất hiện như là câu kết và điểm hội tụ của toàn thể Tin mừng thời thơ ấu. Đồng thời đó cũng là một bài giáo lý với hai khía cạnh: khía cạnh luân lý (sự vâng phục của Chúa Giêsu) và khía cạnh mầu nhiệm (sự biểu lộ mầu nhiệm phục sinh). Thật ra chính khía cạnh thứ hai mới trổi vượt hơn. Điều đã khiến Lc chọn lựa giai thoại “tìm lại Chúa Giêsu” đây, với các chi tiết (khung cảnh lễ vượt qua, Giêrusalem, đền thờ, ba ngày…) và lối trình bày đặc biệt, chính là hoài bão muốn bày tỏ, trong thời thơ ấu Chúa Giêsu, các dấu chỉ báo trước cuộc tử nạn và việc trở về cùng Cha bằng cái chết, là điểm chính yếu trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Từ khi còn niên thiếu, Chúa Giêsu đã ý thức rằng Ngài sẽ phải trở về cùng Cha trên trời ngang qua một cái chết khủng khiếp đã được thánh kinh tiên báo (Is 53; Tv 22,69…) và cũng theo lời thánh kinh (Os 6,2); 2V 20,5), người ta chỉ gặp lại ngài sống lại sau ngày thứ ba. Đó là tất cả mầu nhiệm Tử nạn – phục sinh mà Ngài muốn sống một cách biểu tượng để chuẩn bị cho đức Maria và thánh Giuse, trước khi sống một cách đích thực. Đấy là ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay. Xét cho kỹ, chúng ta sẽ khám phá rằng mọi giai thoại về cuộc đời Chúa Giêsu, mới thoạt nhìn xem ra quá tầm thường, nhưng luôn luôn chỉ nói về mầu nhiệm trung tâm của số phận Ngài và của đức tin Kitô giáo của chúng ta: cuộc tử nạn – sống lại của Đấng cứu thế, mầu nhiệm phục sinh. Đối với chúng ta cũng vậy, những biến cố tầm thường trong cuộc sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi giúp chúng ta sống mầu nhiệm phục sinh trong thân xác chúng ta, nghĩa là vượt qua (:Pâques) cuộc sống con người để sống chính cuộc sống Thiên Chúa. Chúng ta cũng chỉ có một số phận” là ở trong nhà Cha chúng ta, không phải bằng cách ở trong nhà thờ suốt ngày (Chúa Giêsu không ở lại trong đền thờ nhưng đã trở về Nazaret) song bằng cách sống dưới cái nhìn của Chúa Cha, bằng cách chết cho mình mỗi ngày, cho tính ích kỷ tự nhiên để hoàn toàn sống đời tình yêu mà Chúa Cha hằng mời gọi.

2. Chúa Giêsu đối chiếu thánh Giuse, cha nuôi của Ngài với Cha trên trời: “Cha con và mẹ tìm con” – “Cha mẹ không biết rằng con phải ở tại nhà Cha con sao?”. Tử hệ thần linh của Chúa Giêsu vượt trên mọi mối liên hệ nhân loại. Ai yêu gia đình mình hơn Đấng Kitô thì không xứng đáng với Ngài (x. Mt 10,37).

Sứ mệnh của Chúa Giêsu giả thiết một sự vượt qua các đòi hỏi thiết yếu của gia đình. Để thực hiện sứ mệnh này, Chúa Giêsu một ngày kia sẽ bỏ gia đình để hoàn toàn hiến thân cho Nước Trời. Giai thoại về cuộc đi tìm Chúa Giêsu đây đã là một loan báo, một báo động về sứ mệnh tương lai của Ngài. Đức Maria và thánh giuse chưa hiểu điều đó, nhưng khi đến giờ chia ly dứt khoát, các Ngài sẽ không chống lại thánh ý Thiên Chúa. Mọi gia đình Kitô giáo đích thực cũng thế, phải rập theo khuân mẫu của thánh gia thất. Cha mẹ đừng bao giờ chống lại ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ của con cái mình, cũng như đừng chống đối việc con cái lập gia đình khi đã khôn lớn. Muốn giữ con cái lại cho mình với bất cứ giá nào là một hình thức ích kỷ không thích hợp với tình yêu Kitô giáo đích thực.

3. Nhưng sự độc lập của Chúa Giêsu cho ơn gọi thần linh của Ngài không có nghĩa là một sự thoát ly quá sớm; việc Ngài lưu lại Giêrusalem không phải là bất tuân nhưng là tuân phục một mệnh lệnh lớn hơn. Người sẽ chứng minh điều đó ngay lập tức bằng việc hoàn toàn vâng phục thánh Giuse và đức Maria ở Nazaret. Và suốt phần còn lại của đời Ngài, Ngài vẫn nêu gương về điểm đó cho mọi thời đại; qua gương sáng của Ngài, Ngài cho thấy quyền bính của cha mẹ và sự vâng phục của con cái là luật lệ thánh trong nền giáo dục Kitô giáo. Điều đó còn đi xa hơn nữa khi Chúa Giêsu – con Thiên Chúa đã phải tùng phục mệnh lệnh của hai người đơn sơ và chất phác.

4. Chúa Giêsu lạc mất: việc Ngài tự ý biến mất không thể qui trách cho thánh Giuse và đức Maria là những vị đã hết lòng săn sóc lo lắng cho Ngài. Chuyện xảy ra đã vượt quá mọi tiên liệu. Khi trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cảm thấy khô khan, nghi ngờ, tối tăm, cảm thấy Chúa Giêsu dường như ẩn khuất và lẩn tránh lời cầu nguyện của chúng ta, điều đó có thể một phần vì lỗi chúng ta. Nhưng cũng có thể là Chúa Giêsu muốn lẩn khuất để thử thách chúng ta (Lc 24,28). Ngài nói với chúng ta: “Còn một ít lâu nữa, các con sẽ lại thấy Ta” (Ga 16,16-19). Trong khi chờ đợi, đừng cam chịu xa cách Chúa Giêsu: “Hãy tìm và sẽ gặp”. Như đức Maria và thánh Giuse, phải đi tìm kiếm Chúa cho đến khi gặp được Ngài.

5. Chúa Giêsu đã muốn trở thành người hoàn toàn, biết qua những giai đoạn tăng trưởng, phát triển của đời người. Nhưng Ngài cũng muốn thánh hóa lao động, tình yêu gia đình và muôn ngàn chi tiết của cuộc sống thường nhật. Chính trong khung cảnh gia đình và lao động mà chúng ta có thể sống tốt làm con Chúa, sống hạnh phúc vì được ở nhà Cha.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tham khảo thêm

SUY NIỆM NGÀY LỄ

Lên đầu trang