Người phú hộ xấu bụng và Lazaro nghèo khổ – Chúa Nhật XXVI Thường niên – Năm C

NGƯỜI PHÚ HỘ XẤU BỤNG VÀ LAZARO NGHÈO KHỔ

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN – NĂM C

(Lc 16,19-31)

1. Trình thuật có tính cách dụ ngôn này là của riêng Lc, được ông lồng vào “phần giữa” của phúc âm. Trình thuật này rất ăn khớp với toàn bộ tác phẩm, trong đó Lc thường đề cập đến người giàu kẻ nghèo để khuyến cáo hay khích lệ họ tùy trường hợp. Nó cũng rất ăn khớp với chủ đề của hầu hết chương 16, mà nó là đoạn kết thúc: sử dụng của cải để được cứu rỗi cá nhân; chính trong nhãn quan cứu độ mà con người phải biết sử dụng của cải trần thế (16,1-13), dù các người biệt phái nghĩ thế nào đi nữa (cc.14-15), sử dụng của cải một cách khác sẽ đưa đến khốn khổ bất hạnh ở thế giới bên kia (cc. 19-31). Tuy nhiên, tương quan của trình thuật này với các câu đi ngay trước nó (cc.16-18) xem ra không có, dù có tiếng phụ ngữ dé được đặt ngay sau chữ thứ nhất câu 19a. Quả thế, các câu 16-18 không đề cập đến của cải, mà nói về cách chiếm đoạt vương quốc, về sự trường tồn của lề luật và về tính cách bất khả phân ly của hôn nhân. Bởi đó văn mạch của trình thuật chúng ta đang nghiên cứu không rõ ràng mấy.

2. Ngay cả bản văn trình thuật cũng làm các nhà chú giải ngạc nhiên phần nào. Họ bỡ ngỡ vì trình thuật không có lời dẫn nhập chính đáng (ví dụ hãy so sánh với Lc 15,1-3), cũng như không có phần áp dụng ở cuối của cải để làm nổi bật bài học (so sánh với Lc 15,7.10). Bởi đó họ có rất nhiều cách phân chia hoặc hiểu ý nghĩa đích thật của bản văn này. Tên riêng của người ăn mày cũng làm họ ngạc nhiên, vì các dụ ngôn không bao giờ nói đến tên tuổi, lý lịch của các nhân vật. Do đó người ta suy diễn dù hơi hấp tấp, nhất là trong quá khứ (x.Tertullien, De Anima, VII), rằng bản văn này kể lại một câu chuyện có thực, chứ không phải là một trình thuật có tính cách dụ ngôn. Nhưng làm sao một câu chuyện có thực lại có thể xảy ra theo sát một chủ đề văn chương nối tiếp như thế ở miền Trung Đông cổ xưa, và làm sao câu chuyện có thực đó lại chất chứa biết bao nét có tính cách dụ ngôn như thế (việc mô tả thế giới bên kia, cuộc đối thoại giữa Abraham và người phú hộ…)

3. Cảnh đầu tiên của dụ ngôn trình bày một mâu thuẫn sống động. Hai nhân vật có hai địa vị xã hội hoàn toàn chênh lệch đối diện nhau ở đây: một người giàu có thường xuyên dư đầy của cải, một kẻ nghèo khó thường xuyên thiếu thốn ngay cả những gì cần thiết để sống. Người giàu có không những không cần lao động để sống, mà còn được sử dụng một gia tài kếch xù. Ông ăn mặc sang trọng với gấm tía, nhung lụa như một hoàng tử; ngày ngày yến tiệc linh đình. Bản văn không cho biết tên ông, chỉ có một vài thủ bản (Sahidique; p.75) vì muốn chứng tỏ bản văn này là một bản văn lịch sử, nên gọi ông ta là Nevès, Ninveveh hay Pinées. Người nghèo khó sống trong trình trạng còn cùng cực hơn cả người phải vất vả lao động để kiếm ăn, ông là một người ăn mày (ptôchos), một tên hành khất kém may mắn, đầy bệnh hoạn và tứ cố vô thân. Ông chỉ ao ước ăn những gì rơi rớt từ bàn ăn của người giàu có. Về điểm này, có nhiều thủ bản Latinh (Vulg.) đã đồng hóa cách quá đáng ông ta với người con hoang đàng đang chết đói “không ai cho ăn” (Lc 15,16). Sức khỏe ông thật mong manh, vì đầy ung nhọt đến độ không còn sức xua đuổi bầy chó đến liếm vết thương lở lói của ông. Ý nghĩa biểu trưng của cái tên được gán cho ông, còn nói rõ hơn nỗi khốn khổ hiện tại của ông và sửa soạn cho ý tưởng Thiên Chúa sẽ giúp đỡ ông sau khi chết (cc.22tt). Lazarô, viết tắt chữ Eléazar, có nghĩa là Thiên Chúa giúp đỡ. Quả thực, không có dụ ngôn nào khác nói đến các nhân vật của nó. Tuy nhiên chúng ta đừng vội ngạc nhiên về trường hợp dị thường đang gặp, là trường hợp bản văn sống động hơn. Vì trong các trình thuật giả tưởng của Thánh kinh, các vị anh hùng cũng được đặt tên riêng (Ruth, Esther, Giuđit…).

Trong cảnh đầu tiên của dụ ngôn này, ngoài việc mô tả khéo léo hai nhân vật đối nghịch ấy, còn có một cái gì đó sâu xa hơn nữa. Trước khi nghe tiếp câu chuyện, một thính giả Do thái khi nghe đến đây có thể rút ra bài học lớn lao: việc nhắc lại các lời khuyên nhủ trong Thánh kinh về bổn phận người giàu có đối với người nghèo. Đã nhiều thế kỷ ở Israel, các sách thánh không ngừng nhắc lại lối xử thế đối với người nghèo đã mạnh mẽ chống lại việc vi phạm các lối xử thế đó, đã nói đến Thiên Chúa như là đấng bênh vực người nghèo, đã gán cho đấng Messia tương lai phận vụ tái xác định giá trị của người nghèo, nhất là nhấn mạnh đặc biệt đến bổn phận bố thí và ân cần chỉ rõ những hình thức bố thí khác nhau. Việc bố thí vào thời của dụ ngôn được coi trọng trong môi trường Do thái đến nỗi người ta luôn lưu tâm đến vẻ bề ngoài của việc bố thí (x.Mc 7,9-13; 12,40). Do đó trong cảnh này, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy một người giàu có đang có một cơ hội thường xuyên, qua con người ăn mày, để sử dụng của cải như Thánh kinh thường dạy, nhưng vì họ hà tiện ông đã không chụp lấy cơ hội đó. Người giàu có này không thể tha thứ, vì ông biết Thánh kinh như mọi người Do thái khác, có đầy đủ của cải, luôn có người nghèo trước mắt, đã nhận thấy nỗi khốn cùng tột độ cũng như có khả năng cải thiện trình trạng khốn cùng đó. Nhưng ông đã không làm gì cả, vẫn bỏ rơi người nghèo bên vệ đường, kiếm đồ ăn dơ dáy, bị mụn nhọt hành anh khổ sở.

Cuối dụ ngôn, bài học chúng ta vừa nhấn mạnh trở nên sáng tỏ hơn cốt để toàn bộ dụ ngôn được đồng nhất. Quả thế, thái độ của người giàu có không phù hợp với giáo huấn của lề luật và các tiên tri. Nếu đã tuân theo giáo huấn này, chắc ông đã hoán cải (cc. 29-31). Nhưng ngay cả trước khi đọc phần kết quả của dụ ngôn, độc giả phúc âm thứ ba đã được chuẩn bị để rút tỉa bài học rồi. Kỳ thực, phải chăng độc giả, trong mạch văn của phần trước đã chẳng đọc thấy rằng: phải sử dụng của cải đòi này để mưu ích cho tương lai (Lc 16,1-8), rằng việc bố thí nhằm chuẩn bị cho tương lai đó, nghĩa là cho được vào nơi cư ngụ vĩnh cửu (cc. 9-12), rằng của cải tự nó không phải là dấu chỉ được Thiên Chúa chúc phúc, không phải là dấu chỉ của con người thánh thiện, như các người Pharisêu giàu có xấu bụng thường nghĩ (cc.14-15) ? Học thuyết trên đã trở nên một trong các chủ đề để dạy giáo lý tiên khởi (x.Lc 10,29-37; 12,13-21; 14,13-14…). Thánh Giacobê đã là người hăng say phổ biến học thuyết đó, bằng cách dùng các kiểu nói Chúa Giêsu đã dùng (Giac 5,1-6).

4. Sau cảnh sống tại thế của kẻ giàu người nghèo, tác giả nói đến cuộc sống của họ bên kia thế giới, sau khi từ trần. Cũng đối nghịch giữa cảnh huống của hai người, nhưng đã đảo ngược hoàn toàn. Lần này người giàu ngồi chỗ rốt, chỗ đau khổ khốn cùng; người nghèo ngồi chỗ nhất, chỗ hạnh phúc. Điều này được diễn tả qua ngôn ngữ tượng hình của thời đó. Quả thế các ngụy thư và văn chương của các thày rabbi đã nói đến các thiên sứ mang linh hồn các người công chính về bên kia thế giới (x. Le Testament d’Abraham, l’Assomption de Moise, le Targum in Cant. 4,12). Chúng cũng nói đến địa nhục (hades, c.23), là từ ngữ dịch từ chũ Shéol, cũng như nói đến chỗ ở của mọi người quá cố, và thường phân biệt trong đó cũng như trong dụ ngôn này, có hai vùng cách biệt đối nghịch nhau. Các người công chính được vào nơi mát mẻ, có tiệc tùng linh đình (Eđen, thiên đàng), còn người gian ác bị giam cầm trong nơi đầy lửa thiêu đốt (Ghéhenne, hỏa ngục)(x.4sd; 4Mcc; Hén; 2Baruch; Talmund: Bêrrâkôth 28b; Derêk’êrêtz rabba 1,1; 3,1…).

Khi nói theo ngôn ngữ qui ước đó, Chúa Giêsu hoàn toàn không muốn mặc một giá trị tuyệt đối cho tất cả mọi chi tiết trong dụ ngôn; phù hợp với thể văn dụ ngôn, Ngài chỉ giữ lại ở đây ý tưởng tổng quát. Sau khi chết, người nghèo lập tức được hưởng hạnh phúc, được an ủi (c.25), được ngồi trong lòng Abraham (cc.22-23); thành ngữ sau cùng này có thể ám chỉ người nghèo đã được tiếp đón như đứa con hoang đàng trở về được cha mình ôm vào lòng (x.Lc 15,20), hay đúng hơn, ông ta đã được đặt ngồi bên hữu Abraham trong bàn tiệc thiên đàng (x.Mt 8,11; Lc 11,13.27-28; Gio 13,23.25). Còn người giàu có sau khi được chôn cất tại trần thế này, chứ không phải ở “địa ngục”, như các bản dịch Latinh (Vulg; VI, c.e.l.r) lập tức bị trừng phạt. Người ta không thể chứng minh việc đề cập đến sự chôn cất là phương thế cuối cùng được dùng để làm nổi bật sự sang trọng lộng lẫy của người giàu có. Nhiều người cho việc đó có nghĩa như thế, nhưng điều đó có thể chỉ là cách làm nổi bật việc ông vĩnh viễn ra đi hay việc ông chấm dứt cuộc sống tại thế.

Cuộc đối thoại giữa người phú hộ và tổ phụ Abraham (cc.24-26) muốn cho thấy rằng những người Do thái xấu nết, sau khi chết, không được hưởng nhờ công nghiệp của tổ tiên họ; hẳn nhiên Abraham là cha của họ (c.24), nhưng điều đó không giúp gì cho ơn cứu rỗi của họ (x. Mt 3,9; Gio 8,37-58). Số phận của họ ở thế giới bên kia tùy thuộc cuộc sống tại thế của họ (c.25) cách dứt khoát (c.26). Vực thẳm không thể vượt qua ở địa ngục biểu trưng tính cách dứt khoát của số phận bên kia thế giới. Còn cách nói: cuộc sống tại thế xác định số phận cuộc sống ở thế giới bên kia (c.25), làm người ta bỡ ngỡ nếu bị tách biệt khỏi mạch văn. Trong trường hợp đó, hình như chỉ có luật về sự đảo ngược trật tự xã hội là còn giá trị mà không tham chiếu đến luật luân lý và sự công bằng của Thiên Chúa. Nguyên tắc trong câu 25, phải được chú giải dựa vào các điều đã nói ở trên (cc.19-21) và sẽ nói sau này (cc.27-31). Người giàu có chỉ bị trừng phạt vì khi còn sống tại thế không biết dùng của cải đúng cách. Đối lại, người nghèo khó chỉ được tưởng thưởng vì đã chấp nhận tinh thần của Thánh kinh sự thiếu thốn ông phải chịu: ngay cả tên của ông (người được) Thiên Chúa giúp đỡ cho thấy ông đã bị loài người bỏ rơi, nên ông đã phó thác cho lòng Chúa xót thương. Sự giàu có cũng như nghèo khổ không phải là những giá trị tuyệt đối, vì cái chết làm cho chúng phải tiêu tan. Với ơn Chúa, đấng tạo dựng của cải, các kẻ giàu có mới có thể được cứu rỗi (Lc 18,24-25); và nếu không có tinh thần siêu thoát đích thực, người nghèo cũng có thể bị diệt vong (Lc 12,13-14; 14,25-27).

5. Cuộc đối thoại giữa người giàu có và tổ phụ Abraham xem ra đã kết thúc. Và này Lc lại nói đến nó dưới hình thức hai bài đọc. Trước tiên ông xác định giáo huấn về cách sử dụng tốt của cải (cc.27-29), là giáo huấn cho đến lúc đó chỉ được giả thiết là có, hơn là đã được định thức (plus supposé que formulé). Sau đó ông làm nổi bật lý do đích thật của việc không chịu hoán cải (cc.30-31). Việc nhắc lại cuộc đối thoại này, làm liên tưởng đến các dụ ngôn có hai lược đồ bổ túc nhau (x.Lc 15,11-32; Mt 20,1-6; 22,1-14…). Nó cũng gợi lên các áp dụng thực tiễn thường theo sau hình ảnh hay câu chuyện dụ ngôn: cũng như… cũng như…; việc này có áp dụng cho 5 người anh em giàu còn sống của nhà phú hộ đã qua đời?

Lối sống của nhà phú hộ đã qua đời đang được nhiều người tại thế bắt chước, các anh em ông cũng giàu có như ông, cũng đã sử dụng của cải cách ích kỷ. Họ sẽ phải chịu đựng cùng một án phạt, nếu không chọn một lối sống khác, là lối sống từ bi với người nghèo. Họ cần được báo động rồi, lời báo động này đã được chất chứa trong các lời khuyên răn của lề luật và của các tiên tri, về việc sử dụng của cải. Họ hãy lưu ý đến để tuân giữ, nhờ đó sẽ được cứu rỗi (c.29). Quả thực, chính Chúa Giêsu đã nói thế qua miệng Abraham, chính Ngài ngỏ lời với toàn thể cử tọa giàu có của Ngài. Ngài khẳng định với họ là đã có trong các sách thánh ánh sáng cần thiết để sử dụng của cải một cách thiết thực, đem lại phần rỗi cho họ. Khi hoàn toàn chịu trách nhiệm về thái độ tại thế của họ và về hậu quả tất định do thái độ đó gây ra, là điều đã được Ngài diễn tả bằng chữ: chúng hãy nghe (lề luật và các tiên tri), Chúa Giêsu muốn cho họ hiểu rằng họ đã nhận được từ Thiên Chúa ánh sáng cũng như sức lực đủ để đáp lại lời mời gọi của lề luật và các tiên tri (x.Lc 18,27). Vậy nguyên tắc đã được định thức ở trên, về việc đảo ngược hoàn cảnh mỗi người sau cuộc sống này (c.25), không có giá trị tuyệt đối, nguyên tắc đó chỉ đưa ra một việc có thể xảy ra đặt cơ sở trên luân lý.

Qua trung gian các đối thoại viên đó, Chúa Giêsu thêm rằng các phương thế thông thường đó đủ gây nên lòng thống hối (metanoia) nơi các người giàu ích kỷ, và làm cho họ sử dụng tốt của cải trần thế này. Quả quyết ngược lại là sai lầm, Ngài đã nói rõ như thế (c.30). Hơn nữa, việc từ chối các phương thế thông thường đó làm cho người có trách nhiệm đây không thể nhận ra sức mạnh thuyết phục của các phương thế phi thường bất ngờ xảy đến, cho dù có người chết hiện ra để xác quyết nỗi khốn cùng vĩnh cửu mà ông đang phải chịu (c.31). Vậy lý do đích thực của lòng thống hối cái không phải là vì không đủ phương thế đã đề nghị trước đây, phần cuối của dụ ngôn (cc.27-31) thật ăn khớp với toàn bộ dụ ngôn (cc.19tt). Không nên tách nó ra khỏi toàn bộ đó. Thật là vô căn cứ khi xem đây là một phần được thêm vào sau này, có giáo thuyết khác biệt, ít nhiều liên hệ với trình thuật Lazaro sống lại ở Bêtania, hay với trình thuật Chúa Giêsu phục sinh.

Nếu liên kết dụ ngôn này với văn mạch trực tiếp và với các bản văn khác xa hơn, ta có thể tin rằng ở đây Chúa Giêsu nhắm đến các người biệt phái xấu xa lúc bấy giờ; họ là những người ham mê tiền bạc, đã lên mặt khinh khỉnh khi nghe khuyên nên làm phúc bố thí (Lc 16,9.14); họ “họ ngốn cả nhà cửa các bà góa” (Lc 20,47); họ khinh chê lề luật, và dạy con cái lường gạt cha mẹ để lấy đồ trong gia đình (Mc 7,9-13); họ đòi xem các dấu lạ mới tin vào giáo huấn họ nghe (Mt 12,38-42; Lc 11,29-32); cuối cùng khi được thấy các dấu lạ đó, họ vẫn cứng lòng tin (Gio 11,46-53; Mt 27,62-66). Trong cảnh này, khó mà thấy là Chúa Giêsu ngỏ lời với các người Sadducêô, là những kẻ không tin vào sự sống lại (Mt 22,23), và lối sống của họ dựa trên niềm xác tín này là: chết là hết. thực ra, dụ ngôn không dạy về học thuyết có sự sống lại và cũng không cho thấy người giàu có xấu bụng đã sống ích kỷ vì không chấp nhận học thuyết đó. Trái lại người giàu có đó cũng như nhiều kẻ đồng đạo của ông thời bấy giờ tất có thể nghĩ rằng của cải dư dật của họ là dấu chỉ họ được Thiên Chúa chúc phúc (Lc 16,15; 18,26). Vì vấn đề thưởng phạt chỉ được làm sáng tỏ rất chậm tại Israel. Từ đó có thể kết luận ông là người thánh thiện.

6. Để kết thúc cuộc phân tích này, chúng ta hãy cố gắng vắn tắt ghi lại những bài học có được trong dụ ngôn này. Điểm thiết yếu Chúa Giêsu dạy là: số phận sau khi chúng ta chết liên hệ với việc chúng ta sử dụng của cải trần thế này. Ngài cũng dạy, nếu của cải có thể gây nhiều nguy hiểm, thì Thiên Chúa cũng ban cho chúng ta nhiều phương thế cần thiết để đương đầu và chiến thắng; rằng người ta không chịu hối cải là vì cứng lòng không chịu tuân theo các phương thế đó, chứ không phải vì thiếu phương thế; rằng số phận sau khi chết là không thể thay đổi (c.26). Điều này không loại bỏ sự hiện hữu của luyện ngục, bởi vì luyện ngục là đường dẫn lên thiên đàng. Luyện ngục dứt khoát qui định số phận người quá cố sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Tuy nhiên Chúa Giêsu không có ý nói hết mọi điều trong một dụ ngôn. Ở đây Ngài chỉ nói đến trường hợp một người hoàn toàn từ chối không nghe lề luật, cứng lòng không chịu hối cải. Trong các bản văn khác, Ngài đề cập đến các tội có thể được tha (Mt 5,19; 12,32; …) và qua đó Ngài bỏ ngõ không xác định gì thêm về “tứ chung”. Trong dụ ngôn này Ngài có dạy điều gì về sự nghèo khó không? Nhiều người nghĩ là có. Tuy nhiên không chắc mấy vì trong bản văn này, tất cả đều hướng về người giàu có. Hình như việc đề cập đến bản thân người nghèo khó ở đây chỉ đề làm sáng tỏ bản thân người giàu có, để giải thích thái độ ích kỷ của ông, cũng như để làm nổi bật hình phạt đang chờ đón ông, và để đưa ra mẫu đối thoại, từ đó vụt ra nhiều bài học hữu ích.

KẾT LUẬN

Người giàu có được nhiều của cải nên cảm thấy được bảo đảm, không cần hy vọng và niềm an ủi của Thánh kinh (Rm 15,4). Ông đã giả điếc làm ngơ trước lời Thiên Chúa và tiếng Ngài mời gọi. Của cải và cuộc sống dễ dãi đã làm ông tối mịt tâm trí – và ông đã trở nên mù đối với Thiên Chúa, đối với người nghèo và cuộc sống đời sau. Lazaro đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa vì quá cùng cực nên được nhận vào bàn tiệc của vương quốc Thiên Chúa. Của cải thật là mối nguy hiểm lớn lao.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Hai nhân vật trong dụ ngôn này sống gần nhau mà xem ra không thấy nhau, không gặp nhau. Trong thực tế người giàu có đã không từ chối gì với Lazaro cả. Vả lại, Lazaro cũng không xin ông ta điều gì hết. Đúng hơn hình như người giàu có đã không thấy Lazaro, Lazaro sống ở cửa nhà người giàu có mà ông không bao giờ thấy, không bao giờ lưu tâm đến sự hiện diện của Lazaro. Đối với ông, không có Lazaro. Người giàu có đó tự khép kín trong thế giới của ông. Nếu chỉ tin tưởng vào tiện nghi, của cải, vào “sự phát triển”, con người sẽ trở nên mù quáng. Đó là hậu quả thứ nhất.

2. Hậu quả thứ hai được kể lại trong phần thứ hai của trình thuật. Đó là cái chết đến làm đảo ngược hoàn toàn các địa vị. Lazaro được sống thân mật với Chúa; còn người giàu có phải chịu những hình phạt của hỏa ngục. Qua đó, Chúa Giêsu cho thấy sự lựa chọn của chúng ta khi còn tại thế là những lựa chọn bất khả thay đổi, vì chúng xác định cuộc sống vĩnh cửu của chúng ta. Sau cái chết, tất cả sẽ không thay đổi. Đó là điều Chúa Giêsu nhắn bảo chúng ta ở đây, và giúp chúng ta biết nghiêm chỉnh lựa chọn đúng.

3. Nhiều Kitô hữu không để ý gì đến giáo huấn của Chúa Giêsu về việc lựa chọn khi còn sống tại thế này. Họ sống cách vô thức hoàn toàn; ước chi họ biết lo lắng hơn, vì cuộc sống thực hiện tại qui định cả cuộc sống vĩnh cửu. Đối với kẻ khác, viễn tượng này quá ghê sợ, không phù hợp với lòng từ bi cao cả của Chúa. Làm thế nào một quyết định hệ trọng như thế lại có thể tùy thuộc một phút lỗi lầm?

Phải lưu ý rằng, trong cuộc sống của người giàu có mà tin mừng mô tả, không có vấn đề lầm lạc trong một giây phút nào đó, hay một yếu đuối nhất thời, nhưng là một chọn lựa sâu xa của cả cuộc sống ông. Đàng khác không phải Thiên Chúa xét xử, nhưng chính con người lựa chọn giữa hai cuộc sống với Chúa đi đôi với việc từ bỏ các vương vấn trần tục, nhân bản.

4. Người giàu có khi phải bị đau khổ đã xin Abraham xin Lazaro đến giúp 5 anh em của ông: khi thấy kẻ chết sống lại và sứ điệp của người ấy có lẽ họ sẽ kinh hãi đến độ sẽ thôi mù quáng để tránh khỏi khỏi số phận ghê rợn mà anh cả của họ đang chịu. Chúa từ chối: “Họ đã có Abraham và các tiên tri, cho dù có kẻ sống lại, họ cũng không khuất phục…” Lời đáp trả của Chúa xem ra ghê sợ đối với chúng ta, là những người tưởng rằng một “phép lạ đích thực” sẽ dễ dàng hoán cải bất cứ ai cứng lòng. Nhưng thực tế, nếu không có ý hướng tốt, nếu không có tự do bên trong, thì dù phép lạ cao cả biết mấy cũng không thể lay chuyển tâm hồn người ta được. Lazaro ở Betania đã sống lại từ cõi chết và dẫu vậy ông không thể làm cho người Do thái chống đối Chúa Giêsu hết cứng lòng tin (Gio 11,46tt). Thực ra Thiên Chúa đã thực hiện điều người giàu có xin, vì chính Chúa Giêsu đã phục sinh từ cõi chết. Qua Ngài, Thiên Chúa đã ban cho người biệt phái dấu chỉ họ xin (Mt 12,38-40), nhưng họ cũng không tin. Trái lại, Chúa Giêsu thêm rằng ai tìm kiếm Ngài với một tâm hồn ngay thẳng, sẽ luôn có thể gặp Ngài. Con người đã có sẵn Môisen, các tiên tri và cả phúc âm nữa. Người nào không bị mù quáng vì của cải và tiện nghi, sẽ có thể nghe lời chúa và luôn thấy anh em nghèo khổ bên mình. và bấy giờ, cho dù làm chủ nhiều của cải trước mặt người đời, thì trước mặt Thiên Chúa ông chỉ là người quản lý, người ban phát cho anh em mình đang túng thiếu. Chính vì thế, một ngày nào đó ông đáng được nghe lời này: “Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc. Ta đói, ngươi đã cho ta ăn…” (Mt 25,34-35).

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top