THÓI ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ LÒNG QUẢNG ĐẠI THỰC
CHÚA NHẬT XXXII QUANH NĂM B
(Mc 12, 38 – 44)
CÂU HỎI GỢI Ý
1. Hai đoạn văn này (cc.38-40 và 41-44) được liên kết với nhau ra sao trên hình thức?
2. Ở đây Chúa Giêsu quở trách các ký lục về mấy điểm?
3. Đâu là ý nghĩa xét riêng của trình thuật bà góa?
4. Tại sao Mc ghi chú nơi c.43: Chúa Giêsu gọi các môn đồ và giải thích cho họ về cảnh tượng?
5. Lấy ý niệm nào để tổng hợp cả hai đoạn văn?
Hai đoạn văn của Mc về thói quen của các ký lục và về đồng tiền của bà góa ít nhất được liên kết với nhau bằng một tiếng móc, phương pháp đặc biệt của “thể văn nói từ “những bà góa” mà các ký lục bóc lột hết nhà cửa, người ta đi sang “bà góa” bỏ hai đồng vào Hòm tiền. Ngoài ra hai giai thoại đều được định vị tại Giêrusalem và rõ rệt hơn trong Đền thờ; nơi Chúa Giêsu được coi như không rời khỏi từ Mc 11,27 trở đi (x. 12,35 và Lc 20, 1). Phải chăng không có một ý tưởng ngầm nào liên kết hai bản văn ấy?
Hai cảnh cũng gặp lại trong Luca (20,45-21,4) với những từ ngữ khá như nhau và một thứ tự in hệt; Lc 20,46 còn gần với Mc 12,38b-39 hơn là chính bản văn của ông nữa (11, 43), bản văn nằm chen trong trình thuật “du hành” (9,51-18,14). Chắc chắn là Lc 20,45-21,4 đã theo Mc hoặc một nguồn chung cho cả hai (bản Mt Aram được dịch?) hoặc theo Mc lẫn nguồn chung đó. Những thay đổi nhẹ nhàng mà Lc hình như đã làm đối với bản văn của Mc hoặc nguồn chung, chỉ nằm trên phương diện bút pháp; nhưng nội dung chung của bản văn làm nổi bật những chủ đề quen thuộc với ông hơn là với Mc.
I. THÓI GIẢ HÌNH CỦA CÁC KÝ LỤC (12 , 37b – 40)
Lời kết án các ký lục, theo đoạn này của Mc và theo đoạn song song Lc 20,45tt, có nhiều điểm giống lời kết án Biệt phái cùng luật sĩ trong Lc 11,37-54; đặc biệt Lc 11,43 song song với Lc 20,46. Các dữ kiện của hai đoạn văn Lc đều được nhập lại và khai triển trong chương 23 của Mt, với ít nhiều dị biệt trong những câu song song. Theo một phương pháp thông thường, Mt đã tổng hợp lại các lời Chúa Giêsu quở trách ký lục và biệt phái, trong lúc Lc để riêng ra các đóng góp của hai nguồn chính của ông, mà một có lẽ là Mc hay (vài tác giả nói “và”) một nguồn chung cho cả ba thánh sử. Ở đây không có gì cho phép giải quyết ngay “vấn đề Nhất lãm” được. Nhưng các câu song song của Lc và Mt đặt ra một câu hỏi kép: các địch thủ thật sự của Chúa Giêsu trong dịp này là ai; người đã nói những lời đó khi nào?
1. Các địch thủ của Chúa Giêsu
Một khi lưu ý đến các hoàn cảnh lịch sử, ta sẽ thấy các lời quở trách ký lục ở Mc 12 (Lc 20 ; Mt 23) nằm đúng chỗ hơn là trong Lc 11, nơi mà chúng ta tìm thấy phần lên chất liệu được sưu tập bởi Mt 23. Các lời quở trách đó được đặt trong khung cảnh tuần lễ sau cùng, ở điểm đoạn tuyệt giữa Chúa Giêsu với các địch thủ, những kẻ đã chúng tỏ dứt khoát dã tâm của họ và đã âm mưu giết người (Mc 11,18; Lc 19,47, Mt 21 ,46). Thành ra không phải là vô lý mà Mc và Lc chỉ giữ lại ở đây những lời cáo trách tương đối nhỏ, để biến đoạn này thành phần bổ túc và kết luận cho loạt đấu khẩu trước đó (Mc 11, 27-12,37a và ss) {“Y như đã tấn công giáo huấn của các ký lục nơi 12,35-37a, ở đây người ta lên án các thói quen của họ. Mục đích thích đáng này giải thích tại sao chỉ có những lời cáo trách vừa nói trên được ghi lại. Mc hoặc một tiền nhân đã muốn cho thấy sự đoạn tuyệt giữa Chúa Giêsu với các giáo sĩ nên trọn vẹn ở điểm nào”, V.Taylor, The Gospel according to St Mark, Londres, 1957, tr.493t. Ngoài ra, bản văn này còn làm nên một dẫn nhập hay cho diễn từ về sự điêu tàn của Giêrusalem, mà nguyên nhân là sự cứng lòng của các thủ lãnh dân Do thái.
Các thủ lãnh nào vậy? Mc cũng như Lc 20,46 ở đây chỉ nói là các ký lục, trong lúc nơi đoạn song song Lc 11,43, các lời quở trách nhắm đến Biệt phái. Mt liên kết cả hai: “các ký lục và Biệt phái” (23,2). Điều đó vẫn không cho phép ta lẫn lộn họ. Lc đã phòng xa việc lẫn lộn này bằng cách để riêng một diễn từ lên án các Biệt phái (11,39-44) và một diễn từ lên án các ký lục (11,40-52). Tuy nhiên, chính vì phỏng ước, nếu không muốn nói là do lầm lẫn” (J. Jeremies, Jérusalem aux tomps de Jésus; hán dịch Pháp ngữ. Paris,1967, tr.340, chú thích 56) mà cũng đoạn Lc này (11,43) đã cho nhắm vào Biệt phái lời quở trách ham tìm chỗ nhất: đúng ra lời quở trách áp dụng vào các ký lục, như bản văn Mc của chúng ta đây (c.39) và Lc 20,46 xác nhận. Sở dĩ truyền thống Tín Mừng có nhưng lộn xộn đó là do ở chỗ các ký lục, chuyên viên giải thích lề luật phần lớn thuộc phiệt phái, và do ở chỗ các Biệt phái quèn, đoàn viên các công hội mà thủ lãnh và các ký lục, “thường tổ chức đời sống theo những nguyên tắc và quy luật của các ký lục Biệt phái” (A. Michel và J. le Moyne, Dictionnaire de la Bible (supplément) mục pharisiens, 1965, cột 1071).
2. Cử tọa của Chúa Giêsu (cc. 37b-38a)
“Và dân chúng đông đảo vui thích nghe Người. Và trong khi giảng dạy, Người nói…”. Chúng tôi liên kết c.37b vào câu sau hơn là vào câu trước, theo đoạn song song trong Lc 20,45: “Trong khi toàn dân nghe Người thì Người nói với môn đồ như sau:
Mc không đề cập tới các môn đồ, xem ra họ vắng mặt, lát nữa Chúa Giêsu sẽ phải gọi họ (12,43). Mt, vốn ưa lối dồn tụ, đã liên kết “đám đông và các môn đồ” (23,1) cũng như liên kết trong câu tiếp theo “các ký lục và Biệt phái”: ta có thể vẽ lại quang cảnh với nhiều khuôn mặt đặc biệt chăm chú giữa đám đông. Trên bức tranh được cảm hứng từ trình thuật Lc, dân chúng đóng vai trò làm nền, cón Chúa Giê-su thì nói với các môn đồ đang quy tụ trước mặt Người, riêng một nhóm. Khi hạn chế đám thính giả trực tiếp như vậy, có lẽ Lc muốn làm nổi bật tính cách hiện thực của lời Chúa Giêsu cảnh giác đối với các môn đồ thời ông. Kitô hữu không được coi những cảnh giác của Thầy là lỗi thời; họ chẳng tránh được những thói xấu tương tự như các ký lục đâu.
Còn Mátcô, ông không quá bận tâm áp dụng các giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu vào đời sống Kitô hữu thường nhật. Tuy nhiên, “đã không ai hơn Mc trong việc liên kết Chúa Giê-su với các môn đồ” (B. Rigaux, l’émoignage de l’evangile Marc, Bruges, 1965, tr. 157, xem (và so sánh vai các đoạn song song) Mc 1,21.23.36; 3,7; 5,37; 6,1; 8,34; 10,23.40; 11,11.27; 12,43; 14,26.32), Ông đã trình bày các môn đồ dấn thân với Chúa Ciêsu trong việc rao giảng Tin Mừng và chia sẻ thập giá. Sở dĩ ông không đề cập đến các vị ở đây, là vì chỉ muốn nhấn mạnh cuộc tranh chấp ngày càng gia tăng giữa Chúa Giêsu với các tư tế cùng các nhà thần học, cuộc tranh chấp mà ở điểm này của trình thuật, sắp đưa đến thảm kịch Canvê (x. 11,18 và 14,1 : “các thượng tế và các ký lục” ). Trong những điều kiện ấy, việc đề cập tới dân chúng (ochlos, dân chúng theo nghĩa trần tục, không phải laos, toàn dân, như trong Lc 20,5) mặc một màu sắc hơi đáng quan ngại. Nơi Mc, dân chúng khá thiện cảm với Chúa Giêsu cho đến ngày xảy ra vụ án; tuy nhiên đôi khi ông mô tả họ như những kẻ chờ thời, dễ xấu hổ vì Con Người (8,38), cứng tin (9,19). Ông sẽ cho họ xuất hiện lần nữa ở 15,11-14, nơi người ta thấy các thượng tế xúi dục họ xin giết Chúa Giêsu (c.14), sau khi đã hội nghị với hàng niên trưởng và ký lục. Phải chăng thánh sử đã nghĩ đến quang cảnh này rồi khi nhắc lại việc Chúa Giêsu, lúc kết thúc sứ vụ ở Giêrusalem, đã kêu xin dân chúng đề phòng các ký lục nhưng vô ích)? Niềm vui lắng nghe Chúa Giêsu chẳng bén rễ sâu trong họ (Mc 4,16tt), và chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà trong toàn bộ các Tin Mừng, từ ngữ “thích thú lắng nghe” chỉ xuất hiện ở đây và ở mặc 6,20 là đoạn nói Hêrôđê, dù cảm phục sự thánh thiện và lời giảng huấn của Gioan Tẩy Giả, nhưng rồi vẫn không chống cưỡng lại được giản kế của Hêrôđiađê.
3. Thói chuộng hư vinh của các ký lục (cc. 38t-39)
Những lời Chúa Giêsu quở trách các ký lục được trình bày theo một thứ tự đi lên: từ những lối ham chuộng hư vinh (khoe áo khoe quần, thích được chào kính và ngồi chỗ danh dự), người ta đi sang việc bóc lột các bà góa, rồi đến thói giả đạo đức đúng nghĩa, thói đạo đức mà tính cách xấu xa được nhấn mạnh trong câu cuối cùng của đoạn văn. Ở đây chúng ta không cần hỏi các ký lục có hoàn toàn xứng đáng bị tố cáo như thế không: nhiều sử gia nhất là Do thái, đã phủ nhận điều đó; nhưng chính cuốn Talmud (sách chú giải lề luật Do thái) đã công nhận những lời ấy đúng với một số người trong họ và giọng điệu ngôn sứ của các lời cảnh giác hay đúng hơn “các lời nguyền rủa” này cho thấy có một sự ứng quát hóa hơi hơi. Vả lại, toàn thể các Tin mừng có đưa nhiều điểm khiến ta phải điều hòa đôi chút, như Lc đôi khi ghi chú rằng chỉ “một vài ký lục hay Biệt phái” có liên hệ (ví dụ 6,2; 11,15, so sánh với các bản văn song song); Mátcô thì cho thấy (12,28-34) Chúa Giêsu đã có lầu khen một ký lục đầy khôn ngoan; thỉnh thoảng ta gặp vài người phiệt phải “tốt” Nicôđêlnô, Giuse …) và theo Mt (13,52; 23,34; 8, 19), Chúa Giê-su tán dương lý tưởng của người ký lục Kitô giáo.
Trước tiên các ký lục thấy mình bị khiển trách là ưa “dạo quanh, áo quần xúng xính”. Đây chắc là áo talith, một loại áo choàng các giáo sĩ đặc biệt sử dụng. Ví nó phải mang phết đất và vì đoạn song song Mt 23.5 quở trách các ký lục nối dài tua của nó ra (x. Ds 15,37; Đnl 22, 12), nên người ta đã nghĩ rằng lời quở trách ở đây cũng vậy? dạo quanh áo quần xúng xít, nghĩa là nối dài tua áo Talith để tỏ ra là kẻ giữ luật đàng choàng và lôi kéo sự tôn kính. Tuy nhiên, công thức tổng quát hơn của Mc và Lc có thể cũng nói đến độ rộng bắt buộc của áo choàng và phẩm chất của vải. Dầu sao, đây vẫn là sự khoe khoang quần áo: một thói xấu rất phổ thông, xưa cũng như nay, nhưng đặc biệt gây khó chịu và bực mình nơi những người chuyên lo việc thánh bởi vì họ khai thác một uy tín tôn giáo để tìm kiếm vinh dự.
Thói ưa được bái chào nơi công trường là một xấu cùng loại. Trên các công trường xưa ở Đông phương, đầy những kẻ bán hàng và người đi dạo cà ròng, các luật sĩ có nhiều thì giờ để ngây ngất với những cử chỉ tôn kính sâu sắc mà dân chúng coi như một bổn phận phải làm đối với họ. Khai thác uy tín các chức vụ thánh ban cho với một mục đích ích kỷ cùng tầm phào như thế làm cho thói chuộng hư vinh đó tăng thêm sự xấu xa.
Cũng phải nói như vậy về hình thức phô trương thứ ba: “ ưa chỗ nhất trong hội đường và ghế nhất nơi bàn tiệc”. Theo lời chứng của các giáo sĩ về sau thì các ký lục, thừa kế quyền giải thích luật trên “tòa Môisen” (Mt 23,2), thường chiếm trong hội đường những chỗ đặc biệt, quay mặt về phía dân chúng. Nên chẳng lạ gì khi nhiều người đã chiều theo cám dỗ lợi dụng những dấu kính tôn mà họ được hưởng. Và vì sự tôn kính này theo họ khắp nơi nên họ không những tự đắc khoe khoang trong các hội đường, mà còn trong các buổi họp mặt thông thường như yến tiệc. Ở những nơi này thứ tự chỗ ngồi được thu xếp tùy theo danh giá, nên sự tìm kiếm hay mối ưu tư thứ vị có thể mặc sức tung hoành.
Đoạn văn chúng ta đây không phải là chứng từ duy nhất về những lời Chúa Giêsu phê bình một thái độ như vậy. Trong một lời cảnh giác phỏng theo Cn 25,6t Người có nói: kẻ được mời dự tiệc coi chừng bị đổi chỗ và bẽ mặt nếu bò lên chỗ nhất; tốt hơn hãy chọn chỗ chót và gia chủ sẽ làm cho mình được vinh dự khi đưa mình lên chỗ cao hơn. (Lc 14,7-11) [Cũng có một lời cảnh giác trương tự nơi giáo sĩ Shimon Ben Azzai (khoảng 100 năm sau (Chúa Ki-tô): “Hãy tụt xuống dưới chỗ của ngươi hai hoặc ba hàng và ngồi đó; vì thà người ta nói với ngươi: mời ông lên, hơn là: xin ông xuống” (Aboth của Rabbi Nathan 25, được trích dẫn trong DBS, mục đã dẫn, cột 1080]. Nói vậy, Chúa Giêsu chắc không có ý tán thành thời chuộng hư vinh của con người và những tính toán của thói đó, vì đây chỉ là một dụ ngôn (mashal) (c.7) có hình thức nghịch lý mà trong đó cái đáng kể là bài học khiêng tốn cuối cùng, cái bài học nguyên thủy ở đây: “Ai nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (c. 11). Vả lại Lc đã tạo ra quang cảnh gây nên trình thuật như sau: đang khi dùng bữa tại nhà một người Biệt phái, Chúa Giêsu đã nhận xét thấy làm sao các thực khách háo hức chọn lựa chỗ nhất. Một khung cảnh lịch sử như vậy chắc là khó có thể xảy ra, nhưng lời Chúa Giêsu kết án hình thức của hư vinh ấy của Biệt phái và thái độ quỵ ngã ẩn tàng bên trong đã được c.39 của mặc xác nhận rõ. Ai dám bảo lời quở trách này không còn hợp thời, nhất là đối với những người của Giáo Hội? Mt ở đây nhắc lại cách thích thời cho các Kitô hữu một huấn lệnh mà chắc Chúa Giêsu đã nói vào những dịp khác: “Kẻ lớn nhất trong các ngươi sẽ là tôi tớ của các ngươi” (23,11).
4. Bóc lột các bà góa và giả bộ đạo đức (c.40).
Những lời công kích trên đây ít nhất nhắm đến giai cấp đầu tiên trong 7 giai cấp Biệt phái mà sách Talmud có nói rõ: “các Biệt phái vai”, những kẻ mang trên vai các công việc của mình, nghĩa là phô trương để được khen ngợi. Những lời đó tương ứng với câu nói tổng quát hóa cách khắt khe của Mt: “Họ làm mọi việc để được người ta chú ý”(23,5). Tuy nhiên, sau đây còn nhiều lời quở trách nặng hơn.
a. Bóc lột các bà góa
Trước tiên các ký lục ngốn cả nhà cửa của các bà góa”. Thân phận mà lề luật dành cho các bà góa chẳng đáng ao ước bao nhiêu, vì họ không có quyền hưởng gia sản của chồng (x. Ds 27,9-11 ; Lv 17,8-15; 2V 4,1-7). Nhưng ở đây Chúa Giêsu không đổ lỗi cho chính lề luật, Người chỉ lên án các lạm dụng thôi. Người ta đã nghĩ rằng các ký lục, nhờ quá am tường các lý sự vụn luật pháp, đã thành công trong việc tránh né pháp chế hiện hành, gây thiệt hại cho những bà góa đã ký thác tài sản cho họ (x. Mt 15.3-9 và ss); hoặc vì được những bà tận tâm giúp đỡ vật chất cho như Chúa Giê-su (Lc 8,3), họ đã đâm ra lợi dụng lòng quảng lại của các bà ấy. J Jérémias có nói là “nhiều ký lục ăn chực chất lên khai thác lòng hiếu khách của những người nghèo khổ” (J.. Jérémias. sdd, tr.166). Dù sao, khai thác nguồn lợi của các bà góa, hạng người dễ bị tổn thương nhất, là một tội đặc biệt ghê tởm trước mắt nhà làm luật và các ngôn sứ Cựu ước (Xh 22,21tt; Đnl 27, 19; Ds 1,23-10,2; Gr 7,6; 22,3; Tv 94,6) trong khi theo gương Thiên Chúa nâng đỡ cô nhi quả phụ (Đnl 10, 18tt; Tv 68; 146,9; Hc 35,14tt) là một việc thiện đứng hàng đầu (Đnl 14,28tt; 24, 17-22; 26, 12tt; G 29, 1 3; 31,16; Gc 1.27).
Tiếp theo những bài giáo lý Ki-tô giáo đầu tiên có ghi lại lời cảnh giác của Chúa Giê-su, chúng ta có thể áp dụng lời đó cho chính thái độ của chúng ta đối với hết thảy những người yếu đuối, nghèo khổ trong xã hội, và cho mọi bất công mà chúng ta đã có thể khôn khéo biện minh.
b. Giả bộ đạo đức
Lời quở trách sau cùng của Chúa Giêsu cũng là lời nặng nhất: “Họ làm bộ cầu nguyện lâu dài”. Là những kẻ đạo đức giả chính hiệu, một số các ký lục che dấu thói chuộng hư vinh và tội bóc lột dưới một mặt nạ đạo đức; hay ít nhất làm mất ý nghĩa của việc cầu nguyện bằng sự ham muốn được để ý. Lời trách cứ gần giống với Mt 6,5: khi các người cầu nguyện, thì chớ bắt chước bọn giả hình; chúng ưa đứng cầu nguyện trong hội đường và các ngã tư hầu được người ta thấy” Chúa Giêsu không quở trách các ký lục cầu nguyện công khai (chắc Người cũng đã từng làm vậy, ít nhất tại Đền thờ, mặc dầu Tin Mừng không bao giờ nói), hay cầu nguyện lâu giờ, nhưng là đóng kịch đạo đức, hay ít nhất biến hành vi cầu nguyện ra xấu, bằng cách muốn dung hợp với thói phô trương phù phiếm của họ hết thảy những ai có đến thờ phượng chu đáo nhưng vụ hình thức và thiếu nội tâm, đều dễ tìm kiếm sự dung hợp bất khả này và do đó lừa gạt chính mình cũng như lừa gạt kẻ khác.
Lời đe dọa phạt nặng (vào lúc Chung thẩm) ở cuối đoạn văn xem ra áp dụng cho hai câu quở trách sau cùng. Khi lòng ưa chuộng hư vinh chưa đến thói giả đạo đức, và khi thói giả đạo đức này che đậy một tính tham lam muốn tấn công các bà góa hay những kẻ không người bảo vệ, thì các tội nhân đã đạt đến tột đỉnh xấu xa nhất. Đó là chưa nói đến thái độ của họ đối với Chúa Giê-su.
II. ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA (12,41-44)
1. Ý nghĩa xét riêng của trình thuật
Đầu bài khảo cứu hôm nay, chúng ta đã thấy là người ta đi từ tràng chửi rủa ký lục sang giai thoại kế tiếp nhờ tiếng móc “bà góa” và nhờ sự trùng hợp địa điểm. Theo Alberz và Vincent Taylor, chính Mátcô – được Lc noi theo – đã đem câu chuyện bà góa thêm vào một loạt câu chuyện đi trước (=Mc 11, 15-17 + 11 ,27-33 + 12,13-40). Nhưng nhiều kẻ khác nghĩ rằng loạt câu chuyện từ Mc 1 1,27 đến 12,44 dã có trước Mátcô.
Đây là một trình thuật ngắn về đời sống Chúa Giê-su xoay quanh câu tuyên phán đáng ghi nhớ nằn sau cùng “ap()pthtegme biographique”). Trình thuật được rút gọn xuống mức tối thiểu và còn bị giản lược hơn nơi Lc. Theo Luca. Chúa Giêsu thấy nhiều người giàu có bỏ tiền cúng vào Hòm tiền, rồi thấy một bà góa nghèo khổ đến bỏ và đó hai trinh. Nghĩa là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất. Mc thì nói rõ: Chúa Giê-su ngồi đối diện với Hòm tiền, quan sát dân chúng và có lắm người giàu có nhiều đồng bạc; ông cũng cho biết giá trị tương đương theo bạc Rôma của số tiền bà góa cúng (1/4 xu, nghĩa là 8 lần nhỏ hơn khẩu phần bánh phát mỗi ngày cho người nghèo). Tất cả những điều ấy phù hợp với môi trường Palestin, và chúng ta không thấy làm sao một vài tương tự của trình thuật chúng ta với một bản văn Phật giáo lại có thể hủy đi lịch sử tính của nó.
Tuy nhiên, trong cả hai Tin Mừng, người ta không biết phải đặt quang cảnh ở đâu cho đúng: phải chăng là nơi 13 cây cột mà sách Mishna nói là nằm trong tiền đường phụ nữ, hay nơi chính Hòm tiền? Trong trường hợp sau, có thể nghĩ là những người dâng cúng đã nói lớn cho tư tế biết mục đích bà và tổng số tiền dâng cúng của họ (điều giải thích được việc Chúa Giê-su biết bà goá đã dâng bao nhiêu); nhưng các chi tiết này đã biến mất khỏi trình thuật Tin Mừng (Strack- Bill, Kommentar zum N.T. aus Talmud und Midrash, Munich, 1924, t.H, tr.37 đến 45). Nếu giả thiết như thế, thì một số người dâng cúng đã có thể làm mất giá trị cử chỉ của họ vì thói khoe khoang; tuy nhiên, bản văn không có ý nói đến tật xấu này.
Một lần nữa, tất cả đều hướng về câu sau cùng, và không có vấn đề mắng nhiếc những người giàu có vì của cải biết đâu bất chính hay nguy biếm của họ, hoặc vì thói phô trương biết đâu có trong thái độ rộng rãi của họ. Duy tổng số tiền dâng cúng rõ liệt nhỏ nhoi, bà góa đã “bỏ nhiều hơn hết”: tỷ lệ giữa số tiền bố thí và tài nguyên của bà đã làm bà vượt lên trên những người đã bỏ nhiều hơn và cho thấy lòng bà sốt sắng hơn họ, vì bà đã dâng tất cả những gì bà có để sống. Không một bài học luân lý nào được minh nhiên suy diễn từ nhận xét này; nhưng những môn đồ quen với lối giảng dạy của Tôn sư có thể rút ra nhiều bài học. Phải coi chừng đừng đoán xét tha nhân và hành vi của họ qua những vẻ bên ngoài (điều mà lời cảnh cáo trước đã ngụ ý: Mc 12,40; x. Mc 23,27tt); Những kẻ quảng đại nhất cũng như những người đạo đức nhất không hẳn là những ai lộ ra bên ngoài như thế; chỉ mình Thiên Chúa mới thấy rõ bí mật (Mt 6,4.6.18) và thấu hiểu mọi tâm hồn (Lc 16,15; x. Cv 1,24; 15,8). Vì thật ra chính ý hưởng của tâm hồn”, của nội tâm” mỗi định giá các hành vi con người thực hiện (Mt 15, 19ss) chứ không phải vẻ bên ngoài của chúng. Mà trong số các hành vi con người thực hiện với ý ngay lành, thì việc bố thí, hành vi bác ái là từ bỏ, là một trong những điều đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết (Mc 9,41 ss. Mt 6,3tt; 25,31-46; Mc 10,21 ss v.v…).
2. Viễn tượng của Mátcô và Luca
a. Cộng đoàn tiên khởi và Mátcô
Có lẽ Giáo Hội sơ khai đã đề ra thái độ của bà góa đặc biệt quảng đại này theo gương nhiều bà goá Ki-tô giáo, như là những bà đã ghi danh vào nhóm góa phụ, sau khi đã “chuyên cần vào mọi thứ việc lành” (1Tm 5,10) và đã cam kết giữ mãi thói quen đó.
Nhưng chính toàn thể cộng đoàn Ki-tô hữu phải cảm thấy liên hệ với trình thuật này và với bài học có thể từ đó rút ra. Mc có lẽ nhấn mạnh điều ấy khi ghi chú rằng (c.43) Chúa Giêsu, Sau kết đã nói với dân chúng, thì gọi lại các môn đồ, cái nhân của Giáo Hội tương lai, để mặc khải cho họ thấy giá trị cử chỉ của người đàn bà nghèo khó.
Mátcô cũng là người duy nhất nói đến việc dân chúng đi đi lại lại; chính là với họ (chứ không chỉ với những kẻ giàu như Lc) mà Chúa Giê-su đặt đối chọi bà góa: phải chăng ông không muốn ngụ ý là phải coi bà này như gương mẫu của một lòng đạo bên trong, lòng đạo của một tâm hồn biết giữ mình (hơn dân chúng) khỏi ảnh hưởng của các ký lục có lòng đạo vụ hình thức sao? Nếu thế thì mối dây liên kết giai thoại chúng ta với lời tố cáo các ký lục trước, lời tố cáo kết thúc loạt tranh luận, không phải chỉ có tính cách ngôn từ, nhưng còn là sự chuyển tiếp tinh vi, trên bình diện ý tưởng, giữa lời loan báo án phạt trên các tiến sĩ luật (c.40) và lời loan báo ngày tàn của Đền thờ.
b. Luca
Về phần Luca, vì nhấn mạnh nhiều đến việc bố thí (6,30; 11,41; 12,33; 16,9; 19,8; 21,1-4; Cv 9,36; 10,2; 11,29). Và sự từ bỏ của cải, nên có lẽ đã lưu tâm đến câu chuyện bà góa một cách khác: nếu rộng tay bố thí để một cách nào đó tránh tai họa đe dọa kẻ giàu (Lc 6,24) là một điều tốt đẹp, thì còn đáng ca ngợi hơn biết bao việc bố thí của người đàn bà, mà như góa phụ thành Sarepta (1V17,9-15 ; Lc 4 ,2tt) đã biết hy sinh hoàn toàn cái ít ỏi mình còn lại.
Ngược lại, “cái dư thừa” của những người dân cúng (Lc 21,4) không khiến ta nghĩ tới cái dư thừa của kẻ giàu khờ dại mà câu chuyện được dẫn nhập bằng lời huấn dụ sau đây sao: “Hãy lo giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải ai được sung túc là đời sống kẻ ấy được chắc chắn nhờ của cải” (Lc 12,15)? Người đàn bà nghèo khó hiến dâng cả sự bần cùng của mình là đối ảnh chính xác của ông phú hộ “chỉ biết thu tích cho bản thân” (12,21) và của kẻ giàu có (Biệt phái?) không nghĩ tới ngay cả chuyện để cho người nghèo Ladarô lượm những vụn bánh từ bàn ăn của mình (16,21).
KẾT LUẬN
Đấng “dò thấu can trường lòng dạ” (Kh 2,23; x. Tv 1,10; Gr 11,20; 17,10) và không để bị gạt bởi cái bên ngoài cũng mời gọi môn đồ mình đừng để bị gạt bởi một cái vỏ đạo đức che dấu thói chuộng hư vinh, ham hố giả hình, cũng như bởi sự vô nghĩa bên ngoài của những hành vi bác ái phát xuất từ nhiều kẻ nghèo hèn, vô học. Họ hãy đề phòng những ông thầy lợi dụng, chuyên che dấu thói phô trương, sự bất công của mình dưới mặt nạ đạo đức nghiêm cách: không cần trở thành những Biệt phái chống lại Biệt phái, nhưng dựa vào ân sủng của Thiên Chúa và khiêm tốn ý thức sự yếu đuối của mình (Lc 18, 13), họ hãy cố gắng “đừng bắt chước” (Mt 6,5) và “đừng làm theo hành vi” của hạng người đó (Mt 23,3). Nhưng ngược lại hãy biết khám phá, trong của dâng cúng rất khiêm tốn của một bà góa nghèo, sức nặng của một tình yêu anh dũng dấu ẩn bên trong và hãy noi gương đó để cũng biết từ bỏ những “sở hữu” của họ.
Paul Ternant, Assemblées du Seigneur 63. tr. 53-63.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Nếu phải tránh lối mị dân dễ dãi, cho rằng những người có thân phận khiêm tốn đương nhiên sẵn sàng đối với Vương Quốc Thiên Chúa, thì cũng không nên quả quyết rằng bao người giàu có là bấy nhiêu công dân của vương quốc ma quỷ. Có những kẻ nghèo nàn nhưng lòng đầy ham hố, tham lam keo kiệt, cũng như có lắm kẻ giàu sang nhưng rộng rãi, biết thi ân và lòng chẳng dính bén. Sự “nghèo khó Tin mừng” không tất nhiên nằm nơi chỗ thiếu thốn của cải, nhưng nằm nơi thái độ từ bỏ, không xem của cải làm cùng đích để lao lực lao tâm, nhưng coi như là phương tiện để phụng sự Thiên Chúa và kẻ khác, và sẵn sàng chịu mất khi cần. Tuy nhiên, sự từ bỏ nơi kẻ giàu vẫn khó hơn nơi người ít của. Hãy cám ơn Chúa vì đã cho xảy đến bao nhiêu hoàn cảnh khiến của cải chúng ta ít đi để ta dễ hướng tâm về của đích thật, sự bảo đảm đích thật là Người.
2. Đoạn Tin Mừng nói về việc bà góa dâng hiến tất cả tài sản của bà tuy ngắn gọn nhưng rất thâm thúy, thật đáng chúng ta lưu tâm. Qua cử chỉ này, như người ta thường nói, bà đã đặt mình vào tình trạng hoàn toàn khó nghèo trước mặt Thiên Chúa. Bà hết mình phó thác cho Thiên Chúa. Những người giàu có cho một phần gia sản của họ; còn bà góa này, bà cho tất cả gia sản của bà và từ đó bà đặt mình dưới sự quan phòng của Chúa. Điều đó có nghĩa là bà đặt tất cả trong niềm hy vọng vào Chúa, cơm ăn cũng như cuộc sống của bà.
3. Thâm sâu hơn nữa, cử chỉ của bà nói rằng bà đi tới Thiên Chúa như tới một người mà bà hết lòng yêu mến và bà tin chắc Ngài có dư khả năng lo lắng cho bà. Bà không chỉ đi thi hành bổn phận tầm thường là đóng góp vào quỹ Đền thờ. Bà không chỉ muốn thi hành một nhiệm vụ. Bà đi quá cả phạm vi bổn phận, phạm vi chu toàn Lề luật. Bà không nghĩ tới vấn đề chu toàn Lề luật, nhưng nghĩ rằng Thiên Chúa rất xứng để bà dâng cho Ngài tất cả và đồng thời chờ đợi nơi Ngài tất cả.
