Thứ năm tuần thánh – Lễ tiệc ly

Bậc lễ:

Màu phụng vụ: Trắng

Nghe MP3

Dẫn vào Thánh Lễ

Anh chị em thân mến! Thứ năm Tuần Thánh là ngày lễ của tình yêu. Thật vậy, vào chiều hôm nay cách đây hơn 2000 năm, trong bữa tiệc ly, trước khi lìa xa các môn đệ để thi hành tôn ý Chúa Cha mà cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ hết sức ngỡ ngàng là Người trỗi dậy khỏi bàn ăn, lấy khăn thắt lưng, rửa chân cho các môn đệ. Cử chỉ rửa chân là bài học yêu thương và khiêm nhường. Chúa dạy các ông bài học này trước khi lập Bí tích Thánh Thể, Bí tích Tình Yêu. Vì muốn yêu đến cùng nên Người dạy khiêm nhường bằng việc rửa chân để mọi người biết yêu nhau. Vì muốn yêu đến cùng nên Người lập Bí tích Thánh Thể để ờ lại với chúng ta đến tận thế. Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể để hiện diện với nhân loại mãi mãi qua thừa tác vụ của các linh mục.. Để tưởng niệm bữa tiệc ly này cho xứng đáng chúng ta cùng thành tâm thống hối.

Ca nhập lễ

Chúng ta phải được vinh dự nơi Thập giá Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Người là sự cứu thoát, sự sống lại của chúng ta, nhờ Người chúng ta được cứu độ và được giải thoát

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Xh 12, 1-8. 11-14

“Những chỉ thị về bữa Tiệc Vượt qua”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Mô-sê và A-ha-ron ở đất Ai-cập rằng: Tháng này các ngươi phải kể là tháng đầu năm, tháng thứ nhất. Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en rằng: “Mùng mười tháng này, ai nấy phải bắt một chiên con, mỗi gia đình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con chiên, thì phải mời người láng giềng đến nhà cho đủ số người để ăn một con chiên. Chiên đó không được có tật gì, phải là chiên đực, được một năm. Có bắt dê con cũng phải làm như thế. Vậy phải để dành cho đến ngày mười bốn tháng này, rồi vào lúc chập tối, toàn thể cộng đồng con cái Israel sẽ giết nó, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Ðêm ấy sẽ ăn thịt nướng với bánh không men và rau đắng. Phải ăn như thế này: Phải thắt lưng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn vội vã: vì đó là ngày Vượt Qua của Chúa. Ðêm ấy Ta sẽ đi qua xứ Ai-cập, sẽ giết các con đầu lòng trong xứ Ai-cập, từ loài người cho đến súc vật, và Ta sẽ trừng phạt chư thần xứ Ai-cập: vì Ta là Chúa. Máu bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ là dấu hiệu; và khi thấy máu, Ta sẽ đi qua mà tha cho các ngươi, và các ngươi sẽ không bị tai ương tác hại khi Ta giáng hoạ trên xứ Ai-cập. Các ngươi hãy ghi nhớ ngày ấy, làm lễ tưởng niệm, và phải mừng ngày đó trọng thể kính Thiên Chúa. Các ngươi sẽ lập lễ này để mừng vĩnh viễn muôn đời”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 115, 12-13. 15-16bc. 17-18

Ðáp: Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Ki-tô .

Xướng: Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh Chúa.

Xướng: Trước mặt Chúa, thật là quý hoá cái chết của những bậc thánh nhân Ngài. Con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẽ gãy xiềng xích cho con.

Xướng: Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài.

Bài Ðọc II: 1 Cr 11, 23-26

“Mỗi khi anh em ăn và uống, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

Anh em thân mến, phần tôi, tôi đã lãnh nhận nơi Chúa điều mà tôi đã truyền lại cho anh em, là Chúa Giê-su trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Vì mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Chúa phán: “Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.

Phúc Âm: Ga 13, 1-15

“Ngài yêu thương họ đến cùng”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Si-môn, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Si-môn Phê-rô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giê-su đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phê-rô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giê-su bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phê-rô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giê-su nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tín hữu

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Chúa Giê-su đã quá yêu nhân loại bằng một trái tim nồng nàn rực cháy. Người đã trối lại cho nhân loại một gia sản vĩ đại, đó là gia sản tình yêu. Tin vào tình yêu cao siêu đó chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện:

1. “Hãy nói với toàn thề cộng đồng con cái Ít-ra-en”.- Xin cho Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, các Linh mục theo gương ông Môi-sen và ông A-ha-ron, mau mắn thi hành lệnh Chúa, loan truyền ơn cứu độ cho mọi người.

2. “Mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.- Xin cho tâm hồn người tín hữu đã được rước máu châu báu của Chúa Giêsu, luôn can đảm tuyên xưng việc Chúa chịu chết cho tới khi Chúa lại đến.

3. “Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng”.- Xin cho các nhà truyền giáo tinh thần phục vụ hăng say, hi sinh quên mình vì phần rỗi những người Chúa trao phó cho.

4. “Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau”.- Xin cho giáo xứ chúng ta biết sống bài học khiêm nhường nơi Đức Ki-tô, để chân thành yêu thương hết mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa Giê-su, chúng con cần sự trợ giúp của ơn Thánh Chúa, để được thanh luyện và lớn lên trong đức tin và đức ái. Xin soi sáng và nâng đỡ chúng con thi hành tốt mệnh lệnh sống bác ái, để hy lễ của Chúa diễn ra qua các thế kỷ vẫn mang đậm nét yêu thương, Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin thương giúp cộng đoàn tín hữu chúng con, cử hành thánh lễ này cho xứng đáng. Vì mỗi khi chúng con dâng lễ tưởng niệm cuộc khổ hình của Ðức Ki-tô là chúng con được hưởng ơn cứu chuộc của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Lời tiền tụng Thánh Thể I

Ca hiệp lễ

Chúa phán: “Này là mình Ta, sẽ bị nộp vì các con, chén này là Tân Ước trong Máu Ta, mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, chiều nay chúng con đã được bổ sức tại bàn tiệc của Ðức Ki-tô, mai ngày, xin Chúa cũng đón nhận chúng con vào dự tiệc muôn đời trong nước Chúa. Chúng con cầu xin…

PHỤC VỤ TRONG SỰ KHIÊM NHƯỜNG

Vào thời của Chúa Giê-su, đối với người Do-thái, hành động rửa chân là bổn phận của người nô lệ đối với ông chủ, của người vợ đối với người chồng, của người con đối với người cha. Thậm chí ngay cả ông chủ người Do-thái cũng không chấp nhận để một người hầu Do-thái rửa chân cho mình. Tuy nhiên Chúa Giê-su, là “Thầy” và là “Chúa” của các môn đệ, đã cúi xuống để rửa chân cho các ông. Hành động này của Người đã khiến cho ông Phê-rô kinh ngạc và ông cảm thấy mình không xứng đáng: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao”.

Nhưng nếu nhìn vào cuộc đời của Chúa Giê-su thì chúng ta không cảm thấy lạ về việc làm trên của Người. Người là Đấng đã từ bỏ vinh quang uy quyền chốn trời cao, chấp nhận một cuộc sống phàm nhân và muốn trở thành người “nô lệ” để phục vụ con người (x. Pl 2,6-8). Người “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,44).

Giờ đây, qua việc rửa chân, chính Chúa Giê-su đang trở thành tấm gương về sự phục vụ cho các môn đệ và Người đòi hỏi các ông “phải” ra đi phục vụ anh em trong sự khiêm hạ: “anh em cũng phải rửa chân cho nhau”. Hơn nữa, sự phục vụ cần khởi đi từ tình yêu mến. Thánh Gio-an, một cách tinh tế, đã lý giải cho chúng ta nguyên nhân dẫn đến việc rửa chân của Chúa cho các tông đồ. Người làm như vậy bởi vì Người “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian” và “yêu thương họ đến cùng”.

“Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14) và cùng với lệnh truyền của Chúa, mỗi người chúng ta hãy đứng lên, ra đi và hạ mình để phục vụ những anh chị em đang gặp cảnh nghèo khó, cơ cực và thiếu sự quan tâm, tình thương trong cuộc sống hôm nay. Chúng ta cùng hát lên lời ca: “Phục vụ là cho không, phục vụ là quên mình. Phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ân nghĩa không chờ. Phục vụ là cho không phục vụ là quên mình. Phục vụ là cho không, phục vụ vì Chúa Ki-tô” (Bài ca phục vụ, Lm. Mi Trầm).

Lm. Gio-an Trần Văn Viện

YÊU LÀ TRAO BAN

Thánh Gio-an nói: ”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,10), Ngài là nguồn gốc tình yêu nên Ngài ban cho ta có tình yêu để yêu Ngài và yêu nhau. Chính vì thế Ngài nhắc lại lời Chúa Giê-su: ”Đây là giới răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).

Không ai có thể định nghĩa được tình yêu mà chỉ để cho con tim cảm nghiệm được nó. Hoặc có theo định nghĩa thần học thì yêu là “diffusivum sui boni”: thông ban sự tốt lành của mình cho người khác; do đó, ta sẽ dễ hiểu được lời của thánh Gio-an tông đồ: ”Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô phó mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16)

I. Tình Yêu Của Thiên Chúa

Thánh Gio-an tông đồ khẳng định rằng Thiên Chúa là tình yêu nên mọi tình yêu phải bắt nguồn từ Ngài và cũng phải qui hướng về Ngài như một nguồn suối duy nhất. Nếu tình yêu của chúng ta bắt nguồn từ Ngài thì chúng ta cũng phải yêu Ngài. Chính vì thế Ngài nói: ”Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức ngươi và hãy yêu anh em như chính mình” (Mt 28,37.39). Ngoài ra, Chúa Giê-su còn nhắc nhở tình yêu này cách rõ ràng và mạnh mẽ hơn: ”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,24 ; 15,12).

Trong tuần thánh này và hôm nay chúng ta hãy suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người trong công cuộc cứu chuộc này. Tình yêu ấy đã được thánh Gio-an tông đồ ghi lại trong Tin Mừng: ”Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người xuống trần gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).

II. Tình Yêu Của Đức Ki-tô

Nếu đọc đoạn thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi cho tín hữu Phi-líp-phê, chúng ta mới thấy Đức Giê-su yêu thương chúng ta đến mức nào: ”Đức Giê-su vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa mà lại trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa, lại còn mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống người phàm như chúng ta. Hơn nữa, Ngài còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và còn muốn nhận lấy cái chết ô nhục trên thập giá” (Pl 2,6-11).

Ta thử hỏi: vì lý do nào mà Chúa đã xuống thế làm người chịu chết chuộc tội cho chúng ta? Có lẽ không có câu trả lời nào khác mà chỉ có thể nói vì yêu thương chúng ta: ”Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Ngoài ra, như người ta thường nói: ”yêu nhau thì muốn kết hợp với nhau”. Đức Giê-su vì yêu chúng ta, không những Ngài đã hy sinh chết trên thập giá mà còn muốn ở cùng ta mọi ngày cho đến tận thế, cho nên Ngài đã thiết lập bí tích Thánh Thể.

III. Thánh Thể, Bí Tích Của Tình Yêu

Thánh Phao-lô tông đồ trong thư gửi cho tín hữu Cô-rin-tô nói: ”Chúa Giê-su trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: ”Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con: các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,23). Chúa Giê-su đã biến mình máu Ngài làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta. Ngài chỉ có thể ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế trong bí tích Thánh Thể. Chúa Giê-su hiện diện trong phép Thánh Thể không phải là sự hiện diện tượng trưng nhưng là sự hiện diện thực sự với mình máu, với cả nhân tính và thần tính của Ngài.

Động cơ nào đã thúc đẩy Đức Giê-su hành động như vậy? Đó là tình yêu! Đức Giê-su đã yêu chúng ta hết mức, Ngài đã tự vắt cạn kiệt con người của Ngài để phục vụ người khác, không còn gì để mà cho nữa mà chỉ còn cách là biến chính thịt máu mình làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta. Đặc tính của tình yêu là muốn cho đi:

Yêu nhau cởi áo cho nhau,
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
(ca dao)

Cho đi là một sự mất mát, mất mát là một hy sinh, mà hy sinh là đau khổ, nhưng đau khổ vì tình yêu lại là một sự sung sướng vì đem lại niềm vui cho người mình yêu. Có một sự tương quan biện chứng giữa đau khổ và tình yêu, giữa mất và còn: hễ mất cái này thì còn cái khác. Điều kiện ắt có là hễ muốn còn cái này thì phải mất cái kia như hạt lúa phải thối đi để cho những bông lúa vàng nuôi sống con người. Con vật phải chết đi mới đem lại lương thực cho con người. Sự sống của con vật cũng như của thảo mộc phải mất đi để bảo đảm sự sống của con người.

Hy sinh cho người yêu những gì càng thiết yếu cho mình bao nhiêu thì quà tặng đó càng có giá trị. Chân phước Tê-rê-sa Calcutta nói: ”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với chúng ta, thì đó mới thật là món quà”. Đức Giê-su không những đã trao ban mọi vinh quang trên trời, lại còn trao ban cả con người của Ngài thì món quà đó quí giá dường nào (x. Mt 26,26-28).

Truyện: Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình.

Trên bước đường lưu vong, trốn ra nước ngoài, Công tử Trùng Nhĩ và bọn bề tôi trải qua rất nhiều cam go, lầm than, đói khổ.

Không tiền bạc, hết lương thực, bọn người này phải đi ăn xin.

Một hôm đói quá, đói đến lả người, cả bọn cơ hồ không còn đi được nữa.

Trùng Nhĩ phải kiếm gốc cây có bóng mát gối đầu vào đùi Hồ Mao mà nằm.

Bọn bề tôi bảo nhau đi bứt rau sam về luộc ăn.

Trùng Nhĩ nuốt không trôi!

Bỗng Giới tử Thôi mang một bát thịt nóng hổi đến dâng.

Trùng Nhĩ ăn ngon lành! Ăn xong, khỏe khoắn liền hỏi Giới tử Thôi:

– Nhà ngươi lấy đâu được thịt ngon như thế?

Giới tử Thôi chỉ vào đùi mình, thưa:

– Ấy là thịt đùi của tôi đó. Tôi nghe rằng: người hiếu tử bỏ thân thờ cha, người trung thần bỏ thân để thờ vua. Nay Công tử đói không có gì ăn nên tôi phải cắt thịt đùi dâng Công tử.

Trùng Nhĩ ứa nước mắt, nói:

– Ân này, biết bao giờ ta đáp được.

(Thanh Lan Võ ngọc Thành, Nhân vật Đông châu, 1968, tr 324-325)

IV. Bài Học Cho Ta

Suy niệm về việc Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể để làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta và muốn ở với chúng ta hằng ngày cho đến tận thế trong phép Thánh Thể, chúng ta có thể rút ra được những bài học cụ thể để áp dụng vào đời sống hằng ngày.

1. Yêu là trao ban.

Một trong các đặc tính của tình yêu là trao ban, là cho đi. Yêu thì không muốn giữ cho mình mà muốn chia sẻ cho người khác. Chính trong việc cho đi mà người ta tìm được hạnh phúc trong tình yêu: ”Không khi nào người ta yêu như người ta đã được yêu, vì vậy muốn đạt được hạnh phúc trong tình ái, chúng ta phải cho tất cả mà không đòi hỏi gì cả” (Paul Bourget).

Nếu tu viện trưởng Saint-Pierre quả quyết rằng: ”Yếu tính của mọi tôn giáo, nền tảng của mọi chân lý, vương miện của mọi nhân đức căn cứ trên sự CHO và tha thứ” thì thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su đã thực hiện trong tình yêu đối với Chúa Giêsu trong mấy vần thơ do thánh nữ sáng tác:

Sống yêu đương chính là cho tất cả,
Trên đời này không đòi hỏi công lao.
Không tính toán, không kể cho là bao,
Vì đã yêu có khi nào suy tính.
(Tê-rê-sa Hài đồng)

2. Trao ban là hy sinh.

Tục ngữ Tây phương nói: ”Partir c’est mourir un peu”: ra đi là chết trong lòng một ít. Lìa xa nhau là một sự hy sinh, hy sinh làm ta đau khổ, và đau khổ được coi như là chết trong lòng một ít. Vậy cho đi là cái gì đó phải lìa xa ta làm cho ta phải hy sinh, hay nói cách khác là chết trong lòng một ít. Tình yêu chân thật đòi hỏi phải hy sinh, mà hy sinh càng lớn thì tình yêu càng cao như Pierre l’Ermite nói: ”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”.

3. Trao ban là phục vụ.

Trao ban là cho đi, cho đi cái mình có và cái đó không còn thuộc về mình nữa mà thuộc về người khác. Như vậy, cho đi là chỉ nhằm phục vụ, phục vụ là nhằm mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Chúng ta hãy nhìn lên ngọn nến lung linh trên bàn thờ. Cây nến phải hao mòn đi để trao ban ánh sáng và sức nóng cho con người. Nếu cây nến không chịu hao mòn đi thì không có ánh sáng mà không có ánh sáng thì không phục vụ cho con người được. Lúc đó cây nến chỉ còn là đồ trang hoàng chứ không cung cấp ánh sáng cho con người được.

4. Trao ban và cô đơn.

Yêu nhau thì người ta muốn gần nhau, muốn kết hợp với nhau để không bị cô đơn, nhiều khi phải bỏ tất cả để đi theo nhau. Theo nhau không phải chỉ chấp nhận một chủ thuyết, một chủ trương hay một khuynh hướng mà là muốn nối kết với nhau trong cuộc sống, bước theo nhau, coi người kia như lẽ sống của mình tựa như: “thuyền theo lái, gái theo chồng” (Tục ngữ) :

Yêu nhau chữ vị là vì,
Chữ dục là muốn chữ tùy là theo.
(ca dao)

Saint-Exupéry nói: ”Cho, tức là bắc một nhịp cầu trên sự cô đơn”. Tự bản thân, con người sống cô độc, khép kín vào bản ngã mình, giới hạn vào những kiến thức, rối ren trong những khó khăn của mình. Nếu xa cách tha nhân, hoặc không có ai tới nâng đỡ, thì lại càng cô đơn thêm.

Cho, tức là bắc cầu, là mở đường giao thông. Cho cái gì? Không nhất thiết phải cho tiền bạc, của cải vật chất bởi vì ai cũng có cái gì để cho. Chúng ta có thể cho “đôi mắt” khi thấy một cụ già đang bối rối muốn băng qua đường, ta biết giúp đỡ cụ. Chúng ta có thể cho một lời nói để khích lệ hay chia buồn, một lời cám ơn, một lời khen ngợi. Chúng ta có thể cho nhau một nụ cười thông cảm, một cử chỉ thân thiện… Thử lập một danh sách xem tôi đã cho những gì và đã nhận được những gì nơi người khác.

Chúa Giê-su đã trao ban cho ta chính con người của Ngài trong phép Thánh Thể, Ngài không bao giờ cô đơn vì Ngài luôn luôn biết cho đi, cho đi một cách quảng đại, cho đi không có giới hạn, cho đi mãi mãi. Nhưng chúng ta không đáp lại sự cho đi của Ngài, chúng ta thờ ơ trước sự trao ban vô vị lợi của Ngài, làm cho Ngài phải cô đơn. Để tránh sự cô đơn của chúng ta đối với Chúa và với tha nhân, ta hãy biết cho đi bằng cách phục vụ Chúa trong tha nhân, càng cho đi thì càng gần Chúa, càng sống thân mật với Ngài vì “cho đi thì có phúc hơn là nhận” và nếu yêu mà chỉ nhận thì tình yêu sẽ chết.

                                                                             Lm. Giu-se Đinh lập Liễm

Suy niệm

Yêu thương cho đến cùng – Suy niệm lễ Tiệc Ly

Sống Yêu Thương Và Phục Vụ – Suy Niệm Lễ Tiệc Ly – Lm An-tôn Nguyễn Văn Độ

LỜI CHÚA MÙA CHAY

Thứ tư lễ tro
Thứ năm sau lễ tro
Thứ sáu sau lễ tro
Thứ bảy sau lễ tro
Chúa Nhật I Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật I Mùa Chay – Năm B
Chúa Nhật I Mùa Chay – Năm C
Thứ hai tuần I mùa chay
Thứ ba tuần I mùa chay
Thứ tư tuần I mùa chay
Thứ năm tuần I mùa chay
Thứ sáu tuần I mùa chay
Thứ bảy tuần I mùa chay
Chúa Nhật II Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật II Mùa Chay – Năm B
Chúa Nhật II Mùa Chay – Năm C
Thứ hai tuần II mùa chay
Thứ ba tuần II mùa chay
Thứ tư tuần II mùa chay
Thứ năm tuần II mùa chay
Thứ sáu tuần II mùa chay
Thứ bảy tuần II mùa chay
Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm B
Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm C
Thứ hai tuần III mùa chay
Thứ ba tuần III mùa chay
Thứ tư tuần III mùa chay
Thứ năm tuần III mùa chay
Thứ sáu tuần III mùa chay
Thứ bảy tuần III mùa chay
Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm B
Chúa Nhật IV Mùa Chay – Năm C
Thứ hai tuần IV mùa chay
Thứ ba tuần IV mùa chay
Thứ tư tuần IV mùa chay
Thứ năm tuần IV mùa chay
Thứ sáu tuần IV mùa chay
Thứ bảy tuần IV mùa chay
Chúa Nhật V Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật V Mùa Chay – Năm B
Chúa Nhật V Mùa Chay – Năm C
Thứ hai tuần V mùa chay
Thứ ba tuần V mùa chay
Thứ tư tuần V mùa chay
Thứ năm tuần V mùa chay
Thứ sáu tuần V mùa chay
Thứ bảy tuần V mùa chay
Chúa nhật lễ Lá – Năm A
Chúa nhật lễ Lá – Năm B
Chúa nhật lễ Lá – Năm C
Thứ Hai tuần thánh
Thứ Ba tuần thánh
Thứ Tư tuần thánh
Thứ Năm tuần thánh
Thứ Sáu tuần thánh
Thứ Bảy tuần thánh

LỄ KÍNH CÁC THÁNH

Scroll to Top