Bậc lễ: thường

Màu phụng vụ: Xanh

Nghe MP3

Năm I

NĂM II

Ca nhập lễ

Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa với tiếng reo vui.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng; xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…

Bài Ðọc I: (Năm I) St 27, 1-5. 15-29

“Giacóp chiếm vị và trộm lấy chúc lành của anh”.

Trích sách Sáng Thế.

Isaac đã già, mắt loà không còn trông thấy được nữa. Ông gọi con trai cả là Êsau mà bảo rằng: “Hỡi con”. Êsau thưa: “Dạ, con đây”. Ông nói tiếp: “Con thấy cha đã già rồi, cha không biết ngày nào cha chết. Con hãy lấy khí giới: cung, tên, rồi đi ra ngoài; khi săn được gì, con hãy lấy mà dọn món ăn mà con biết cha ưa thích, rồi đem cho cha ăn, và cha sẽ chúc lành cho con trước khi cha chết”.

Bà Rêbecca nghe lời ấy (…) và khi Êsau ra đồng để thi hành lệnh của cha (…) thì bà lấy áo tốt của Êsau mà bà vẫn giữ trong nhà, đem mặc cho Giacóp. Bà lấy da dê mà bọc tay và quấn cổ Giacóp. Ðoạn bà lấy cháo và bánh đã nấu trao cho Giacóp…

Giacóp bưng lên cho cha mà nói rằng: “Thưa cha”. Isaac nói: “Cha nghe rồi. Hỡi con, con là ai?” Giacóp thưa: “Con là Êsau trưởng nam của Cha. Con đã làm như cha dạy, xin cha chỗi dậy, ngồi ăn thịt con đã săn được để cha chúc lành cho con”. Isaac lại nói với con: “Hỡi con, lẽ nào con săn được mau như thế?” Giacóp thưa: “Thánh ý Thiên Chúa đã định, nên con chóng được như ý muốn”. Isaac bảo rằng: “Hỡi con, con hãy lại đây để cha rờ thử xem con có phải là Êsau con của cha hay không”. Giacóp tiến lại gần cha. Isaac rờ con mà nói: “Tiếng nói là tiếng Giacóp, còn tay lại là tay Êsau”. Ông không nhận ra được, vì tay (cậu) có lông như tay anh cả. Vậy ông chúc lành cho con mà nói: “Con có phải là Êsau con cha thật không?” Giacóp đáp: “Thưa phải”. Ông nói tiếp: “Hỡi con, hãy đem cho cha ăn thịt săn của con, để cha chúc lành cho con”. Khi ông ăn đồ con đem đến xong, con ông lại đem rượu cho ông uống. Uống xong, ông bảo con rằng: “Hỡi con, hãy lại đây hôn cha”. Giacóp lại gần hôn cha; ông ngửi thấy mùi thơm của bộ áo con, thì chúc lành cho con mà rằng: “Mùi thơm của con ta như mùi hương cánh đồng phì nhiêu mà Chúa đã chúc phúc. Xin Thiên Chúa ban cho con những giọt sương trời, giải đất mầu mở, lúa miến và rượu nho dư đầy. Các dân tộc sẽ suy phục con, các chi họ sẽ sấp mình trước con. Con hãy làm chủ các anh em con, các con cái của mẹ con sẽ phủ phục trước mặt con. Ai nguyền rủa con, thì sẽ bị nguyền rủa; và ai chúc lành cho con, thì sẽ được đầy phúc lành”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 134, 1-2. 3-4. 5-6

Ðáp: Các ngươi hãy ngợi khen Chúa, vì Người nhân hậu 

Xướng: Các ngươi hãy ngợi khen danh Chúa, hãy ngợi khen Chúa, hỡi các tôi tớ của Người là những kẻ đứng trong nhà Chúa, trong tiền đường nhà Chúa chúng ta. 

Xướng: Các ngươi hãy ngợi khen Chúa, vì Người nhân hậu; hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người rất ngọt ngào. Vì Chúa đã chọn Giacóp cho mình, đã chọn Israel làm sở hữu. 

Xướng: Tôi đã nhận biết Chúa cao cả, Thiên Chúa chúng tôi vượt lên trên hết thảy các thần. Mọi sự Chúa muốn Chúa đã làm, trên trời dưới đất, trong biển và nơi các vực thẳm. 

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 9, 11-15

“Ta sẽ đem dân Ta bị lưu đày trở về, và sẽ trồng họ trên đất của họ”.

Trích sách Tiên tri Amos.

Ðây Chúa phán: “Trong ngày ấy, Ta sẽ dựng lại nhà xếp của Ðavít đã xiêu đổ, Ta sẽ lấp những lỗ hổng nơi tường, trùng tu lại những gì đổ nát. Ta sẽ xây dựng lại như ngày xưa, để chúng chiếm hữu những gì còn sót của Êđom và tất cả các dân tộc, vì chúng đã xưng tụng danh Ta”.

Chúa hoàn thành những việc Chúa đã phán như thế. Và Chúa còn phán: “Ðây đã đến những ngày mà người cày ruộng tiếp nối người thợ gặt, kẻ ép nho tiếp nối người gieo giống. Từ các núi non, rượu nho mới sẽ chảy tuôn tràn, và từ các đồi, rượu sẽ vọt ra lai láng. Ta sẽ đem Israel dân Ta bị lưu đày trở về. Họ sẽ xây lại các thành phố bị bỏ hoang và cư ngụ tại đó. Họ sẽ trồng nho và sẽ uống rượu nho. Họ sẽ lập vườn, và sẽ ăn quả sinh ra ở nơi ấy. Ta sẽ trồng họ trên đất của họ, và không khi nào họ bị nhổ ra khỏi đất Ta đã ban cho họ. Chúa là Thiên Chúa của ngươi phán như thế”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 84, 9. 11-12. 13-14

Ðáp: Chúa phán bảo về sự bình an cho dân tộc của Người (c. 9).

Xướng: Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an, bình an cho dân tộc và các tín đồ của Chúa, và cho những ai thành tâm trở lại với Người.

Xướng: Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau; đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh tự trời nhìn xuống.

Xướng: Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lối bước của Người.

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. – Alleluia.

Phúc Âm: Mt 9, 14-17

“Làm sao các phù rể có thể buồn rầu khi tân lang còn đang ở với họ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, [Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô,] các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi: “Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?” Chúa Giêsu nói với họ rằng: “Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn”.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, Chúa dùng các bí tích để ban phát ơn cứu độ; xin cho cộng đoàn chúng con biết cử hành lễ tế thờ phượng này với tinh thần phục vụ của Ðức Kitô. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Ca hiệp lễ

Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và toàn thể con người tôi hãy chúc tụng thánh danh Người.

Hoặc đọc:

Chúa nguyện rằng: Lạy Cha, Con cầu xin cho chúng, để chúng nên một như Ta, hầu thế gian tin rằng Cha đã sai Con.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chúng con vừa dâng lễ tạ ơn và đã được rước Mình và Máu Con Chúa là nguồn mạch sức sống dồi dào; xin cho chúng con hằng gắn bó cùng Chúa để sinh hoa quả tồn tại đến muôn đời. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

Ý NGHĨA VIỆC ĂN CHAY

Chay tịnh xem ra là một phần không thể thiếu trong các tôn giáo. Tuy nhiên, mỗi tôn giáo lại có một cách thức ăn chay và nhắm những mục đích ý nghĩa riêng. Phật giáo ăn chay vào các ngày mùng một và ngày rằm, bằng cách vẫn ăn no như thường, nhưng tuyệt đối không ăn thịt bất cứ con vật nào, chỉ ăn rau cỏ trái cây… Người Hồi giáo ăn chay bằng cách nhịn ăn uống từ rạng đông cho đến khi mặt trời lặn suốt tháng Ramadan.

Trong Kinh thánh, chúng ta thấy người xứ Palestin ngày xưa ăn chay bằng cách nhịn ăn từ sáng đến chiều (x. Gn 3,7-8; 1Sm 14,24). Trong phụng tự, người Do thái có một cuộc đại chay nhân ngày lễ “Xá tội” (Cv 27,9; Lv 23,29). Người Do thái đạo đức còn ăn chay riêng vì lòng đạo đức riêng tư (Lc 2,37). Các môn đệ của Gioan Tẩy giả và Biệt phái cũng ăn chay (Mc 2,18). Trong số đó có người ăn chay tuần hai lần (Lc 18,12). Cho nên quan niệm Do thái ăn chay và thánh thiện gắn liền với nhau. Hễ không ăn chay là không thánh thiện, hoặc ngược lại người thường xuyên ăn chay có nghĩa là người ấy thánh thiện.

Sang Tân Ước, Chúa Giê-su không nói gì đến việc giữ chay mà chỉ nói đến tinh thần phải có khi chay tịnh. Việc chay tịnh của Chúa nhắm đến tấm lòng siêu thoát tiền của, đến sự tự nguyện tiết dục (Mt 19,21), đến sự từ bỏ bản thân và vác thập giá (Mt 10,38). Cho nên lối ăn chay để trình diễn theo kiểu biệt phái (Mt 6,16) không còn lý do tồn tại nữa. Từ đây việc ăn chay của Tân Ước phải hướng tới tấm lòng là tinh thần. Phải hướng sự chay tịnh đến việc thay đổi hoán cải, dọn dẹp tâm hồn chờ ngày ra diện kiến Thiên Chúa. Cho nên việc chay tịnh của Chúa mang một niềm hy vọng tràn ngập chứ không còn buồn tẻ tang tóc không lối thoát như đạo cũ nữa.

Ăn chay hôm nay không còn là để trông chờ Chúa đến nữa. Nhưng là để họ xác tín rằng Chúa Giê-su là Đấng Cứu thế đã đến trần gian rồi, không còn Đấng nào khác nữa. Chính Ngài sẽ đến lần thứ hai, trong uy quyền vinh quang bất diệt. Trong thời gian chờ đợi ngày trở lại đó, tức là thời gian giữa nhập thể và ngày tái giáng thì Giáo hội ăn chay để mà hy vọng về hưởng vinh phúc. Vì thế tinh thần chay tịnh của Ki-tô giáo là để hy vọng và để chờ đợi.

Hy vọng của chúng ta là được cứu rỗi trong trường sinh bất tử, trong vinh quang Nước trời. Chính cái vinh quang vĩnh cửu đang làm cơ sở cho con cái Chúa sống. Thánh Phao-lô bảo: “Những đau khổ đời này sánh sao được với vinh quang Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18).

Một sự khước từ, một sự hãm xác trong chay tịnh phải mở đường cho những giá trị sâu xa hơn, phải giúp tạo nên những điều kiện để có thể sống những giá trị cao cả mà con người hằng khao khát.

Xin Chúa giúp chúng ta biết chết đi trong tội, để được sống lại với Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta biết dấn thân cho một thế giới mới, xây dựng một trật tự và một nếp sống mới trong những tương quan mới với Chúa và anh em.

Lm. Giu-se Vũ Công Viện

TRANH LUẬN VỀ VIỆC ĂN CHAY

(Mt 9,14-17)

1. Môn đệ ông Gio-an thấy môn đệ Chúa Giê-su không ăn chay thì hỏi: sao môn đệ Ngài không ăn chay? Chúa đáp: Trong tiệc cưới, bao lâu chàng rể còn ở lại thì bạn bè vẫn vui mừng, chừng nào chàng rể đi rồi thì họ mới buồn rầu chay tịnh. Qua bài Tin Mừng, Chúa Giê-su dùng hình ảnh tiệc cưới, trong đó chính Ngài là chàng rể, còn các môn đệ là phù rể. Vậy nên chỉ sau khi chàng rể bị đem đi, nghĩa là sau cái chết của Chúa Giê-su, thì lúc đó các môn đệ mới giữ chay: giữ chay vì thương nhớ, và để đón chờ Chúa trở lại.

2. Ăn chay, cầu nguyện, làm phúc bố thí là ba sinh hoạt chính trong đời sống đạo đức của Do Thái giáo. Họ có một cuộc “đại chay” bắt buộc nhân ngày lễ xá tội. Đồng thời họ cũng có những cuộc chay tịnh khác mang tính cách tập thể, chẳng hạn gặp ngày tổ quốc gặp hoạn nạn. Ngoài ra, những người đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng, như các môn đệ của Gio-an Tẩy Giả và những người Biệt phái, họ thường ăn chay mỗi tuần hai lần vào ngày thứ hai và thứ năm. Chung qui lại, ăn chay đối với Do thái giáo bao gồm ba ý nghĩa chính:

– Để tỏ lòng sám hối và xin ơn.

– Để chờ đợi Đấng Cứu Thế đến giải phóng dân khỏi ách đô hộ ngoại bang.

– Lòng đạo đức nhiệt thành.

3. Ý nghĩa việc ăn chay.

Theo truyền thống Do thái giáo, việc giữ chay được liên kết chặt chẽ với việc chờ đợi Đấng Cứu Thế. Ăn chay có nghĩa là nói lên niềm trông đợi Đấng Cứu Thế. Căn cứ trên ý nghĩa và mục đích của việc giữ chay như thế, Chúa Giê-su muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế, do đó các môn đệ không cần giữ chay, bởi vì họ không cần trông đợi nữa. Đó là thái độ hợp thời và hợp lý; họ đang sống bên Chúa Giê-su: thái độ của họ không phải là thái độ buồn sầu, khóc lóc. Thời của Đấng Cứu Thế không phải là thời của tang chế, ủ dột, mà là thời của hân hoan (Mỗi ngày một tin vui).

4. “Rượu mới thì đổ vào bầu da mới”.

Chúa đến khai mạc một luật mới, một hiến chương mới của Nước Trời. Luật mới này đòi hỏi con người, cụ thể là người Do thái thời đó, phải thay đổi hoàn toàn đời sống, hay nói một cách gợi hình hơn “phải lột xác”. Việc ăn chay, do đó, sẽ chẳng giống như luật cũ. Hai thí dụ Chúa dùng để giải thích cho đòi hỏi  đó rất linh động và gợi hình, là không nên lấy vải mới vá vào áo cũ, không đổ rượu mới vào bầu da cũ. Tức là Chúa quyết liệt khẳng định: bây giờ là lúc phải theo luật mới của Tân Ước.

Chúng ta có thể đưa ra một số chứng từ cụ thể trong Tin mừng để thấy bản chất  luật mới của Chúa Giê-su: thương yêu là căn bản trong tương quan của mỗi người đối với Thiên Chúa và với tha nhân – tôn trọng sự thật, chân lý, lẽ phải ngay từ trong thâm tâm – không trình diễn, khoe khoang những việc đao đức, chỉ cần chính tâm, thành ý, làm hơn là nói – không nệ luật cứng nhắc, máy móc, nhưng phải uyển chuyển trên tiêu chuẩn bác ái v. v…(Phạm Văn Phượng).

5. Ngoài ra, ăn chay đối với người Ki-tô hữu cũng có nghĩa là “dấn thân” cho một thế giới mới, xây dựng một trật tự và một nếp sống mới trong những mối tương quan mới về hiệp nhất, yêu thương với Chúa và với anh chị em chung quanh ta.

Trong bài giáo huấn hồi tháng 3 năm 1979, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã nói đến ý nghĩa của sự chay tịnh như sau: ”Chay tịnh là khước từ khoái cảm, các kích thích lạc thú và ngay cả thức ăn của uống, tự nó không phải là mục đích, nhưng nó phải mở đường cho những giá trị sâu xa hơn mà con người nội tâm cần phải được nuôi dưỡng. Một sự khước từ, một sự hãm dẹp thân xác như thế, phải giúp tạo nên trong con người những điều kiện để có thể sống những giá trị cao cả mà nó hằng khao khát”.

6. Truyện: Ý nghĩa việc ăn chay.

Có một đan sĩ nọ, trong một phút yếu lòng, đã phạm một tội rất nặng. Thầy cảm thấy hối hận sâu xa và quyết định bỏ ba năm để đền tội. Ngày kia, thầy đến hỏi Đức Viện phụ:

– Thưa cha, ba năm trời có đủ để khóc than và đền bù tội lỗi của con không?
– Ba năm nhiều quá ! Viện phụ đáp.
– Vậy thưa cha, chỉ cần một năm thôi cũng đủ hay sao?
– Cha nghĩ một năm cũng quá nhiều!
– Vậy con nghĩ 40 ngày ăn chay đánh tội nhiệm nhặt là đủ rồi , hay cha vẫn thấy còn quá nhiều?

Bấy giờ Viện phụ mới kết luận: ”Cha tin chắc rằng khi một người thành tâm thống hối tội lỗi của mình đã phạm và quyết chí từ nay không tái phạm tội ấy nữa,  thì chỉ cần một ngày đau buồn đền tội và một ngày hôm sau, khi bình minh trở lại, người ấy phải vui mừng đón nhận cuộc sống mới !

Sự trưởng thành thực sự mà con người có thể đạt được qua sự chay tịnh  không chỉ là thắng vượt được những dục vọng và đam mê thấp hèn của bản thân mà chính là biết xa lánh tội lỗi và đưa con người đến gần Chúa và tha nhân hơn.

                                                                             Lm. Giu-se Đinh Lập Liễm

THỜI ĐẠI MỚI THÌ CON NGƯỜI PHẢI MỚI

Khi có mấy môn đệ của ông Gio-an đến gặp Chúa Giê-su và thắc mắc về chuyện họ ăn chay còn các môn đệ của Chúa thì không. Lời giải thích của Chúa Giê-su chẳng những khiến họ và cả chúng ta ngày hôm nay nữa phải suy nghĩ: “Khách dự tiệc cưới không thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn” (Mt 9, 15-16).

Tiệc cưới, bầu rượu và việc vá áo là ba hình ảnh Chúa Giê-su dùng để giúp các môn đệ tiến xa hơn, ngoài việc giữ luật còn phải kết hợp thân tình với Thiên Chúa, thao thức kiếm tìm ý nghĩa đích thực của Tin Mừng giữa những điều luật buộc phải giữ. “Rượu mới, bầu cũng phải mới”, cái “mới” ở đây không phá bỏ cái “cũ” nhưng đã được chắt lọc từ sự tinh hoa của cái cũ. Tin Mừng của Chúa phải được đón nhận bằng tất cả lòng quảng đại và yêu mến.

Nếu luật cũ là “mắt đền mắt, răng đền răng” thì luật mới phải vượt lên sự hiềm thù ăn miếng trả miếng, mà là “nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5, 39-42).

Nếu luật cũ là phải trả thù thì luật mới là biến thù thành bạn. Nếu luật cũ khi ăn chay là sống trong than van khóc lóc, tiếc thương “một thời vàng son đã qua” thì luật mới là sống trong niềm tin và hy vọng, là cất đi chiếc khăn tang u buồn, là mặc áo mới, xức dầu thơm trên đầu…

Chúa Giê-su còn dùng một hình ảnh rất quen thuộc với mọi người như rượu cũ đổ vào bầu da mới, rượu lên men và thải ra lượng khí carbon độc hại, túi da sẽ rách và rượu chảy ra ngoài. Trái lại rượu mới phải chứa trong bầu da mới vì da mới có tính đàn hồi nên sẽ không bị rách. Hay việc lấy vải mới vá vào áo cũ, miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng rách to hơn. Với lối nói so sánh bằng hình ảnh, Chúa Giê-su muốn mời gọi chúng ta cần có một tư tưởng mới, một cái nhìn cởi mở thì mới hiểu được những giá trị của Tin Mừng và những việc Chúa làm.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con cởi bỏ con người ích kỷ, tham lam, biến chúng con thành con người mới, với một trái tim mới, sống bằng tinh thần yêu thương, bác ái và công bình mới để làm chứng cho Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ