Nhắc đến nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, chúng ta đều nghĩ ngay đến một công trình với kiến trúc đẹp, nổi tiếng và là nhà thờ mẹ Tổng Giáo phận (TGP) Hà Nội. Thế nhưng, có bao giờ bạn tự hỏi: Ai là vị mục tử đầu tiên của giáo xứ mang tên Chính Tòa Hà Nội? Lật lại trang sử của Địa phận Tây Đàng Ngoài nay là TGP Hà Nội sẽ đưa chúng ta đến gặp gỡ con người đặc biệt – cha Bertrand Idiart Alhor Thịnh.
1. Từ cậu bé chăn cừu đến vị linh mục thừa sai nhiệt thành
Cha Bertrand Idiart Alhor sinh ngày 26 tháng 12 năm 1859 tại Lantabat, thuộc Giáo phận Bayonne, Pháp. Ngài lớn lên trong một gia đình đạo đức và hăng say lao động. Từ một cậu bé chăn cừu, nhặt củi phụ giúp cha mẹ, Bertrand đã nuôi dưỡng trong mình một trái tim nhân hậu, chân thành và ý chí kiên cường.
Khi tiếng gọi dâng hiến vang lên, Bertrand Idiart đã đáp lại một cách mạnh mẽ. Sau quá trình tu học tại trường của Dòng Lazarist ở Bayonne và chủng viện Dax, thày Bertrand Idiart gia nhập Hội Thừa sai Paris (M.E.P). Với trí thông minh, lòng đạo đức và sự khiêm nhường, thày Bertrand Idiart được Bề trên đặc cách và truyền chức linh mục sớm hơn dự kiến vào ngày 06 tháng 7 năm 1884. Sau đó, cha Bertrand Idiart được sai đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Đây là ước nguyện lớn nhất của ngài.
2. Dấu chân vị mục tử tại trung tâm Hà Nội và trận đại dịch lịch sử
Tháng 10 năm 1884, cha Idiart Thịnh đặt chân đến Hà Nội. Sau đó, Đức cha Puginier gửi ngài xuống Kẻ Sở (Sở Kiện ngày nay) để học tiếng bản xứ. Tại đây, cha đã hăng say học tập, nhờ đó ngài nhanh chóng nói và giảng dạy bằng tiếng Việt. Hơn nữa, trong thời gian này, cha Idiart Thịnh còn cho thấy sự nhạy bén của một nhà truyền giáo thực thụ. Đó là ngài tỉ mỉ quan sát, học hỏi các bậc tiền bối và đúc kết thành một đường hướng ứng xử khéo léo với giáo dân, người ngoại giáo cũng như chính quyền bản xứ.

Đến tháng 7 năm 1885, cha Idiart Thịnh được Đức cha Puginier Phước sai đến Kẻ Sét để làm quen với sứ vụ tông đồ. Tuy nhiên, trước tình hình dịch tả bùng phát tại Hà Nội, ngài được gọi về giúp cha Landais – linh mục chính xứ Hà Nội làm tuyên úy Bệnh viện quân đội Pháp. Thời gian này, bệnh viện là nơi tập trung đông thương binh và bệnh nhân với tỷ lệ tử vong cao. Đến cuối năm 1885 khi đại dịch lan rộng và bệnh viện phải thiết lập khu cách ly, cha Idiart Thịnh đã tình nguyện sống giữa vùng lây nhiễm, tận tình chăm sóc và ban các Bí tích cho những người đang hấp hối. Lòng bác ái và sự dũng cảm của ngài đã trở thành câu chuyện đẹp tại Hà Nội thời bấy giờ.
Sau khi dịch bệnh qua đi, cha Idiart Thịnh tiếp tục sứ vụ ban các Bí tích tại hai giáo họ Kẻ Sét và Phùng Khoang. Đến năm 1886, ngài được Đức cha Puginier Phước sai đến làm mục vụ tại giáo xứ Sơn Miêng cùng với cha Robert Liêm. Năm đó là năm Toàn xá ngoại thường của Giáo hội Công giáo nên công việc mục vụ giáo xứ sẽ nhiều hơn, đặc biệt là việc giải tội. Tuy nhiên, ngài lại hay bỏ bữa cùng với thực hành hãm mình nên sức khỏe của cha suy giảm nhanh chóng và mắc bệnh. Vì vậy, Đức cha Puginier Phước gọi ngài về lại Hà Nội để thuận tiện điều trị và dưỡng bệnh.
3. Người kiến tạo hòa bình và bảo vệ cộng đoàn dân Chúa tại Thanh Hóa
Năm 1886, tình hình của Địa phận Tây Đàng Ngoài nói chung, tỉnh Thanh Hóa (khi đó thuộc Địa phận) nói riêng chìm trong cảnh loạn lạc và bách hại: nhà thờ bị thiêu rụi, giáo dân ly tán, đói khát và dịch bệnh hoành hành. Trước tình cảnh ấy, Đức cha Puginier Phước sai cha Idiart Thịnh vào xứ Thánh Hóa để ổn định tình hình, dự kiến chỉ trong vài tháng. Ngày 05 tháng 10 năm 1886, ngài đến nơi và sống tạm trong một ngôi chùa hoang giữa thời tiết lạnh của đầu mùa Đông.
Bằng sự khôn khéo, chân thành và kiên trì, cha Idiart Thịnh được chính quyền bản xứ và các sĩ quan Pháp kính trọng. Hơn nữa, ngài nhanh chóng trở thành chỗ dựa của hàng ngàn tín hữu. Đặc biệt, cha tận lực bảo vệ quyền lợi của giáo dân, giúp họ đòi lại tài sản bị chiếm đoạt. Sự việc ngài đòi lại cánh đồng cho dân xứ Cửa Bạng là một minh chứng rõ nét nhất.
Không dừng lại ở việc ổn định đời sống giáo dân, cha Idiart Thịnh còn mở rộng công cuộc truyền giáo đến vùng núi Vực Lộc. Nơi mà người dân ít khi đi ra khỏi vùng mình sinh sống. Tại đây, ngài dạy giáo lý và Rửa Tôi cho họ và thành lập họ đạo kính Thánh Tâm. Trước những phá hoại và thử thách, ngài vẫn kiên vững tin tưởng: “Họ đạo này được dâng kính cho Thánh Tâm; chắc chắn nó sẽ được tái sinh.” Ngoài ra, cha cũng sang Lào truyền giáo một thời gian.
4. Cha xứ tiên khởi Nhà thờ Lớn Hà Nội và sự hy sinh đến hơi thở cuối cùng
Tháng 7 năm 1889, Đức cha Puginier Phước gọi cha Idiart Thịnh về Tòa Giám mục tại Hà Nội[1] để bổ nhiệm ngài làm chính xứ Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội[2] kiêm Quản lý Tòa Giám mục (Curé de la cathédrale de Hanoi et procureur de la mission). Trên cương vị mới, ngài tận tụy với sứ vụ được giao. Ngài thăm viếng giáo dân, chăm lo đời sống cho các linh mục, giải tội, giảng dạy và cập nhật số sách kế toán. Bên cạnh đó, cha Idiart Thịnh còn quan tâm đến đời sống đức tin của cộng đoàn người châu Âu tại Hà Nội. Dù sức khỏe ngày càng suy giảm, ngài vẫn miệt mài phục vụ cho đến khi lâm bệnh nặng vào mùa Đông năm 1891.
Tháng 2 năm 1892, cha Idiart Thịnh lâm bệnh nặng, ho ra máu và đứng trước nguy cơ tử vong. Được sự tận tình cứu chữa của các bác sĩ cũng như nhờ lời cầu nguyện của Đức cha Puginier Phước cùng cộng đoàn, sức khỏe của ngài tạm thời hồi phục. Sau đó, cha Idiart Thịnh sang Hồng Kông điều trị nhưng không khỏi; cuối năm 1892 trở về và được đưa đến Sơn Tây dưỡng bệnh. Dù căn bệnh ngày càng trầm trọng, ngài vẫn giữ tinh thần bình thản, phó thác và tận tụy với đời sống cầu nguyện.
Ngày 25 tháng 3 năm 1893, cha Bertrand Idiart Alhor Thịnh đã trút hơi thở cuối cùng tại Sơn Tây khép lại 34 năm của một đời người, trong đó có gần 9 năm dâng hiến cho sứ vụ truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngài được an táng tại vườn thánh Sơn Tây.
Tóm lại, cha Idiart Thịnh hiện diện tại Tổng Giáo phận Hà Nội không dài nhưng ngài đã khắc tên mình vào lịch sử với tư cách là cha xứ tiên khởi của Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội. Ngài là một vị mục tử hiền lành, can trường và sẵn sàng đứng ra bảo vệ quyền lợi cho công đoàn dân Chúa. Ngài đã để lại cho hậu thế bài học về cách yêu thương, dám bước ra khỏi vùng an toàn để xả thân phục vụ tha nhân và bảo vệ công lý. Lòng bác ái quên mình cùng niềm phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa của cha mãi là ngọn đuốc thiêng, truyền cảm hứng cho mỗi người chúng ta trong hành trình sống Đạo và làm người hôm nay.
Ban Viết sử TGP Hà Nội
[1] YVES GENDREAU, Pierre Marie Gendreau Un missionnaire vendéen au Tonkin de 1873 à 1935, tr. 56. // Theo các nguồn sử liệu và Thư Chung, chúng tôi xác định vào năm 1886 với những biến động của xã hội, Đức cha Puginier Phước đã chuyển trụ sở Tòa Giám mục từ Kẻ Sở lên Hà Nội (Le siège épiscopal de Ke-so sera transféré à Hanoï en 1886).
[2] Thời gian này, giáo xứ Chính Tòa Hà Nội có hai cộng đoàn người Việt và người Pháp.

