Cha Bertrand Idiart Alhor Thịnh (1859 – 1893): Cha xứ tiên khởi của Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội

Nhắc đến nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, chúng ta đều nghĩ ngay đến một công trình với kiến trúc đẹp, nổi tiếng và là nhà thờ mẹ Tổng Giáo phận (TGP) Hà Nội. Thế nhưng, có bao giờ bạn tự hỏi: Ai là vị mục tử đầu tiên của giáo xứ mang tên Chính Tòa Hà Nội? Lật lại trang sử của Địa phận Tây Đàng Ngoài nay là TGP Hà Nội sẽ đưa chúng ta đến gặp gỡ con người đặc biệt – cha Bertrand Idiart Alhor Thịnh.

1. Từ cậu bé chăn cừu đến vị linh mục thừa sai nhiệt thành

Cha Bertrand Idiart Alhor sinh ngày 26 tháng 12 năm 1859 tại Lantabat, thuộc Giáo phận Bayonne, Pháp. Ngài lớn lên trong một gia đình đạo đức và hăng say lao động. Từ một cậu bé chăn cừu, nhặt củi phụ giúp cha mẹ, Bertrand đã nuôi dưỡng trong mình một trái tim nhân hậu, chân thành và ý chí kiên cường.

Khi tiếng gọi dâng hiến vang lên, Bertrand Idiart đã đáp lại một cách mạnh mẽ. Sau quá trình tu học tại trường của Dòng Lazarist ở Bayonne và chủng viện Dax, thày Bertrand Idiart gia nhập Hội Thừa sai Paris (M.E.P). Với trí thông minh, lòng đạo đức và sự khiêm nhường, thày Bertrand Idiart được Bề trên đặc cách và truyền chức linh mục sớm hơn dự kiến vào ngày 06 tháng 7 năm 1884. Sau đó, cha Bertrand Idiart được sai đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Đây là ước nguyện lớn nhất của ngài.

2. Dấu chân vị mục tử tại trung tâm Hà Nội và trận đại dịch lịch sử

Tháng 10 năm 1884, cha Idiart Thịnh đặt chân đến Hà Nội. Sau đó, Đức cha Puginier gửi ngài xuống Kẻ Sở (Sở Kiện ngày nay) để học tiếng bản xứ. Tại đây, cha đã hăng say học tập, nhờ đó ngài nhanh chóng nói và giảng dạy bằng tiếng Việt. Hơn nữa, trong thời gian này, cha Idiart Thịnh còn cho thấy sự nhạy bén của một nhà truyền giáo thực thụ. Đó là ngài tỉ mỉ quan sát, học hỏi các bậc tiền bối và đúc kết thành một đường hướng ứng xử khéo léo với giáo dân, người ngoại giáo cũng như chính quyền bản xứ.

Đến tháng 7 năm 1885, cha Idiart Thịnh được Đức cha Puginier Phước sai đến Kẻ Sét để làm quen với sứ vụ tông đồ. Tuy nhiên, trước tình hình dịch tả bùng phát tại Hà Nội, ngài được gọi về giúp cha Landais – linh mục chính xứ Hà Nội làm tuyên úy Bệnh viện quân đội Pháp. Thời gian này, bệnh viện là nơi tập trung đông thương binh và bệnh nhân với tỷ lệ tử vong cao. Đến cuối năm 1885 khi đại dịch lan rộng và bệnh viện phải thiết lập khu cách ly, cha Idiart Thịnh đã tình nguyện sống giữa vùng lây nhiễm, tận tình chăm sóc và ban các Bí tích cho những người đang hấp hối. Lòng bác ái và sự dũng cảm của ngài đã trở thành câu chuyện đẹp tại Hà Nội thời bấy giờ.

Sau khi dịch bệnh qua đi, cha Idiart Thịnh tiếp tục sứ vụ ban các Bí tích tại hai giáo họ Kẻ Sét và Phùng Khoang. Đến năm 1886, ngài được Đức cha Puginier Phước sai đến làm mục vụ tại giáo xứ Sơn Miêng cùng với cha Robert Liêm. Năm đó là năm Toàn xá ngoại thường của Giáo hội Công giáo nên công việc mục vụ giáo xứ sẽ nhiều hơn, đặc biệt là việc giải tội. Tuy nhiên, ngài lại hay bỏ bữa cùng với thực hành hãm mình nên sức khỏe của cha suy giảm nhanh chóng và mắc bệnh. Vì vậy, Đức cha Puginier Phước gọi ngài về lại Hà Nội để thuận tiện điều trị và dưỡng bệnh.

3. Người kiến tạo hòa bình và bảo vệ cộng đoàn dân Chúa tại Thanh Hóa

Năm 1886, tình hình của Địa phận Tây Đàng Ngoài nói chung, tỉnh Thanh Hóa (khi đó thuộc Địa phận) nói riêng chìm trong cảnh loạn lạc và bách hại: nhà thờ bị thiêu rụi, giáo dân ly tán, đói khát và dịch bệnh hoành hành. Trước tình cảnh ấy, Đức cha Puginier Phước sai cha Idiart Thịnh vào xứ Thánh Hóa để ổn định tình hình, dự kiến chỉ trong vài tháng. Ngày 05 tháng 10 năm 1886, ngài đến nơi và sống tạm trong một ngôi chùa hoang giữa thời tiết lạnh của đầu mùa Đông.

Bằng sự khôn khéo, chân thành và kiên trì, cha Idiart Thịnh được chính quyền bản xứ và các sĩ quan Pháp kính trọng. Hơn nữa, ngài nhanh chóng trở thành chỗ dựa của hàng ngàn tín hữu. Đặc biệt, cha tận lực bảo vệ quyền lợi của giáo dân, giúp họ đòi lại tài sản bị chiếm đoạt. Sự việc ngài đòi lại cánh đồng cho dân xứ Cửa Bạng là một minh chứng rõ nét nhất.

Không dừng lại ở việc ổn định đời sống giáo dân, cha Idiart Thịnh còn mở rộng công cuộc truyền giáo đến vùng núi Vực Lộc. Nơi mà người dân ít khi đi ra khỏi vùng mình sinh sống. Tại đây, ngài dạy giáo lý và Rửa Tôi cho họ và thành lập họ đạo kính Thánh Tâm. Trước những phá hoại và thử thách, ngài vẫn kiên vững tin tưởng: “Họ đạo này được dâng kính cho Thánh Tâm; chắc chắn nó sẽ được tái sinh.” Ngoài ra, cha cũng sang Lào truyền giáo một thời gian.

4. Cha xứ tiên khởi Nhà thờ Lớn Hà Nội và sự hy sinh đến hơi thở cuối cùng

Tháng 7 năm 1889, Đức cha Puginier Phước gọi cha Idiart Thịnh về Tòa Giám mục tại Hà Nội[1] để bổ nhiệm ngài làm chính xứ Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội[2] kiêm Quản lý Tòa Giám mục (Curé de la cathédrale de Hanoi et procureur de la mission). Trên cương vị mới, ngài tận tụy với sứ vụ được giao. Ngài thăm viếng giáo dân, chăm lo đời sống cho các linh mục, giải tội, giảng dạy và cập nhật số sách kế toán. Bên cạnh đó, cha Idiart Thịnh còn quan tâm đến đời sống đức tin của cộng đoàn người châu Âu tại Hà Nội. Dù sức khỏe ngày càng suy giảm, ngài vẫn miệt mài phục vụ cho đến khi lâm bệnh nặng vào mùa Đông năm 1891.

Tháng 2 năm 1892, cha Idiart Thịnh lâm bệnh nặng, ho ra máu và đứng trước nguy cơ tử vong. Được sự tận tình cứu chữa của các bác sĩ cũng như nhờ lời cầu nguyện của Đức cha Puginier Phước cùng cộng đoàn, sức khỏe của ngài tạm thời hồi phục. Sau đó, cha Idiart Thịnh sang Hồng Kông điều trị nhưng không khỏi; cuối năm 1892 trở về và được đưa đến Sơn Tây dưỡng bệnh. Dù căn bệnh ngày càng trầm trọng, ngài vẫn giữ tinh thần bình thản, phó thác và tận tụy với đời sống cầu nguyện.

Ngày 25 tháng 3 năm 1893, cha Bertrand Idiart Alhor Thịnh đã trút hơi thở cuối cùng tại Sơn Tây khép lại 34 năm của một đời người, trong đó có gần 9 năm dâng hiến cho sứ vụ truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngài được an táng tại vườn thánh Sơn Tây.

Tóm lại, cha Idiart Thịnh hiện diện tại Tổng Giáo phận Hà Nội không dài nhưng ngài đã khắc tên mình vào lịch sử với tư cách là cha xứ tiên khởi của Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội. Ngài là một vị mục tử hiền lành, can trường và sẵn sàng đứng ra bảo vệ quyền lợi cho công đoàn dân Chúa. Ngài đã để lại cho hậu thế bài học về cách yêu thương, dám bước ra khỏi vùng an toàn để xả thân phục vụ tha nhân và bảo vệ công lý. Lòng bác ái quên mình cùng niềm phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa của cha mãi là ngọn đuốc thiêng, truyền cảm hứng cho mỗi người chúng ta trong hành trình sống Đạo và làm người hôm nay.

Ban Viết sử TGP Hà Nội


[1] YVES GENDREAU, Pierre Marie Gendreau Un missionnaire vendéen au Tonkin de 1873 à 1935, tr. 56. // Theo các nguồn sử liệu và Thư Chung, chúng tôi xác định vào năm 1886 với những biến động của xã hội, Đức cha Puginier Phước đã chuyển trụ sở Tòa Giám mục từ Kẻ Sở lên Hà Nội (Le siège épiscopal de Ke-so sera transféré à Hanoï en 1886).

[2] Thời gian này, giáo xứ Chính Tòa Hà Nội có hai cộng đoàn người Việt và người Pháp.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang