Cha Jean-Joseph Marty Bằng (1879-1941): Một trong những người tiên phong mang Tin Mừng đến với anh chị em dân tộc Mường

Từ năm 1876, các Đức Giám mục Địa phận Tây Đàng Ngoài rất chú trọng đến việc loan báo Tin Mừng cho anh chị em lương dân vùng miền núi Hòa Bình bằng cách sai các nhà truyền giáo đến định cư với họ. Từ đó, rất nhiều vị thừa sai dấn thân đến với anh chị em ở khu vực này, trong số đó có một vị tông đồ đã dành trọn cả cuộc đời cho người dân xứ Mường. Tên của ngài là Jean-Joseph Marty Bằng. Bài viết dưới đây sẽ cố gắng khắc họa chân dung vị thừa sai này.

1. Thân thế và bước đầu Ơn gọi

Cố Jean-Joseph Marty Bằng sinh ngày 14/11/1879 tại Villebrumier, thuộc Giáo phận Montauban, tỉnh Tarn-et-Garonne, miền nam nước Pháp. Ngay từ thửa nhỏ, Marty đã khao khát dâng mình cho Chúa và truyền giáo ở những vùng đất xa xôi. Vào ngày 15/2/1900, Joseph Marty Bằng xin gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris (Missions Etrangères de Paris – MEP). Tại đây, thày Marty lần lượt trải qua các giai đoạn tu học và lãnh nhận các thánh chức:

  • Ngày 22/02/1902: Chịu phép cắt tóc.
  • Ngày 07/03/1903: Lãnh các chức nhỏ.
  • Ngày 27/02/1904: Lãnh chức phụ Phó tế.
  • Ngày 28/5/1904: Lãnh chức Phó tế.
  • Ngày 26/6/1904: Chính thức được thụ phong linh mục.

Ngay sau khi thụ phong, cha Marty được Bề trên sai đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài. Ngài lên tàu rời nước Pháp ngày 26/4/1905 và bắt đầu hành trình sứ mạng của đời mình.

2. Những năm tháng đầu tiên trên đất Việt (1905-1908)

Đặt chân đến vùng đất truyền giáo, cố Marty Bằng ở tại nhà chung Kẻ Sở. Tại đây, ngài chuyên tâm dành thời gian học tiếng Việt và tập làm quen với phong tục tập quán Việt Nam. Cuối năm 1905, ngài được Đức cha sai lên vùng Hòa Bình phụ giúp cố Albert de Cooman Phụng, chính xứ Mường Cắt (thời gian này cố Phụng kiêm nhiệm xứ Mường Riệc vì cố Brisson Nhân về Pháp nghỉ phép). Cố Marty Bằng phục vụ tại khu vực này cho đến đầu năm 1908.

3. Mục vụ tại Gò Cời (Tân Hội) (1908-1919)

Năm 1908, cố Marty Bằng được Bề trên thuyên chuyển đến mục vụ tại Gò Cời (Tân Hội) để kế nhiệm cố Villebonnet Quí. Tại đây, ngài tiếp nối phương pháp truyền giáo của vị tiền nhiệm trước kia là cố Le Page Loan: trực tiếp đến định cư tại những bản làng có triển vọng về truyền giáo. Với lòng nhiệt thành tông đồ, cố Marty Bằng đã làm cho nhiều người ở Tân Hội, Gạo, Ao Giàng xin gia nhập Giáo Hội Công giáo và sống đạo đức. Riêng tại Tân Hội, cố Marty Bằng đã xây dựng một ngôi nhà thờ rộng rãi, khang trang và kiên cố cùng một ngôi nhà xứ tươm tất.

4. Dấn thân vì anh chị em người Mường (1911-1932)

Ngay từ những ngày đầu ở Tân Hội, cố Marty Bằng đã ấp ủ hoài bão truyền giáo cho anh chị em người Mường tại tỉnh Hòa Bình. Và ngài đã lên đường đến gặp gỡ họ. Do đó, năm 1911, một nhóm người Mường ở làng Đồn Vận đến gặp ngài để xin theo đạo. Các bản như Ngầm- Ao Kềnh, Ngành, Đá Bạc cũng đến xin học lớp giáo lý dự tòng. Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo vô cùng gian nan do tính cách thờ ơ của người dân địa phương và đặc biệt là khí hậu rừng thiêng nước độc khiến hai thầy giảng qua đời vì sốt rét rừng. Điều này cũng cho chúng ta thấy, dù cố Marty Bằng đã gặt hái được những thành quả đầu tiên, nhưng đã gặp những khó khăn thử thách.

Bên cạnh thử thách về việc sự hy sinh của những người trợ tá mình vì bệnh tật. Cố Marty Bằng còn gặp khó khăn khi phải đối diện với các “Thổ lang”. Đây là những người đứng đầu các bản, họ nhiều đất đai. Và dưới góc độ nào đó, họ thực sự là những lãnh chúa phong kiến đầy quyền lực. Do đó, khi thấy các thừa sai đến truyền giáo, những Thổ lang này đã không có thiện cảm với các ngài. Vì vậy, sau khi các dự tòng ở Đồn Vận lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, một Thổ lang đã bắt giam và đóng gông bốn người, trong đó một người đã chết. Đứng trước tình thế đó, cố Marty Bằng đã không ngần ngại đi đến tỉnh và huyện để đòi lại công lý cho bản thân và giáo dân của mình.

Đến năm 1919, ngài bàn giao công đoàn Tân Hội cho cha Hiếu để chuyển đến giáo điểm Đồn Vận. Tại vùng đất mới, ngài đã không ngừng truyền giáo. Hoa trái thiêng liêng là số người dự tòng ngày một đông. Những anh chị em ở Mường Sắng, cùng với các bản Dầm Dáy, Thông Rếch và Bằng Gà (nằm sâu trong dãy Trường Sơn) đến xin học giáo lý. Tuy nhiên, do sự trả thù của các Thổ lang nên không phải ai cũng can đảm xin gia nhập đạo.

Sau một thời gian truyền giáo tại Việt Nam, ngài thấy sức khỏe suy giảm. Do đó, từ tháng 6/1925-10/1926, cố Marty Bằng trở về Pháp để dưỡng bệnh. Khi trở lại Việt Nam, ngài tiếp tục mục vụ tại Đồn Vận và gặt hái nhiều thành quả. Năm 1928, ngài còn gánh tạm thêm những trách nhiệm của cố Hébrard Huệ.

5. Mở rộng truyền giáo lên phía Bắc và Đồng Gội (1932-1940)

Bất chấp những biến cố bi thương như nạn đói, dịch đậu mùa và sự qua đời của các thầy giảng trong giai đoạn 1930-1931, số lượng anh chị em người Mường xin gia nhập đạo vẫn tăng, lan rộng từ phía tây sang phía bắc của Đồn Vận.

Năm 1932, cha Giraud được sai đến phụ giúp cố Marty Bằng. Sau lễ Phục sinh năm ấy, Đức cha Gendreau đến thăm và ban Bí tích Rửa tội và Thêm Sức cho 80 giáo dân đầu tiên ở Đồng Gội. Nhận thấy công việc ở Đồn Vận đã ổn định, cố Marty Bằng giao Đồn Vận và các họ xung quanh cho cha Giraud rồi tiến lên phía Tây Bắc, đến với Đồng Gội. Tại đây ngài xây một nhà thờ nhỏ và nhà xứ.

Với tinh thần hăng của một nhà truyền giáo, ngài tiếp tục đi lên vùng giáp ranh với Địa phận Hưng Hóa, lập các giáo điểm nhỏ ở Hồi, ở Rục. Lúc này, dù sức khỏe đã giảm sút, mỗi năm vài lần ngài vẫn lặn lội đi thăm các giáo điểm thuộc quyền của mình để nâng đỡ đức tin cho các tín hữu. Đồng thời, cố Marty Bằng còn mở một ngôi trường nhỏ và đích thân dạy văn hóa cho trẻ em người Mường.

6. Những năm tháng cuối đời (1940-1941)

Cố Marty Bằng là người hăng say miệt mài với sứ vụ truyền giáo. Tuy nhiên, cuộc sống của cố giữa chốn rừng thiêng nước độc đã làm hao mòn sức khỏe. Đến tháng 6/1940, ngài kiệt sức và bắt đầu phải điều trị tại Bệnh viện Saint Paul.

Đến khoảng cuối năm 1941, tình trạng sức khỏe của cố Marty Bằng trở nên nguy kịch. Bất chấp đường rừng núi hiểm trở, một cha đã đích thân lái xe từ Hà Nội lên Hòa Bình đón ngài. Và dù thể trạng đã kiệt sức, cố Marty Bằng vẫn giữ được sự minh mẫn. Ngài đã tự thu xếp để hai người cáng mình bằng võng, vượt qua 5km đường rừng ra đến quốc lộ rồi mới lên xe ôtô.

Ngay khi nhập viện tại Hà Nội, chỉ sau mũi tiêm quinine (thuốc trị sốt rét) đầu tiên, ngài đã mất thính lực hoàn toàn. Sau đó, ngài lãnh nhận các bí tích cuối cùng với lòng đạo đức sốt sắng trước khi chìm vào tình trạng hôn mê. Và cố Marty Bằng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 26/12/1941 (ngay sau Lễ Giáng Sinh), khép lại 62 năm tại thế, trong đó có 36 năm dâng hiến trọn vẹn cho sứ vụ gieo hạt giống đức tin giữa vùng đồi núi phía Tây của Giáo phận Hà Nội.

Nhìn lại cuộc đời của cố Jean-Joseph Marty Bằng, chúng ta thấy hiện lên chân dung của một vị tông đồ nhiệt thành và quên mình cho sứ mạng truyền giáo. Không ngại gian khổ, không sợ quyền uy, ngài đã băng đèo lội suối để mang ánh sáng của Chúa Ki-tô đến với những bản làng người Mường xa xôi nhất. Dù thời gian có lùi xa, nhưng tên tuổi và tinh thần hy sinh của vị thừa sai xứ Mường – cố Marty Bằng sẽ luôn là tâm gương sáng ngời cho mỗi chúng ta.

(Biên soạn dựa theo hồ sơ các Thừa sai của MEP số 2818)

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang