Cố Cao Jean Paul Vacquier – Nhà truyền giáo năng động của miền Nam Định

Lm. Tô-ma A-qui-nô Nguyễn Xuân Thủy

Cố Cao, tên đầy đủ trong sổ rửa tội là André-Jean-Paul Vacquier, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1906 tại thị trấn Rochefort, thuộc Giáo phận La Rochelle nằm ở bờ biển phía Tây của nước Pháp. Là con trai của một đô đốc hải quân Pháp, sau khi học hết chương trình trung học ở trường Stanislas danh tiếng, ngài ghi tên theo đuổi ơn gọi và học Đại Chủng viện của Giáo phận. Sau khi chịu chức phó tế, ngài xin gia nhập Hội Thừa sai Paris ngày 14 tháng 9 năm 1929 với ước mơ được trở thành nhà truyền giáo ở Viễn Đông. Ngài được chịu chức linh mục ngày lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ năm 1930 và ngay sau đó, ngày 8 tháng 9, ngài lên đường đi Việt Nam.

Được sai đến truyền giáo tại Địa phận Hà Nội, sau một thời gian học tiếng Việt, ngài tỏ ra có khả năng tốt, nói trôi chảy, nên ngài được gửi về phục vụ tại xứ Nam Định, nơi ngài gắn bó suốt 15 năm cuộc đời truyền giáo của mình. Nam Định lúc đó là một thành phố với nền công nghiệp dệt mới phát triển, nhiều người dân ở các vùng lân cận tới sinh sống. Cố Cao ưu tiên quan tâm đến việc truyền giáo, xây dựng các cơ sở vật chất ở các họ đạo mới như Văn Hưng, Vạn Khoảnh và việc chăm lo mục vụ của cha xứ. Cố Cao cũng đặc biệt quan tâm đến việc mở các trường học chăm lo việc giáo dục cho các trẻ em và thanh thiếu niên. Trường học của Cố không chỉ dành riêng cho những người có Đạo, mà mở cửa cho tất cả mọi người không phân biệt lương giáo. Để có tiền mở được các ngôi trường này, ngài đã xin với ông bà cố chia phần thừa kế tài sản trước cho mình để dành toàn bộ vào công việc đào tạo con người.

Ngoài trường học, với cương vị cha xứ, là quản hạt, Cố cũng quan tâm đến các phong trào Công giáo tiến hành (Catholique Action) của xứ Nam Định và cả hạt như phong trào Nghĩa binh Thánh Thể để đào tạo các em thiếu nhi theo phương pháp Hướng Đạo sinh. Được Cố chỉ dẫn, phong trào Thanh-Lao-Công (Thanh niên lao động Công giáo) học theo phong trào J.O.C [1] của Pháp, giúp cho các bạn trẻ xa nhà lên thành phố lao động biết gắn bó giúp đỡ nhau, vừa phát triển nghề nghiệp, vừa giữ vững đời sống đức tin và luân lý.

Chính quyền Pháp lúc đó do Mặt trần Bình Dân [2] nắm quyền, tuy không có cảm tình với hàng giáo sĩ, nhưng ở Nam Định họ đồng ý nhờ Cố Cao làm trung gian đối thoại trong các cuộc đấu tranh của người lao động để tìm ra những giải pháp bảo đảm quyền lợi cho công nhân. Từ tháng 10 năm 1940, Nhật kéo quân vào Đông Dương, nhổ lúa trồng đay, vơ vét lương thực phục vụ chiến tranh, trong khi chính quyền thực dân Pháp cũng thu thuế để dự trữ lương thực cho chiến tranh, cộng thêm những thiên tai, mất mùa, gây ra cảnh người nghèo ở các vùng nông thôn làm không đủ ăn, kéo lên thành phố kiếm việc làm rất đông, nhưng Nam Định cũng không có đủ công việc cho họ. Cố Cao đã điều đình với chính quyền Pháp áp dụng nhiều quy định có lợi cho những người lao động để những người miền Bắc có thể tới kiếm việc làm ở những đồn điền mới thành lập ở Miền Nam, ví dụ: Người công nhân được thuê làm việc cùng với vợ con, được hỗ trợ y tế ở các đồn điền, được bảo đảm có các linh mục giúp cho những người Công Giáo. Chính Cố đã đích thân đưa những người lao động đến tận Di Linh, Lâm Đồng để sắp xếp chỗ ăn ở cho họ. Từ cuối năm 1944, đầu năm 1945, xảy ra nạn đói tàn phá vùng Thái Bình – Nam Định, người ta kéo về thành phố xin ăn và chết đói đầy đường. Cố Cao thiết lập một trại trẻ mồ côi ở Lưu Phố (thuộc Phường Thiên Trường ngày nay) để đi nhặt trẻ em ngoài đường về nuôi.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, một phong trào bài Pháp nổi lên, những người vẫn cộng tác với Cố nay trở nên lạnh nhạt quay lưng lảng tránh hay có khi chống đối cố. Sau đó là một thời kỳ đầy biến động khó khăn, người ta đổ đồng các cha thừa sai cũng là thực dân nên bị đối xử giống như những người Pháp ở Nam Định: thù địch, bị kiểm soát gắt gao, đôi khi bị giam giữ. Đêm 8 tháng 9, Cố bị một nhóm người đến bắt, đưa lên một xe tải và đem đi hành quyết ngay trong đêm đó, giáo dân không tìm thấy thi hài của ngài để an táng. Lúc đó Cố mới có 39 tuổi.

Với chiều cao 1,85m, Cố Cao có vóc dáng uy nghi giống như một sĩ quan chỉ huy trong quân đội hay một ông chủ doanh nghiệp lớn, nhưng ngài lại chọn con đường phục vụ Chúa trong vai trò một nhà truyền giáo nhiệt tình, xông xáo trong công việc xã hội, mặc dù đôi khi tính tình thẳng thắn và cứng rắn cũng dễ làm cho người khác mất lòng. Tiếc rằng ngài phục vụ trong một thời kỳ đầy biến động và sự ra đi khi còn quá trẻ như một mất mát thiệt thòi cho Giáo hội. Cố Cao có hai linh mục nghĩa tử như hậu duệ nối tiếp sự nghiệp của ngài là Đức ông Lô-ren-sô Phạm Hân Quynh, sau nay theo Đức cha Pr.M. Khuất Văn Tạo ra Hải Phòng; và Cha Giu-se Trần Văn Mai, thư ký riêng, cố vấn cho Đức Hồng Y G.M. Trịnh Như Khuê đồng thời làm quản lý Giáo phận Hà Nội.

(Dựa theo Hồ sơ các thừa sai của MEP số 3423)

Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 36


[1] Jeunesse Ouvrière Chrétienne – được Cha Joseph Cardijn thành lập năm 1925.

[2] Front Populaire, là liên minh các đảng cánh tả được thiết lập năm 1936 ở Pháp và thành lập chính phủ Blum.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang