Cố Ferdinand Hébrard Huệ (1876-1943): Hành trình của người hiệp sĩ Tin Mừng

Trong lịch sử truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), hình ảnh các nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris luôn gợi lên với những nét đẹp cao quý về đời sống hy sinh và dấn thân phục vụ quên mình. Trong số đó, thừa sai Ferdinand Hébrard (cố Huệ) là một gương mặt tiêu biểu cho tinh thần ấy. Hơn nữa, nơi ngài còn thể hiện rõ nét tính kỷ luật và một đời sống nội tâm sâu sắc. Và để biết hơn về vị thừa sai này, chúng ta cùng tìm hiểu về ngài.

1. Từ vùng Tây Nam nước Pháp đến cánh đồng truyền giáo Bắc Kỳ

Cố Ferdinand Jean Pierre Hébrard Huệ sinh ngày 21/9/1876 tại Lacépède, Giáo phận Agen, nước Pháp, trong một gia đình hiến binh đạo đức. Tuy là người xứ Gascon thuộc vùng Tây Nam nước Pháp, nhưng gia đình ngài lại có nguồn gốc ở Béarn, vùng miền núi thuộc dãy Pyrénées, nơi biên giới Pháp-Tây Ban Nha.

Ngay từ nhỏ, Hébrard đã thừa hưởng nơi cha mẹ những đức tính quý báu như sự cương trực và lòng đạo đức. Đồng thời, cậu Hébrard cũng bộc lộ tư chất của một người lính: khỏe mạnh, kỷ luật và đầy dũng khí. Dù Hébrard có cơ hội tiếp bước con đường binh nghiệp của người cha với tương lai sáng lạn, nhưng chàng thanh niên ấy đã chọn con đường “binh nghiệp” khác: phục vụ Chúa Ki-tô và Giáo Hội.

Sau khi tốt nghiệp bậc Trung học tại Tiểu Chủng viện Agen, Hébrard đã xin gia nhập Đại Chủng viện của Hội Thừa sai Paris (MEP) năm 1895 và được chấp nhận. Trong thời gian theo học Đại Chủng viện, thày Hébrard thường được ví như một “hiệp sĩ” bởi sức khỏe dẻo dai, sự hăng hái trong các chuyến đi dã ngoại và tài năng trong môn bóng ném xứ Basque. Hơn nữa, thày Hébrard có kiến thức vững chắc về thần học, thánh nhạc, và phụng vụ. Sau những năm tháng được đào tạo, ngày 24/6/1900, thày Hébrard cùng 43 thày khác thụ phong linh mục bởi Đức cha Gendreau Đông[1]. Sau đó, cha Hébrard được sai đến truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài và lên đường ngày 24/10/1900.

2. Giai đoạn 1900-1909: Từ Chủng viện đến Giáo xứ

Đặt chân đến Việt Nam, sau thời gian học tiếng Việt tại Kẻ Sở, ngài được sai đi truyền giáo tại Giáo xứ Sơn Miêng với vai trò cha phó cho cố Durand Vinh. Nhận thấy khả năng và tư chất của vị thừa sai trẻ tuổi này, Bề trên Địa phận đã thuyên chuyển cố Hébrard Huệ về dạy học tại Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên (1902-1905). Dù bản thân cố khao khát đi truyền giáo ở những vùng sâu vùng xa, nhưng cố Hébrard Huệ vâng lời Bề Trên, luôn tận tâm và nghiêm túc để đào tạo các tiểu chủng sinh.

Năm 1905, ngài rời môi trường đào tạo để làm chính xứ kiêm quản hạt Bái Vàng. Ban đầu cố Hébrard Huệ cư trú tại xứ Bái Vàng, sau đó chuyển đến Chằm Khê. Tại đây, ngài đã góp phần biến một họ đạo nghèo nàn và thiếu thốn thành một giáo xứ mới với nền tảng vững chắc về vật chất lẫn đời sống đức tin.

3. Một thư ký tín cẩn của Đức cha Gendreau Đông (1909-1919)

Năm 1909, Đức cha Gendreau Đông cảm nhận sức khỏe của mình suy giảm nên ngài đã chọn cố Huệ làm thư ký để giúp việc văn phòng và tháp tùng ngài trong các chuyến kinh lý (thường từ bốn đến sáu tháng mỗi năm). Ngoài ra, cố Huệ cũng được Bề trên cử đi tới các giáo xứ của Địa phận để giải quyết những vụ việc phức tạp, đặc biệt là các vụ án hôn phối. Với tính cẩn thận, tỉ mỉ, công tâm và tinh thần trách nhiệm cao, cố Huệ đã góp phận giúp duy trì kỷ luật và sự hiệp thông trong toàn Địa phận. Ngoài ra, trong những tháng ngày được cùng với Đức Giám mục đi kinh lý, ngài đặc biệt bị thu hút bởi một vùng đất truyền giáo vừa khó khăn, vừa đầy hy vọng. Đó chính là Giáo xứ Thượng Lâm.

4. Hoa trái thiêng liêng tại Thượng Lâm (1919-1943)

Thượng Lâm nằm ở phía tây Địa phận, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng và miền núi, đồng thời là nơi sinh sống của người kinh lẫn người Mường. Đây là vùng đất mới được đón nhận Tin Mừng. Năm 1919, cố Le Page Loan – Chính xứ Thượng Lâm qua đời, Đức cha Gendreau Đông miễn cưỡng bổ nhiệm cố Huệ tiếp nối sứ mạng truyền giáo tại vùng đất đặc biệt này. Trong 24 năm phục vụ tại Thượng Lâm, ngài đã dành trọn tâm sức để chăm sóc cộng đoàn và để lại những kết quả tốt lành.

Trước hết, cố Huệ không ngừng mở rộng Nước Chúa. Ngài trực tiếp coi sóc cộng đoàn người kinh, khi ấy (năm 1919) có khoảng 1.500 giáo dân mà phần lớn là tân tòng. Cố Huệ dạy giáo lý cho người lớn và trẻ em để củng cố đức tin. Hơn nữa, ngài bảo vệ và bênh vực các tín hữu trước những khó khăn về mặt dân sự. Ngoài ta, cố Huệ còn trợ giúp họ về vật chất trong khả năng của mình. Nhờ ơn Chúa và sự kiên nhẫn cũng như lòng bác ái của ngài, khu vực Thượng Lâm đã mở thêm 8 giáo điểm, nâng số giáo dân lên tới 2.700 người.

Thứ hai, ngài là người cha nghiêm khắc nhưng nhân từ. Cố Huệ nổi tiếng là người khó chịu với sự bừa bãi, chểnh mảng hay lười biếng. Tuy vẻ ngoài khắc khổ, nhưng bên trong ngài là một trái tim nhạy cảm và đầy lòng thương xót. Ngài sẵn sàng tha thứ cho những ai hối lỗi. Cố Hébrard Huệ thuộc mẫu người khi ta càng quen thì càng mến; càng biết về ngài, người ta càng thấy được ích lợi và gương sáng nơi đời sống của ngài. Vì vậy, mọi người từ giáo dân, thầy giảng, các cha người Việt, hay các vị thừa sai một khi đã hiểu tính cách của cố Huệ đều dành cho ngài lòng kính trọng và tin cậy. Nhiều người còn yêu mến ngài như cha, như anh em.

Thứ ba, ngài đón nhận nhiều thừa sai trẻ đến ở với mình, nhằm giúp cho các vị ấy quen với công việc mục vụ và truyền lại ngọn lửa nhiệt thành tông đồ.

5. Hết lòng vì sứ vụ đến giây phút cuối cùng

Cuối năm 1927, do sức khỏe suy yếu, cố Huệ trở về Pháp để dưỡng bệnh. Tháng 9/1929, ngài trở lại Địa phận và tiếp tục về nhiệm sở Thượng Lâm. Tuy nhiên, sau vài năm tương đối khỏe mạnh, căn bệnh cũ tái phát. Cố Hébrard Huệ phải vào điều trị tại bệnh viện Saint Paul ở Hà Nội. Thế nhưng, mỗi khi sức khỏe được hồi phục đôi chút, ngài liền mang theo thuốc men, nhất là insulin, để trở về giáo xứ, quyết không bỏ rơi đoàn chiên.

Tháng 10/1943, ngài tiếp tục nhập viện. Khi biết mình không còn qua khỏi, cố Huệ đã xin Đức cha Chaize Thịnh và các bác sĩ cho phép trở về Thượng Lâm để chết giữa cộng đoàn mà ngài hằng yêu mến. Cố Hébrard Huệ đã trút hơi thở cuối cùng vào tối Đại lễ Các Thánh, ngày 01/11/1943, hưởng thọ 67 tuổi, với 43 năm trong sứ vụ truyền giáo tại Địa phận Hà Nội.

Thánh lễ an táng của cố Huệ được cử hành trọng thể trong niềm tiếc thương vô hạn của các linh mục và giáo dân. Sau đó thi hài ngài được đặt cạnh mộ cố Le Page Loan, dưới bóng cây Thánh Giá do chính tay ngài dựng lên trên gò đất cao, nhìn xuống làng Thượng Lâm.

 Lời kết

Nhìn lại cuộc đời cố Hébrard Huệ, chúng ta không chỉ thấy hình ảnh của một nhà truyền giáo lỗi lạc thuộc Hội Thừa sai Paris, mà còn tìm thấy một mẫu gương sáng ngời về đời sống nội tâm sâu xa và tinh thần trách nhiệm tận tụy. Lòng nhiệt thành không biết mệt mỏi, sự cương trực ngay thẳng và trái tim rực cháy tình yêu của cố Huệ vẫn sẽ mãi là ngọn lửa khích lệ các thế hệ linh mục và giáo dân hôm nay trên con đường dấn thân phục vụ Giáo hội và tha nhân.

(Biên soạn dựa theo hồ sơ các Thừa sai của MEP số 2535)

Ban viết sử TGP Hà Nội


[1] Sau cuộc phong Chân Phước ngày 27/5/1900 cho 64 đấng tử đạo tại Việt Nam, Đức cha Gendreau Đông từ Roma về Pháp. Ngài trở về Địa phận ngày 16/12/1900.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang