Cố thừa sai Pierre Roussin Hiển (1849-1882) – Tông đồ cho người dân tộc Mường vùng Lạc Thổ – Hoà Bình                 

Cha Pierre Roussin Hiển sinh ngày 1 tháng 2 năm 1849 tại làng Brain, thuộc Giáo phận Dijon, phía Đông nước Pháp. Sau khi tốt nghiệp chương trình Tiểu chủng viện ở địa phận, cha gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris năm 21 tuổi với ước mong được trở thành một thừa sai rao giảng Tin Mừng ở miền Viễn Đông. Cha chịu chức linh mục ngày 30 tháng 5 năm 1874 và được bài sai tới Địa phận Tây Đàng Ngoài. Cha lên tầu ngày 14 tháng 7 và tới xứ truyền giáo vào tháng 11 năm đó.

Đến Việt Nam, cha Roussin đến trình diện Đức cha Phước ở Kẻ Sở, ở lại với Đức cha một thời gian để học tiếng, nhận tên Việt là Hiển. Khi đã có thể quen một chút, Đức cha cử cha tới vùng Ninh Bình giúp cha Thoral Hiển, một vị thừa sai nhiệt thành và đáng kính, để tập vụ các công việc tông đồ. Sau hai năm giúp xứ, Đức cha sai cha Roussin Hiển phụ trách truyền giáo trong vùng Lạc Thổ[1], một vùng đất của người dân tộc Mường, lúc đó còn hoang sơ, rừng thiêng nước độc và đầy những khó khăn. Đức cha cũng cử hai cha Việt Nam đến làm việc cùng cha.

Theo lời Đức cha Phước kể lại, cha Roussin Hiển tỏ ra rất hoan hỉ vui mừng khi được bổ nhiệm tới nhận nhiệm vụ được trao, khi đến chào Đức cha để lên đường, ngài hứa sẽ cố gắng biến vùng đất này trước đây được mệnh danh là mồ chôn các linh mục, sẽ trở nên một mảnh đất phì nhiêu sinh nhiều hoa trái đức tin. Ngài đã đến nhiệm sở của mình vào ngày lễ Đức Mẹ Vô nhiễm năm 1876, những giáo dân người Mường từ khắp nơi trong vùng đã kéo đến để gặp ngài, có khi họ phải đi bộ hai ngày mới tới nơi, họ rất vui và hạnh phúc vì ơn Chúa ban cho được có cha mới đến ở với họ.

Nhà thừa sai làm quen rất nhanh với những phong tục tập quán của người Mường và cha có được uy tín rất lớn nơi những trưởng bản, đến độ cha có thể buộc họ bỏ đi những thực hành mê tín dị đoan với những người mới theo đạo mà trước đây họ vẫn làm. Tất cả mọi người, kể cả những người ngoại đạo, đều tin tưởng ngài là người khôn ngoan và công bằng nên đều hỏi ý kiến ngài trước khi làm điều gì quan trọng. Cha cũng phải trải qua những khó khăn để làm quen với khí hậu của vùng rừng núi này trong vài năm. Tháng 7 năm 1881, cha ngã nước, đây là cách mà ngày nay gọi là bệnh sốt rét do ký sinh trùng gây nên, lây lan do muỗi đốt, lúc đó chưa có thuốc kháng sinh nên không chữa chữa được. Lúc đầu ngài tưởng bệnh không nghiêm trọng lắm, nhưng rồi cơn bệnh càng ngày càng ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của cha.

Chính trong hoàn cảnh đau bệnh như vậy cha mới thấy được tình cảm người dân tộc họ quý mến cha biết chừng nào, họ kéo đến rất đông để thăm cha và mang thuốc đến cho cha uống. Thấy được tình cảm của họ dành cho mình mà cha không nỡ rời bỏ con cái của mình để đi chữa bệnh. Chỉ khi có lệnh của Đức cha Phước, cha mới chịu về Kẻ Sở, rồi về Hà Nội để điều trị. Những người Mường họ vẫn kéo ra thăm cha, họ phải đi bộ cả bốn ngày để tới gặp cha, họ mang cả những thầy lang trong bản đến để chữa cho cha. Những người Mường này thật đơn sơ, họ yêu mến cha như cha mẹ, anh em ruột thịt trong gia đình của mình.

Tuy nhiên sức khoẻ của ngài ngày càng xấu đi, các bác sĩ người Pháp ở Hà Nội cũng không có khả năng phục hồi lại sức khoẻ của một vị thừa sai đã cống hiến tất cả sức lực của mình phục vụ các linh hồn ở giữa nơi rừng thiêng nước độc. Càng ngày niềm hy vọng chữa trị càng tan biến dần, ngài như cảm thấy rõ giờ ra đi đã tới gần.

Trong những ngày cuối cùng, ngài vẫn tỏ ra một lòng đạo đức và tinh thần tông đồ đáng khâm  phục. Ngài nói với những anh em chăm sóc ngài: “Tôi hoàn toàn phó thác cho ý Chúa nhân lành, tôi biết mình sắp chết, nhưng tôi sẽ ra đi không hối tiếc. Tôi vẫn còn người mẹ già tốt lành, nhưng tôi đặc biệt nhớ những người dân tộc tội nghiệp của mình“. Đó là tâm tư bồi hồi trước khi ra đi, ngài nghĩ đến người mẹ già sẽ đau buồn biết bao trước sự ra đi của ngài, nhưng ngài cũng thương đoàn con cái người Mường của mình sẽ bơ vơ khi không còn ngài ở bên chăm sóc họ. Ngài được yên ủi trong lòng dựa cậy vào Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, người Mẹ nhân lành trong niềm hân hoan đón nhận các bí tích cuối cùng.

Trong đức tin sống động, cha Pierre Roussin Hiển nhẹ nhàng trút hơi thở trong Chúa hồi 4h30 chiều, ngày 11 tháng 5 năm 1882 giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ (33 tuổi). Những người giáo dân Mường vùng Lạc Thổ mãi mãi ghi ơn vị thừa sai đã có công khai phá, hy sinh cả cuộc sống của mình để mang Tin Mừng đến cho họ.

(Dựa theo Hồ sơ các thừa sai của MEP 1205)

Linh mục Tô-ma Nguyễn Xuân Thuỷ

Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 18


[1] Thuộc huyện Lạc Sơn, Hoà Hoà Bình ngày nay.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang