Đức cha Jacques Longer (Đức cha Gia) – Đại diện Tông tòa tại Địa phận Tây Đàng Ngoài từ 1789-1831

Jacques Longer sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 1752 tại thành phố cảng Le Havre trong vùng Normandie, miền Tây Bắc nước Pháp. Năm cậu 7 tuổi thì người Anh đến bao vây thành phố này, cha mẹ cậu gửi cậu đến thành phố Rouen để đi học. Sau chương trình trung học, Jacques Longer xin vào học triết học và thần học tại Chủng viện Thánh gia ở Paris. Sau khi tốt nghiệp cử nhân thần học, thầy xin gia nhập chủng viện Hội Thừa sai Paris vào ngày 30 tháng 9 năm 1774 và được thụ phong linh mục ngày 23 tháng 9 năm 1775. Ngày 4 tháng 12 năm đó, Cha Longer đã lên đường đi truyền giáo cùng Cha Gabriel Dufresse, vị thánh giám mục tử đạo tương lai tại Trung Quốc[1]. Đầu tiên, Cha Longer được chỉ định đến địa phận Tây Đàng Ngoài, nhưng khi đến Ma Cao, cha đại diện MEP[2] ở đây xét thấy khu vực Đàng Trong đang cần các cha thừa sai nên cử ngài vào đó.

Khi đến bờ biển Đàng Trong, thuyền của Cha bị cướp biển tấn công, ngài bị thương ở đầu gối và may mắn thoát chết, do được một thầy kẻ giảng có võ nghệ đi cùng bảo vệ. Khi đến xứ truyền giáo, ngài nhận tên Việt Nam là Gia bởi chữ đầu trong tên của Jacques khi đọc theo tiếng Việt sẽ là Gia-cô-bê. Ngài đã truyền giáo ở phía bắc Đàng Trong 14 năm, cụ thể là tại Quảng Trị. Cuộc nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn và những bất ổn chính trị đã khiến ngài nhiều lần phải ẩn lánh. Khoảng năm 1783 ngài lập chủng viện ở Di Loan, tiền thân của Chủng viện An Ninh sau này.

Được Đức cha Davoust, Đại diện Tông tòa Tây Đàng Ngoài  đề  cử, Cha Longer Gia được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa Gortyna[3] và là Giám mục phó cho Đức cha Davoust từ ngày 3 tháng 4 năm 1787, nhưng do thời kỳ loạn lạc khó thông tin, nên ngày 10 tháng 12 năm 1790, sắc phong mới tới được tay ngài, khi Đức cha Davoust đã qua đời được hơn một năm. Lúc đó trong cả Đông Dương chỉ còn lại có một mình Đức cha Pigneau de Behaine[4] của Đàng Trong, nhưng vì đang bị cấm cách, nên không thể tìm gặp được ngài, Đức cha Longer Gia phải sang Ma Cao để được tấn phong vào ngày 30 tháng 9 năm 1792.

Đức cha trở về bằng đường biển qua Địa phận Đông Đàng Ngoài, tại đây ngài tấn phong giám mục cho Đức cha Alonzo người Tây Ban Nha, Đại diện Tông tòa ở đây. Sau vài tuần làm quen với Địa phận Tây Đàng Ngoài của mình, Đức cha đã truyền chức cho một số linh mục, ngài đi vào Bố Chính (thuộc Quảng Bình ngày nay) để tấn phong cho Đức cha Labartette, giám mục phó của Đức cha Pigneau de Béhaine, Giám mục Đàng Trong.

Từ cuối năm 1793 đến giữa năm 1795, Đức cha đi kinh lý các vùng Hà Tĩnh, Nghệ An rồi Thanh Hóa. Tháng 10 năm 1795, ngài tổ chức Công đồng Giáo phận, có 8 cha thừa sai tham dự, để soạn thảo các quy định về kỷ luật bí tích, quy định cho các thừa sai, các linh mục Việt Nam, các thầy kẻ giảng và các chủng sinh trong Nhà Đức Chúa Trời. Công việc này có khi là áp dụng Giáo luật vào hoàn cảnh địa phương, có khi là chấn chỉnh lại phong tục tập quán trong địa phận. Mặc dù cũng có ý kiến cho rằng quy định không thực tế, nhưng những quy định đó rất quan trọng và được tuân giữ trong địa phận hàng thế kỷ.

Năm 1796 Đức cha đi kinh lý miền Sơn Tây, rồi vùng Lạc Thổ[5] năm 1797. Cuộc bách hại đạo gắt gao thời Tây Sơn năm 1798, Đức cha phải ẩn trốn trong rừng núi và đã bị bắt, may nhờ giáo dân giải thoát được. Năm 1802, Vua Gia Long chiến thắng nhà Tây Sơn, khi ông ra thành Thăng Long để được sứ hoàng đế nhà Thanh phong vương, Đức cha Longer Gia đã đến triều kiến đức vua và xin triều đình ra một sắc lệnh bảo đảm quyền tự do cho đạo Công giáo. Lời thỉnh cầu này chỉ được đáp ứng một cách hạn chế và dè dặt, cho nên vào năm 1804 Đức cha xin lại một lần nữa, nhưng không thành công.

Sau thời kỳ bách, Đức cha lại được trở về trụ sở giám mục của mình tại Kẻ Vĩnh (ngày nay là xứ Vĩnh Trị), Đức cha đã lập một nhà thương nhỏ để cứu chữa người nghèo. Ngài cũng biên soạn cuốn Thánh giáo yếu lý, một cuốn giáo lý căn bảndùng cho các linh mục Việt Nam và thầy kẻ giảng dạy đạo. Cuốn sách giáo lý này được tái bản nhiều lần, năm 1802 in 1300 bản, năm 1804 in 1566 bản và năm 1823 in 3100 bản. Ngoài cuốn giáo lý trên, ngài còn soạn một cuốn hướng dẫn các thầy kẻ giảng thuộc lòng các bài giáo lý, tập nói trước đám đông trước khi thực hành dạy cho người khác. Trước đó, trong thời cấm cách, các sách Đạo đều được chép tay, Đức cha đã áp dụng cách in của người Đàng ngoài lúc bấy giờ, dùng các thầy kẻ giảng khắc các chữ nôm trên gỗ rồi xếp chữ thành các bản văn để in sách.

Đức cha Longer Gia có đến bốn đời Giám mục phó, nhưng ngài đã phải an táng 3 vị lần lượt qua đời trước ngài: Năm 1816 Đức cha La Mothe Hậu, năm 1823 đến lượt Đức cha Guérard Doan và năm 1827 là Đức cha Olivier Phan. Năm 1829 Tòa thánh bổ nhiệm cha Joseph Havard Du làm giám mục phó cho ngài.

Từ khi Vua Minh Mạng lên ngôi đã tỏ ra thù địch và chống Đạo, Đức cha nhiều lần phải rời khỏi Kẻ Vĩnh để tránh bị trục xuất giữa lúc tuổi già, bệnh tật, hầu như ít có thể cử hành Thánh lễ và thi hành nghĩa vụ giám mục của mình. Trong bản báo cáo gửi về Bộ Truyền giáo ngày 16 tháng 4 năm 1830 cho biết tình trạng Địa phận: 2 giám mục, 6 cha thừa sai, 87 linh mục Việt Nam, 174.000 giáo dân trong 50 giáo xứ, 1 đại chủng viện với 20 chủng sinh thần và 60 chủng sinh La-tinh, 2 tiểu chủng viện với hàng trăm học sinh; trong năm 1829 có 595 người lớn được rửa tội, 1886 trẻ em ngoại giáo và 2758 trẻ em con nhà có Đạo được rửa tội; xưng tội: 192.093; chịu lễ: 87.266; trao của ăn đàng: 1.390; xức dầu: 2.574; hôn phối: 1.065; Thêm sức: 916.

Sau gần 56 năm miệt mài truyền giáo, Đức cha Jacques Longer Gia qua đời ngày 8 tháng 2 năm 1831 tại Kẻ Vĩnh, hưởng thọ 79 tuổi. Ngài là vị thừa sai của MEP có hành trình tông đồ dài nhất ở Đông Dương, với đức tính nổi bật là sự bình tĩnh, kiên nhẫn và khiêm tốn tuyệt vời. Cuối đời, ngài thường ký tên là “Lão tội đồ Longer[6]. Ngài đã chuẩn bị xây dựng cho địa phận một nền tảng giáo lý đức tin vững mạnh để có thể đương đầu với những thử thách khốc liệt của các cuộc bách hại xảy đến những năm sau khi ngài qua đời.

 (Dựa theo Hồ sơ các thừa sai của MEP Số 247)

Lm. Tô-ma Aquino Nguyễn Xuân Thủy

Trích Nội san Nhà Chung, Số 7 (tháng 8/2023)


[1] Được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II phong thánh năm 2000.

[2] Missions Etrangeres de Paris – Hội Thừa sai Paris.

[3] Vùng đất ở đảo Creta thuộc Hy Lạp ngày nay.

[4] Hay còn gọi là Đức cha Bá Đa Lộc.

[5] Ngày nay thuộc tỉnh Hoà Bình.

[6] le vieux pécheur Longer.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Scroll to Top