
Pierre André Retord sinh ngày 19 tháng 05 năm 1803 tại làng Renaison trong tỉnh Loire thuộc Giáo phận Lyon miền Trung nước Pháp. Lớn lên với ước muốn trở thành linh mục, thầy đã theo học Đại Chủng viện Lyon. Chịu chức linh mục ngày 31 tháng 05 năm 1828, Cha Retord được bổ nhiệm làm cha phó xứ Saint-Georges tại Lyon. Cha nổi tiếng ở đây vì lòng bác ái và nhiệt thành đã lôi cuốn người ta về với Chúa. Ngày 29 tháng 06 năm 1831, Cha Retord gia nhập Hội thừa sai Paris (MEP) để ngày 22 tháng 08 năm đó lên tàu đi truyền giáo tại Địa phận Tây Đàng Ngoài.
Ngay khi đến Địa phận Tây Đàng Ngoài vào tháng 07 năm 1832, cha được Đức cha Havard Du giao trách nhiệm hạt Sơn Miêng, ở đây giáo dân thường gọi ngài với tên Việt là Cố Liêu. Mặc dù hoàn cảnh cấm cách lúc đó, cha vẫn làm việc rất tích cực hăng hái phục vụ giáo dân. Khi cuộc bách hại đến giai đoạn khốc liệt, Cha phải lánh về làng Tân Độ[1] để được những giáo dân trung thành bảo vệ. Người ta đào một cái hố sâu 2m giữa bụi mây và để cha ẩn nấp dưới đó, đậy kín lại, dùng một cái ống tre để thở, nhờ vậy mà quan quân không phát hiện ra. Trong giai đoạn khó khăn này, cha đã viết những bức tâm thư đầy nhiệt thành tông đồ cho thấy rõ một cái nhìn tổng quát về lịch sử Địa phận Tây Đàng Ngoài trong vòng 20 năm.
Năm 1836, Cố Liêu được bổ nhiệm làm cha chính địa phận giữa lúc cuộc bách hại của vua Minh Mạng gắt gao nhất. Ngày 2-7-1838, Đức cha Havard Du, lúc sắp qua đời đã dùng đặc ân Toà Thánh ban cho ngài để chọn Cố Borie Cao là người kế vị mình, nếu trường hợp Cố Borie Cao chết trước khi được tấn phong thì cố Retord Liêu là ứng viên dự bị. Hiệu tòa của vị giám mục kế nhiệm là Achantus[2]. Ngài cũng bổ nhiệm Cha Cố Liêu làm đại diện ngài xử lý các công việc ngoài giáo phận.
Ngày 24 tháng 11 năm 1838, Đức cha Borie Cao đã chịu tử đạo, và vì thế Cố Retord Liêu được bổ nhiệm thay thế. Vào thời điểm đó ở Đàng Ngoài không có một giám mục nào, nên Đức cha Liêu phải đi sang Macao, nhưng ở Macao cũng đang trống tòa nên từ đó lại đi tàu sang Manila để được Đức cha José Segui Molas, Tổng Giám mục Manila, tấn phong cho ngày 31 tháng 05 năm 1840. Ngài chọn khẩu hiệu giám mục của mình là “Fac me cruce inebriari” (Xin cho tôi say mến Thánh Giá).
Tháng Giêng năm 1841, Đức cha mới trở lại được Địa phận, lúc đó vua Minh Mạng đã băng hà nên tình hình cấm đạo bớt căng thẳng hơn. Tận dụng tình thế đó, vừa về Đàng Ngoài, ngày 05 tháng 05 năm 1841 ngài tấn phong giám mục cho Đức Cha Hermosilla Liêm (Vọng)[3], Đại diện Tông Tòa Đông Đàng Ngoài. Một đoản sắc của Tòa Thánh ngày 10 tháng 12 năm 1839 cho phép ngài chọn cho mình giám mục phó với hiệu toà Emmaus, nên ngày 6 tháng 11 năm 1842 ngài đã tấn phong Cha Gautier Hậu làm giám mục phó cho mình.
Vài tháng trước đó vị thừa sai của ngài là các cha Charrier Đoan, Berneux Nhân và Galy Lý đã bị bắt và bị giải về Kinh, ở đó các ngài gặp hai cha thừa sai Đàng Trong cũng bị giam ở đó, tất cả các vị đã được đại uý thuyền trưởng người Pháp Favin-Levêque giải cứu. Như vậy ngay từ khởi đầu sứ vụ giám mục của Đức Cha Liêu đã được đánh dấu bằng một sứ vụ tông đồ đầy thập giá và hy sinh với những cuộc bắt bớ, đàn áp. Nhưng thay vì lẩn trốn trong bóng tối bỏ mặc các tín hữu, vị giám mục đã mạnh dạn giành lại tự do rao giảng Lời Chúa. Cùng với các vị thừa sai, các linh mục Việt và các thầy kẻ giảng, ngài đi khắp các giáo xứ, dạy dỗ nâng đỡ Đức Tin cho giáo dân, tổ chức Năm Thánh, các lễ trọng trong Đạo. Ngài cũng chú trọng đào tạo hàng giáo sĩ Việt Nam, đã trao trách nhiệm giám đốc chủng viện lần đầu tiên cho một linh mục Việt Nam là Cha thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh. Phương pháp mục vụ này đã mang lại cho Địa phận một sức sống và sự phát triển mạnh mẽ.
Trong bản điều trần mục vụ gửi Tòa Thánh ngày 27 tháng 03 năm 1846, Đức cha Liêu đã xin tách phần đất Nghệ An, Hà Tĩnh và Bố Chính[4] của Địa phận Tây Đàng Ngoài, để thiết lập một Địa phận mới mang tên là Nam Đàng Ngoài và giao Địa phận mới cho Đức cha Gauthier Hậu coi sóc. Phần còn lại của Tây Đàng Ngoài là 7 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, một phần Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa; với 3 thừa sai, 58 linh mục Việt, 254 chủng sinh, 207 kẻ giảng, 682 tiểu chủng sinh, 453 nữ tu Mến Thánh Giá, 29 giáo xứ hay hạt và 831 cộng đoàn Ki-tô hữu với 117.870 giáo dân.
Sau sự kiện chia tách này, đánh dấu một thời kỳ bình an ngắn ngủi ở đầu triều đại Tự Đức, Đức cha đã cho ban hành một số thư mục vụ, tổ chức lại Hội các thiên thần lo đi rửa tội cho các trẻ em nguy tử, lắp đặt hai máy in tiếng Việt và tiếng La Tinh để in cách sách đạo. Năm 1850 xảy ra một trận dịch tả tàn phá Đàng Ngoài, kéo theo là một nạn đói do mất mùa, những người ngoại giáo bị chính quyền bỏ rơi đã tìm đến lòng bác ái của những Ki-tô hữu. Đức cha đã tận tình giúp đỡ các nạn nhân, ngài duy trì nuôi sống hàng ngày cho 200 người dự tòng và 400 người nghèo ở chủng viện Kẻ Vĩnh.
Tuy nhiên cuộc bách hại vẫn chưa chấm dứt và lần này nhằm vào các đạo trưởng, tức là các thừa sai người Pháp và linh mục Việt. Năm 1851 Cha thánh Schoeffler Đông bị bắt và bị chặt đầu ở Sơn Tây; năm 1852 thì đến lượt thánh Bonnard Hương tử đạo tại Nam Định. Cuộc bách hại càng lúc càng gắt gao hơn, Đức cha buộc lòng phải đi lánh nạn ở trong núi Voi ở Lan Mát và ở Bút Sơn. Đức cha cũng đã từng nhiều lần bị kiệt sức gục trên đường đi trốn ở vùng núi rừng, bị bắt, nhưng đều được những người giáo dân trung thành tìm được, liều mạng giải cứu hay thế mạng cho.
Cũng trong thời gian này, có những phong trào khởi nghĩa nổi dậy chống lại triều đình, họ lôi kéo những người Công giáo theo họ với những lời hứa cho đạo được tự do. Đức cha và các thừa sai khôn ngoan ngăn giáo dân không theo lời xúi giục của họ. Mặc dù vậy, vua Tự Đức vẫn nghi ngờ nên đàn áp tàn bạo những cộng đoàn Ki-tô giáo. Đức cha phải lẩn tránh trong các vùng rừng, ngài đã qua đời vì bệnh nặng và kiệt sức trong rừng Đồng Bầu[5] ngày 22 tháng 10 năm 1858. Năm 1864, Đức cha Theurel Chiêu đã đưa hài cốt của ngài về an táng tại Sở Kiện.
Suốt cả cuộc đời giám mục, ngài đã sống đúng như khẩu hiệu đã chọn: “Fac me cruce inebriari” (Xin cho tôi say mến Thánh giá), ngài đã chịu biết bao nhiêu đau khổ thể xác và tinh thần, rời bỏ quê hương xứ sở đến xứ truyền giáo Đàng Ngoài xa xôi để theo đuổi một lý tưởng đem Tin Mừng đến cho những người chưa biết Chúa. Ngài trở nên một nhà truyền giáo nổi tiếng trong lịch sử truyền giáo ở Việt Nam vì đời sống thánh thiện, lòng nhiệt thành tông đồ, đau khổ và hy sinh. Cuộc đời ngài gắn liền với mầu nhiệm Thánh Giá để làm chứng cho đức tin như là một “Vị giám mục của Thánh giá”[6].
(Dựa theo hồ sơ các thừa sai của MEP, Số 391)
Lm. Tô-ma Aquino Nguyễn Xuân Thủy
Trích Nội san Nhà Chung, Số 9 (tháng 10/2023)
[1] Lúc đó gọi là làng Kẻ Nhầu, thuộc xứ Sơn Miêng. Sau này từ Sơn Miêng tách ra xứ Từ Châu thì Tân Độ là phiên thuộc xứ Từ Châu.
[2] Thuộc vùng Macedonia thuộc Hy Lạp ngày nay.
[3] Thánh Giê-rô-ni-mô Hermosilla Liêm chịu tử đạo ngày 1-11-1861 tại Hải Dương.
[4] Thuộc Quảng Bình phần Bắc sông Gianh.
[5] Nay thuộc Giáo xứ Khoan Dụ – Phát Diệm.
[6] ĐTGM Giu-se Ngô Quang Kiệt – “Đức cha Retord Liêu vị giám mục của Thánh Giá” – Châu sơn 2021
