
Chương này II của cuốn Kỷ yếu Giáo xứ Nam Định ghi lại những dấu mốc quan trọng trong hành trình Họ Vị Xuyên trở thành Giáo xứ Nam Định: từ việc xây dựng, trang trí và mở rộng ngôi thánh đường – với các hạng mục nổi bật như chuông, đồng hồ, hang đá Đức Mẹ Lộ Đức, tượng đài, vườn hoa, cho đến sự hình thành các hội đoàn, các giáo họ trực thuộc và việc mục vụ của các linh mục qua nhiều thế hệ. Một địa danh đáng chú ý trong chương này là pháp trường Bẩy Mẫu, nơi đã ghi dấu những chứng tích đức tin thời bách hại. Qua đó, độc giả có thể hình dung rõ hơn về diện mạo và sinh hoạt của giáo xứ trong giai đoạn chuyển mình từ một họ đạo thành một cộng đoàn đức tin trưởng thành và ổn định.
**********
NỘI DUNG
2. Nhà thờ được trang bị và thay đổi
3. Các giáp, họ, phiên thuộc xứ Nam Định
6. Những thay đổi lớn ở đầu và cuối nhà thờ
Họ Vị Xuyên, trải qua hai phần ba thế kỷ 19, những năm thử thách gay go. Họ giáo ngày ngày chứng kiến những cuộc vây bắt, những cuộc xử án, những cuộc xử hình: có hàng ngàn người đã đổ máu ra vì đạo trên thửa đất đầy vinh dự đó, “Sát nhất nhân vạn nhân cụ” – Giết một người muôn người khiếp sợ. Chính bản thân Họ giáo gặp bao cuộc bách hại, nhiều người anh em Họ giáo bị bắt bớ, bị giết, trong, đó nổi tiếng nhất bốn vị: Lang Tảo, Đồ Hình, Lý Hiện, ông Kiếm. Những người còn sống sót chắc phải chết khiếp mà không còn dám giữ đạo nữa, Họ giáo mai một: lẽ thường là thế.
Song trái lại, qua bao thử thách, Họ giáo càng lớn mạnh, trở thành một xứ đạo: Xứ Vị Xuyên – Nam Định có cha xứ, có nhà thờ, rất đông giáo dân.
Cha xứ đầu tiên là cha Phê-rô Nguyễn Đình Nghiêm.

Ngài chịu chức linh mục năm 1865 – Năm sau ngài được cử về Nam Định.
Công việc đầu tiên của ngài là lo xây dựng ngôi thánh đường xứ.
Theo các đấng bậc kể lại thì ngôi nhà thờ thứ nhất cha Nguyên Đình Nghiêm xây cất, thì ở trong khu nhà xứ hiện nay, và được kiến thiết theo kiêu Á – Đông. Lối ra vào nhà thờ có cổng (hiện nay ở ngõ 24 thông ra phố Hàng Xũ, nay là phố Phan Đình Phùng).
Xứ đạo Nam Định cách Toà Tổng Giám Mục Hà Nội khoảng 84 km, về phía Đông Nam. Xứ đạo nằm gọn trong thành phố Nam Định.
Thành phố Nam Định hiện nay (năm1996) có diện tích 6km2, dân số là 240.000, trong đó Công giáo có 8.000 người.
NHÀ THỜ LỚN NAM ĐỊNH
Nhà thờ thứ nhất Cha Nghiêm cho xây cất đã trở nên quá chật hẹp, vì thế cần phải xây dựng một ngôi nhà thờ lớn hơn.
Ngày 26-5-1895, thời Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII cai trị Hội Thánh. Đức cha Phê-rô Ma-ri-a Đông (Gendreau) coi sóc Địa phận Hà Nội.
Cha Phê-rô Nghiêm, chính xứ Nam Định, đã mời Đức cha Đông về làm phép và đặt viên đá đầu tiên cho ngôi thánh đường Nam Định.
Ngôi nhà thờ dài 65 mét, rộng 18 mét. Vì đất hẹp, không thể làm dài rộng hơn.
Nhà thờ được xây cất theo kiểu Âu – Châu, nhưng rất đơn giản, ít gờ chỉ, không hoa lá, cột xây vuông vắn. Có ngọn tháp vuông cao hơn 20 mét.
Nhà thờ có thể chứa 7,8 trăm người.
Đồng thời ngài tổ chức nhân sự nhà xứ đúng kiểu mẫu nhà Đức Chúa Trời. Cha xứ – các thày – các chú – các bõ sống chung nơi Nhà Chung. Các chú lúc đó phải kể đến chú Hạnh, chú Sinh, chú Lịch.
Chú Nguyễn Phúc Hạnh, cháu cụ Lang Tảo, sau này làm linh mục giúp xứ Hà Nội, cuối cùng về Anphong Nam Định và qua đời ở đó năm 1971. Chú Thân, sau gọi là ông Đốc Thân, quê Kẻ Vồi, ông có tài hoạ kiểu nhà, nên sau này ông được cử làm đốc công của Địa phận, một số lớn nhà thờ trong địa phận là do tay ông vẽ mẫu, và điều khiển xây cất. Hai anh em chú Sinh – Lịch, sau này cùng chịu chức linh mục trong một ngày, đó là điều hiếm có.
Ngoài ra nhà xứ còn thuê thầy đồ để dạy chữ Nho cho các chú. Cha Nghiêm cho mời thầy đồ cùng quê Bối Khê, thày đồ Ba xuống dạy. Thày ở trong nhà xứ, thày mở lớp dạy học ở khu nhà trông ra phố Hàng Đàn (nay là phố Hai Bà Trưng).
Con thày là chú Bạt, cũng ở với cha Nghiêm học Chủng viện Hoàng Nguyên, rất giỏi – song không có ơn kêu gọi, nên trở về thế gian.
Thày đạo đức, nghiêm ngặt – Một hôm có người rủ thày đi xem ‘hát nhà trò”. Lúc về, thày nói: con nhà trò không xinh bằng cái Bưỡi nhà ta. Cô Bưỡi, em thày Bạt, kết bạn với một người làng Kim Lâm, gần Bối Khê.
Cha Nguyễn Đình Nghiêm qua đời mùa hè năm 1907, hưởng thọ 78 tuổi (1829-1907).
Sự nghiệp của Ngài được ghi trên một bia đá viết theo kiểu Hán Nôm, đại ý như sau:
Chánh trương, trùm trưởng và chức sắc xứ Nam Định
về việc lập bia ghi sự việc của Nhà thờ.
Nghĩ rằng: Nêu lên lời nói, dựng nên công việc là điều bất hủ, đức tốt, lòng lành nhân dân không thể nào quên được.
Xứ Nam Định ta đây vị chánh linh mục họ Nguyễn Tự, đến ở xứ này, tới nay đã hơn 40 năm. Người sáng lập ra nhà xứ, gìn giữ cho dân các con khi cùng quẫn, lúc đổi thay, có lúc thường, có lúc biến, đều đảm đương trách nhiệm được. Ví như cây tùng bị sương dội mà vẫn vươn lên tốt đẹp, hoa cúc trong tuyết phủ, vẫn ngạo nghễ toả hương thơm. Công đức này vẫn có bia miệng, song nay nên dựng bia đá để truyền lại đời đời không mất được.
Vậy viết lời ghi sự việc:
“Người quê ở xã Bối Khê, tổng Bối Khê, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội, vốn dòng dõi Nguyễn Quận Công triều Lê, cháu sáu đời người Nhật Bản. Thánh hiệu là Bá Đa Lộc (Phêrô) có tên huý là Nghiêm.
“Ngày 17 tháng cuối hè năm Đinh Mùi (1907), người mất, thọ 78 tuổi, thi hài an táng tại chính đường ở bản xứ.”
“Ngày 20 tháng 7 niên hiệu Duy Tân năm thứ nhất lập bia.
Tiếp theo là tên các chức dịch đương thứ – Các giáp trưởng của 4 giáp: Vị Xuyên – An Tĩnh – Đông Mạc – Hiếu Hữu và các đại tộc Tường Loan – Vọng Cổ – Phụ Long.

NHÀ THỜ LỜN ĐƯỢC TRANG BỊ VÀ ĐỔI THAY
1. Chuông nhà thờ
Ba quả chuông nhà thờ được làm phép năm 1908.
Quả 1 nặng 1.300 kg, nhạc dấu Rê
Quả 2 nặng 730 kg, nhạc dấu Fa thăng
Quả 3 nặng 420 kg, nhạc dấu La
Hợp âm trưởng, nên lúc rung lên, nghe rất vui vẻ, rôm rả. Ít nơi có bộ chuông hay như thế.
Lễ nghi làm phép chuông không khác gì lễ nghi làm phép Rửa tội: Xức dầu, mặc áo trắng, có người đỡ đầu – được ghi tên.
Vòng quanh đỉnh cả ba quả chuông đều mang dòng chữ Pháp, tạm dịch như sau:
“Tôi đã được chịu phép Rửa ngày 28/1/1908 do Đức cha Phêrô Maria Đông, Giám mục hiệu tòa Chrisopolis, Đại Diện Tông Tòa địa phận Tây Đàng Ngoài”.
Ở mỗi quả chuông lại có những dòng chữ khác.
Quả một nốt Rê:
Tôi đã có một người cha đỡ đầu là ông Antim Duna và người mẹ đỡ đầu là bà Bacle … Tôi đã được sáng tạo do nhóm Anna lacqueline của tôi, nhờ sự đóng góp của các người Công giáo Pháp – Việt.
Tên tôi là Jeanna Léosuse
Quả hai nốt Fa thăng:
Tôi đã có một người cha đỡ đầu là ông Phêrô Quản Viễn, và bà mẹ đỡ đầu là bà Anna Quản Viễn. Nhờ lòng hào hiệp của các ngài mà
Tôi được gọi tên là Jeanins
Quả ba nốt LA:
Tôi đã có người cha đỡ đầu là ông Giacôbê Trần Văn Viễn, cựu án sát, tỉnh Thái Bình và mẹ đỡ đầu là bà Trần Thị Xuân, bạn ông
Tên tôi là Anna Giắc-cơ-lin.
2. Đồng hồ nhà thờ
Một đồng hồ lớn được đặt trên tháp chuông ở tầng dưới gác chuông. Chỉ có một mặt đồng hồ, quay ra phía sân. Đồng hồ báo từng 15 phút, từng giờ, và dùng chuông nhà thờ. Trước mỗi giờ có bộ chuông riêng, và đánh một bản nhạc trong ca vãn Đức Mẹ. Suốt ngày đêm năm tháng, cứ mỗi giờ lại vang lên một bản nhạc ca ngợi Đức Mẹ, ban ngày các phố gần nghe được, ban đêm cả thành phố đều nghe thấy. Chạy bằng quả tạ, cứ 6,7 ngày lên giây một lần. Có lần nhỡ quên lên giây, bà con thắc mắc ngay. Chiếc đồng hồ có một không hai trên toàn cõi Đông Dương.
3. Toà Đức Mẹ
Cố Ven (Celestinô) thay thế cha Nguyễn Đình Nghiêm, đã đặt tại Pháp một tượng Đức Mẹ ban ơn, cao lm90. Ngài thuê thợ lành nghề – Nam Định đã nổi tiếng về nghề trạm trổ – làm bàn thờ và toà Đức Mẹ. Bàn thờ, toà Đức Mẹ vừa lớn, vừa cao, choán tất cả phía tường sau cung thánh. Trạm trổ kỳ công, toàn bộ sơn son thếp vàng sáng chói.
Người ta kể rằng, khi tượng sắp về, sơn chưa khô, Cố Ven cho đốt than, củi, sấy toà chóng khô, để kịp đón Đức Mẹ.
Đức Mẹ đứng trên đó, phù hộ cho nhà thờ, cho xứ – Lễ quan thầy xứ mừng vào 8 tháng 12 mỗi năm.
Hai bên nách bàn thờ có hai toà trạm trổ sơn thiếp vàng khác: Toà Thánh Giuse, Tòa Thánh Antôn.
Hai bên gian cạnh, một bên bàn thờ Trái Tim Chúa Giêsu, tòa sứn son thiếp vàng, cũng trạm trổ kỳ công. Bên kia là bàn thờ Bà Thánh Anna: toàn bộ khảm trai ốc rất danh tiếng. Không nhà thờ nào có bàn thờ khảm to và dẹp như thế.
Đêm 15/3/1968, một trận bom vào nhà xứ và nhà thờ, đã phá huy toàn bộ các tòa. Các tượng vẫn được bảo vệ nguyên vẹn một cách lạ lùng, và ngày nay vẫn được đặt ở nhà thờ. Còn các toà thì vỡ ra từng mảnh.
Cha Trọng cho thu thập lại tất cả, cải biến, phục chế lại thành lối trang trí như thấy trên bàn thờ hiện nay.
Cố Ven cũng cho biến cải nhà thờ phía bên trong. Trước đây, tường nhà thờ không có hoa lá, nay một giải hoa được đắp vòng quanh nhà thờ phía trên gian chính. Các cột vuông được đắp lại theo hình thù mỹ thuật hơn, trên có các đấu cột hoa lá xum xuê, trần lát ván gỗ giổi, gỗ vàng tâm. Bước vào nhà thờ, nhìn thấy cao vút, đúng kiểu Gô-tích ở Âu Châu – Phía ngoài vẫn như khi mới xây, không thay đổi trừ hai cửa ra vào hai bên, có bậc đá lên xuống.
Một người giáo dân đã dâng cúng những phiến đá để lắp toàn bộ sàn đá trước cửa nhà thờ.
Nhà thờ tuy không to lớn, đẹp đẽ lắm, nhưng đã đứng vững cho tới ngày kỷ niệm một trăm năm xây cất, năm 1895-1995.
Danh sách các cha đã coi sóc xứ Nam Định – Chính xứ hay phó xứ
Cuối thời Cha Nguyễn Đình Nghiêm, có các Cha sau đây:
– Năm 1906: Cố J. Ven (Celeslino), Cố Hạnh (Achill), Cố J. Hương ( Dépaulis), Cố J. Ngũ (Victor Aubert)
– Năm 1912: Cha già Am, Cố Quý (Joseph Villebonnet)
– Năm 1915: Cha P. Thược
– Năm 1917: Cha J. Vũ
– Năm 1918: Cha già P. Vượng
– Năm 1920: Cha già Hoàn, Cha Fx Hiệp
– Năm 1924: Cha P. Phẩm, Cố J. Hoá (Jean Pédebidau)
– Năm 1925: Cố Brun (không rõ lên Việt)
– Năm 1926: Cha J. Huấn
– Năm 1929: Cha P. Trúc
– Năm 1930: Cha P. Tư
– Năm 1932: Cố A. Cao (Andre Vacquier)
– Năm 1933: Cha J.B. Tỉnh, Cố Sang (Felix Tardy)
– Năm 1940: Cha An-tôn Hoàng Cao Chiểu
– Năm 1942: Cha L.Viễn
– Năm 1948: Cố Căn (Cantalube)
– Năm 1949: Cha Phao-lô Lê Đắc Trọng
– Năm 1951: Cha Benoit Dũng
– Năm 1952: Cha P. Tiệp
– Năm 1953: Cha An-tôn Đinh Lưu Nhàn, Cha Phê-rô Đỗ Diệu Kỳ, Cha Đinh Thành Chung, Cha Thomas Nguyễn Khắc Ứng.

CÁC GIÁP, HỌ, PHIÊN THUỘC XỨ NAM ĐỊNH
Con số giáo dân xứ Nam Định mỗi ngày một đông, và lên tới vài nghìn người trong những năm đầu thế kỷ. Do đó cẩn phải chia ra nhiều đơn vị nhỏ để dễ sinh hoạt.
Không thể phân chia theo cách thức phân chia các khu vực hành chính, lấy đường phố làm ranh giới. Mật độ người Công giáo ở các đường phố khác nhau. Có thể tập trung quanh nhà thờ mà các nơi xa trung tâm lại thưa thớt
Bởi đó, xứ sẽ được phân chia thành từng đơn vị, theo lối tòng nhân, chứ không tòng địa. Các đơn vị này được gọi là Giáp. Gia đùnh nào ghi tên ở giáp nào, cứ thuộc về giáp đó mãi, dù có đổi chỗ ở, từ phố này sang phố khác, từ đầu tỉnh xuống cuối tỉnh. Các người thuộc các giáp, ở xen kẽ, ở lẫn lộn với nhau.

Mỗi giáp chỉ được thành lập do quyết định của Đức Giám Mục địa phận.
Giáp tương đương như họ giáo trong một xứ. Tổ chức và hoạt đông như một họ giáo.
Đứng đầu là trưởng giáp – quản giáo – trùm học trò – thư ký thủ quỹ.
Trưởng giáp coi sóc mọi việc trong giáp – có chân trong Hội Hàng Phủ Xứ – Quản giáo chuyên lo việc coi sóc trẻ ở nhà thờ – dạy kinh bổn trẻ em trong giáp – thu xếp việc học và thi kinh bổn toàn xứ trong dịp lễ Các Thánh và Phục Sinh, cũng có chân trong Hôi Hàng Phủ Xứ, giám sát việc thi kinh bổn.
Trong cuốn Thư Chung của Địa Phận Tây Đàng Ngoài, Đức cha Phê-rô Đông có thống kê như sau:
| Năm 1840 | Năm 1902 |
| Xứ Kẻ Trình (gồm họ Nam Định, họ Chân Ninh 5019 giáo dân | – Xứ Kẻ Trình : 2.340 giáo dân – Xứ Nam Định: 2.016 giáo dân – Xứ Chân Ninh: 3.007 giáo dân |
Bà trùm học trò đứng đầu một nhóm thanh nữ, gọi là học trò thưa kinh (Khi đọc kinh cầu thì thưa: cầu cho chúng tôi …) đọc cung thường hay ngân nga như khi đi kiệu – ngắm lễ theo cung giọng mùa vui, mùa thương khó – tóm lại, việc đọc kinh ở nhà thờ được đều đặn, sốt sắng là do nhóm này – vừa thưa kinh, vừa có giọng đọc đúng làm đầu tầu – Mỗi giáp làm việc một ngày trong tuần, theo hàng Xứ qui định – sáng lễ – chiều đọc kinh – Giáp nào thiếu sẽ bị khiển trách.
Xứ Nam Định có 5 giáp : Vị Xuyên – An Tĩnh – Hiếu Hữu – Đông Mạc – An Toàn.
Các giáp Vị Xuyên và An Tĩnh là những giáp cổ nhất, vì những người có đạo đầu tiên là ở làng Vị Xuyên và Năng Tĩnh.
Sau đó là giáp Hiếu Hữu và Đông Mạc.
Giáp An Toàn mới được thành lập năm 1935.
Mỗi giáp nhận một thánh quan thày.
Giáp Vị Xuyên nhận thánh An-tôn; Giáp An Tĩnh: Đức Thánh Micae: Giáp Hiếu Hữu: Thánh Phêrô: Giáp Đông Mạc: Thánh Phanxicô Xavie; và Giáp An Toàn: Thánh Antôn.
Mỗi giáp mừng lễ thánh quan thày vào ngày lễ kính thánh của giáp. Trước lễ, ông trưởng giáp kêu gọi người trong giáp dọn mừng lễ, nhất là đi xưng tội.
Không giáp nào có nhà nguyện riêng, vì các gia đình ở rải rác khắp thành phố không cần nhà nguyện riêng, vì đã có một nhà thờ xứ.
Duy có giáp Đông Mạc có hoàn cảnh khác một chút. Phần đông người trong giáp qui tụ quanh phố Hàng Tiện, bởi họ làm nghề trạm trổ, nghề khảm: các nghề đó quy tụ công nhân trong nghề vào một khu. Tuy nhiên giáp Đông Mạc có một ngôi nhà nguyện nhỏ kính Thánh Phanxicô Xaviê. Trước lễ quan thày, người trong giáp chiều chiều đến nhà nguyện làm tuần chín ngày. Có sách riêng về việc đó.
Đền Thánh Phanxicô Xaviê, đền duy nhất trong thành phố, nhưng có nhiều người, kể cả từ xa đến khấn Thánh Phanxicô Xaviê, và nhiều người thấy được như ý nguyện.
Các giáp đều không có nhà thờ, song mỗi giáp có một vài nhà cho thuê, để lấy tiền làm công bản.
Các lễ lớn, như lễ rước Thánh Thể, các giáp chia nhau làm tạm chầu. Do đó, nhiều giáp có tạm rời bằng gỗ, đến lượt phải làm tạm, cứ mang ra lắp.
Mỗi giáp lại phải tổ chức các lớp thi kinh bổn để góp với hàng xứ. Trước kỳ thi, ông trưởng giáp chiêu mộ người trong giáp đến nhà mình ôn kinh bổn.
Họ Kim Phô
Nhiều người, gốc tích ở khắp nơi tụ tập ven sông Đào. Tuy cùng sống trên mặt nước, không có nhà trên bờ, nhưng họ làm thành hai tầng lớp khác nhau. Tầng lớp cơ bản là những người chài lưới: họ kiếm cá trên mặt sông, khi gần khi xa, hễ chỗ nào làm ăn được, họ ở ít lâu, thỉnh thoảng lại trở về chỗ cũ, làng Thủy Cơ, họ Kim Phô – Một lớp người khác, không thích nghề chài lưới, họ muốn dùng con thuyền làm phương tiện vận tải. Chở vôi đi bán khắp nơi, chở thuê hàng hoá. Nhiều người có những thuyền rất lớn, họ trở thành nhũng ông chủ giàu có. Chiếc thuyền lớn của họ cũng ngang giá với ngôi nhà trên đất. Những người này thường lênh đênh trên mặt sông cả năm, với vợ chồng con cái.
Dịp tết họ trở về làng tất cả: người chài lưới, người lái buôn trên thuyền.
Hết ba ngày tết, là mấy ngày đại phúc. Họ có một ngôi nhà thờ nhỏ. Họ mời cha xứ đến mở mấy ngày làm phúc.
Hết tuần đại phúc. Hội làng, ăn với nhau một bữa rồi ai nấy lại trở về mặt sông, trên những con thuyền nan, hẹn tết năm sau lại gặp nhau.
Về đạo chỉ có thế, nếu tối sớm họ không đọc kinh, chủ nhật không đỗ lại gần nơi có lễ, thì đời sống đạo của họ chẳng còn gì nữa. Họ bổng bột, sốt sắng – dễ mê tín dị đoan, song thật thà. Người ta bảo con cái ông Thánh Phê-rô ở đâu cùng thế.

Về văn hoá, hầu hết ít học. Trẻ em theo cha mẹ di chuyên luôn luôn, còn đâu thì giờ đến trường học nữa.
Tính khí nóng nảy, – Những người giàu có thường ưa thích hưởng thụ ngay ở thuyền: dễ có cơ hội chơi cờ bạc, nghiện hút, rượu chè.
Ấy là cách sống ngày xưa. Ngày nay những người chài lưới “thất nghiệp”, sống loanh quanh trên bờ sông, đội đá, đội than thuê, lúc có việc, lúc không có việc, đời sống rất vất vả.
Người có khả năng một chút, thì nghĩ đến việc làm chủ một thuyền máy, một tầu. Họ học lái tầu và mua tầu. Tầu đi Hải Phòng, đi Quảng Ninh, sang Trung quốc. Nhưng cũng khó làm ăn lắm – chưa mấy ai đã khá.
Con cái các gia đình không đi thuyền với cha mẹ, ở lại học hành. Phần lớn các gia đình Thuỷ Cơ đều ở ven sông. Một bộ phận họ Kim Phô lên khu thành Nam. Một số ít lên ở trên các phố.
Hiện nay con số người họ Kim Phô lên tới 1.700. Đơn vị lớn nhất trong xứ.
Họ Phụ Long
Họ Phụ Long ở ngay làng Phụ Long, bên phía Tây Bắc thành phố.
Họ Phụ Long có những gia đình rất cổ, đã ở đó từ 4,5 đời. Xưa đã có người làm linh mục ở Phát Diệm: Cha chính Liêm.
Cũng như ở các phố, người tứ xứ đến làm ăn lập nghiệp. Diện tích họ trước đây phần lớn còn là ruộng vườn. Họ có một nhà thờ chứa được vài trăm người. Có tháp, có chuông.
Trước năm 1945, Họ giáo rất phát đạt, có nhà phòng, có cha đến ở thường xuyên, có khu nhà trường. Chiến tranh đã tàn phá tất cả, chí còn ngôi nhà thờ.
Họ giáo đang quyết định khôi phục lại khu nhà thờ, dần dần khôi phục sinh hoạt họ giáo.

Có xứ Việt xứ Pháp ở Nam Định không?
Xứ Nam Định là một trong các xứ thuộc Địa phận Hà Nôi, một xứ có một gốc tích, một lịch sử uy hùng, một trong các xứ đông đúc thịnh vượng nhất.
Nhưng trong xứ đó cũng thấy cố sự hiện diện của người Pháp từ hàng thế kỷ, có các linh mục người Pháp chung sống với các linh mục Việt Nam, có lúc cha Pháp còn làm cha xứ, cha Tổng Quản, và có nhiều mối liên hệ giữa người Pháp ở Nam Định với nhà thờ Nam Định.

Như vậy, người Pháp ở Nam Định có làm thành một cộng đồng, một xứ đạo riêng biệt không?
Người Pháp, sau khi chiếm được thành Nam Định, đã đặt ở đó những cơ quan hành chính, quân sự để cai trị tỉnh Nam Định.
Đó là những người Pháp đầu tiên ở Nam Định, trong đó nhiều người có đạo.
Vào những năm 1889-1890, nhà máy dệt Nam Định được thành lập. Đó là một Công ty Bông vải Sợi Bắc Kỳ (Société Cotonnière du Tonkin) của người Pháp: các chủ nhà máy đem gia đình họ đến ở Nam Định, số người Pháp ngày càng đông: quan chức, viên chức, sở lãnh binh, sở sen đầm… và dân sự. Họ ở công sở, ở nhà máy, ở các khu phố.
Phần lớn trong họ đã được chịu phép Rửa tội. Nhưng con số thực hành đạo không phải là tất cả.
Trong nhà xứ cố các cha Pháp, các cha Nam, Cha Pháp cùng coi xứ với cha Việt Nam – lại chuyên lo cách riêng về người Pháp. Họ đến hát lễ – có ngày rửa tội riêng cho họ; sổ Rửa tội hay các sổ khác cũng chỉ ghi công việc của họ.
Như thế có phải người Pháp làm thành một xứ riêng biệt với xứ Nam Định không?
Nói đúng ra, họ làm thành một cộng đồng sống trong xứ Nam Định – nếu có nói đến lễ “tây”, lễ “ta”, thì không có ý nói: người nước nào dến dự lễ người nước ấy.
Nhưng lễ nào mà giảng bằng tiếng Pháp, và do cha Pháp cử hành, thì người giáo dân Pháp đến tham dự lễ đó, và nói “lễ tây” là theo ý nghĩa đó. Ngược lại, đối với “lễ ta” cũng thế, và cũng theo ý nghĩa đó mà nói “lễ ta”. Đạo Công giáo không phân biệt ngôn ngữ màu da – Thực tế, có người Việt Nam thích đi “lễ tây” và người tây đi “lễ ta”.
Vào những năm 50 không có cha người Pháp, cha Việt Nam cử hành lễ và giảng giải cho người Pháp trong lễ dành cho người Pháp.
Một điều đáng tiếc khác, khi không còn cha Pháp, không ai giữ sổ sách người Pháp. Ngày nay, ở đâu có hỏi điều gì liên hệ đến người Pháp ở Nam Định trước kia, ví dụ về phép Rửa tội, sổ sách không còn, không căn cứ vào đâu mà trả lời.
Mấy nét về Giáo xứ Tường Loan (Ba Trại)
Họ đạo Ba Trại được thành lập do cha già Phê-rô Nguyễn Đình Nghiêm vào khoảng năm 1868 – 1870, nghĩa là sau hoà ước tha đạo 1862.
Giáo họ cách xứ mẹ Nam Định khoảng 7,5 km về hướng Đông Bắc. Mọi sinh hoạt Phụng vụ đều về xứ mẹ Nam Định như: Thi kinh bổn, ngắm nguyện trong mùa Chay cả, phép giao, phép cưới… hàng năm có được Cha Già Nghiêm hoặc một cố Tây về làm phúc.
Năm 1916, Giáo họ Ba Trại được thăng lên thành phiên (Annexe) và Bề trên địa phận cử cha Giu-se Tạ Công Vũ – Phó xứ Nam Định về coi sóc và làm mục vụ.
Năm 1923 – 1928, Cha Giu-se Tạ Công Vũ tổ chức xây dựng ngôi thánh đường khang trang hơn và đổi tên thành xứ Tường Loan.
Xây dựng ngôi thánh đường xứ Tường Loan cũng được cố Quý (Joseph – Villebonnet) đỡ đầu về phần: Móng – gỗ kèo và mái ngói.
Phần còn lại cha xứ Giu-se Vũ đã đi quyên góp các nhà hảo tâm ở xứ mẹ Nam Định.

Theo niên giám của địa phận năm 1939 có thống kê như sau: tín hữu: 1.107; họ lẻ: 10; trường học: 2; và học sinh: 90
Sau khi xây dựng thánh đường, Cha già Vũ đã tổ chức lại các hội đoàn trong xứ họ như: Thành lập hội bát âm, hội trống ngũ lôi, hội kèn tây, hội dâng hoa, hội hát, hội áo Đức Bà Camêlô, hội Bà Thánh Anna, hội bà Thánh Têrêsa, hội nghĩa binh Thánh Thể…
Cha già Giu-se Tạ Công Vũ coi xứ Tường Loan từ năm 1916–1943; kế đó là Cha già Giu-se Trúc từ năm 1943–1944; Cha Gioan Bao-ti-xi-ta Bùi Huy Niên (Điền) từ 1943–1949; Cha Phê-rô Nguyễn Hưng Nhượng từ năm 1951–1953; Cha Phao-lô Lê Đắc Trọng từ năm 1955–19…. (Năm 1994 Cha Phao-lô Lê Đắc Trọng nhân chức Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Hà Nội)
Phiên Tường Loan được thăng lên chính xứ năm 1960.
Từ 1994 – 1995, xây dựng tượng đài Đức Mẹ Mân Côi ở giữa hồ, trước cửa nhà thờ. Ngày khánh thành đã được Đức cha Phao-lô Lê Đắc Trọng về làm phép và dâng Thánh lễ tạ ơn với 15 cha đồng tế.
KHU NHÀ XỨ 16 PHỐ HÀNG ĐÀN
Khu nhà xứ Nam Định cũng thành hình dần dần như ở các xứ đạo, từ nhỏ đến lớn, và rộng thêm, nhà cửa thêm nhiều, tùy nhu cầu trong xứ.
Khu nhà xứ Nam Định cũng có những thay đổi luôn luôn, vì cần phải quy hoạch lại tùy thời đại.
Nói “nhà xứ 16 phố Hàng Đàn”, có nghĩa là nhà xứ quay mặt ra phía Hàng Đàn, nhưng ban đầu không phải chỉ có số 16, mà còn bao gồm nhiều số khác. Số 16 chỉ được đặt ra sau này. Thực tế, mặt nhà xứ là cả một quãng đường phố, sau này gồm 6,7 số nhà liền nhau. Dãy nhà này gồm nhà một tầng, có thể là nhà cổ nhất của xứ.
Sau này, khi xây cất được các nhà khác, khu nhà đó dành cho thầy đồ và các chú.
Một khu nhà lớn hai tầng, đươc xây lên rất vững chắc. Kiểu cách y như nhà cha xứ Hà Nội hiện nay. Chắc là xây cất sau nhà thờ bây giờ.

Hoài niệm của Đức cha Lê Đắc Trọng
Khi tôi còn đang học Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, hè năm 1934 tôi về Nam Định thăm cha Tỉnh; lên buồng ngài ở, tôi phải bước trên một cầu thang bê tông ở trước cửa nhà. Đi vào phòng, ngăn ngôi nhà đó thành hai khu – Cha Tĩnh ở khu ngoài, phía sân nhà thờ. Vào buồng tôi gặp một thanh niên có vẻ “nhà thầy” , hỏi ra mới biết dó là cụ Bốn Khoát. Hè năm 1937, tôi lại về Nam Định, có đến thăm Thày giáo xứ: Thày Bính (con ông Quản Tuất bán hiệu ảnh ở gần cổng Nhà Chung – Hà Nội). Thày ở một buồng trong dãy nhà một tầng, khu nhà các thày, đằng trước có vườn hoa chạy dài, có những cây mẫu đơn – xa xa một chút, có giếng – Thày dẫn tôi ra nhà thờ xem đàn. Lên gác bằng một cầu thang xoáy bằng gỗ, gác hát bằng gỗ, có chiếc đàn không to lắm, tiếng rất hay, đó là một bán phong cầm (sémi-orgue).
Ngôi nhà lớn đó có lẽ các Cố xây, nên các Cố thường ở đó. Đến sau, cũng theo hướng ngôi nhà đó, có một dãy nhà nhỏ ở đầu, lại có một nhà hai tầng lớn, có cầu thang lộ thiên ở giữa, cầu thang nối vào một buồng hẹp ngăn đôi ngôi nhà, mỗi linh mục ở một bên. Thường là các cha Việt Nam.
Phía Bắc ngôi nhà thứ nhất là một dãy nhà một tầng cắt ngang; có nhiều gian, sau nhà là ngõ nhà thờ cũ. Đầu dẫy nhà này có cổng đi ra ngõ nhà thờ, đầu ngõ là cổng lớn, trông ra phố Hàng Xũ.
Về phía trước ngôi nhà lớn, bên kia sân là bể nước mưa, tiếp là dẫy nhà bếp, nhà đổ đạc kéo dài đến một cái ao nhỏ, ở đằng sau dẫy nhà cổ ngày xưa là nhà các chú và thầy đổ.
Như thế bốn bề nhà xứ là nhà, và nhà xứ không quay ra phố Hàng Đàn, nhưng có hai cổng đi ra phía nha thờ, ở giữa là vườn trồng hoa, trồng rau – có con đường chữ Thập mà trung tâm là giếng.
Năm 1968, tất cả trở nên bình địa do một trận bom vào 12 giờ đêm.
Một câu hỏi: Xứ Nam Định sống bằng cách nào?
Trước hết, nhà xứ có mấy nhà cho thuê lấy tiền sinh sống.
Nhà xứ cũng có mấy chục mẫu ruộng ở Phong Lộc, bên kia sông.
Vào những thời kỳ chiến tranh, chắc là ruộng để hoang – Rồi chẳng thấy ai nói đến nữa.
BẨV MẪU HAY VƯỜN TỬ ĐẠO
“Hạt lúa gieo xuống đất… nếu có mục nát đi, nó sinh được nhiều hạt khác”. (Ga 12,24)
Tỉnh Nam Định đã là nơi tập trung đạo Công giáo. Bởi đó, tỉnh này có nhiều vị tử đạo nhất.

Khi quan quân tỉnh Nam Định đến vây một làng nào mà bắt được đạo trưởng hay những người có liên quan đến đạo trưởng, họ giam giữ và xét xử qua loa ở làng, rồi điệu về giam và xét xử ở tỉnh. Những người bị bắt bị giam đó, được đưa ra toà xét xử nhiều lần, bị tra tấn bằng mọi cực hình, bắt phải quá khoá, (bước qua Thập Giá: cử chỉ có ý nghĩa chối bỏ đạo).
Người nào bị tra tấn nhiều lần, mà vẫn bất khẳng, thì họ lên án tử hình.
Án này phải được đưa vào triều đình Huế xin vua duyệt y.
Vua y án rồi “tôi nhân” bị đưa đi xử ở Bẩy Mẫu. Khu này ở phía Bắc, cách thành phố Nam Định độ 2 km.
Quang cảnh đưa vị “chứng nhân” đi xử quả là một đám rước. Quan ngồi trên voi, lính cẩm giáo mác, lý hình, vị chứng nhân đeo gông, đeo xiểng, đoàn lũ người đi xem, người đi xin xác, người kiếm di tích làm báu vật.
Nếu vị chứng nhân bị án chém đầu, người ta giải chiếu cho vị đó quỳ, tháo gông, trói vào cọc…
Dứt ba hồi chín tiếng chiêng, lý hình chém đầu.
Đầu bị chém có khi phải bêu lên mấy ngày.
Đôi khi mai táng tại chỗ, song thường là giáo dân tìm cách xin xác đưa về mai táng.
Lúc này mọi cái liên quan đến việc xử hình đều trở nên quý giá. Người có đạo tranh nhau vào thâm máu. Chiếc chiếu giải, gông cùm, xiềng xích: tất cả đểu thành bảo vật, ai nấy tranh nhau giữ lấy cho mình.
Thường nói: Đất Bẩy Mẫu đã thấm đầy máu các Đấng Tử Đạo, nói thế đúng về thiêng liêng hơn là về vật chất. Máu có đổ ra ở đó bao nhiêu, lập tức người ta vội vã, tranh nhau thấm lấy hầu hết đem về nhà làm bảo vật.
Những năm bách hại gay gắt nhất, có khi không mấy ngày mà không có xử hình ở Bẩy Mẫu.
Trong số 117 vị được phong thánh, ngót 40 đấng đã chịu chết ở Bẩy Mẫu.
Những vị chưa được phong thánh, xong đã có án đưa sang Toà Thánh để xét, con số lên tới 216 vị. (Bản danh sách sẽ được ghi ở cuối tập Kỷ yếu này)
Chính cái chết của các thánh tử đạo ở Bảy Mẫu đã cho thành Nam Định cái danh hiệu vinh quang: “Thành phố Các Thánh Tử Đạo” Cũng như thành Rô-ma xưa.
Đương nhiên là khu đất vô cùng quý giá đó, xứ Nam Định phải trân trọng giữ gìn.
Sau này giữa khu vực Bẩy Mẫu có xây một đài tưởng niệm, chờ ngày có một nhà thờ nguy nga trên đó.
Bẩy Mẫu đã trở nên Vườn Tử Đạo nơi ươm hạt giống tử đạo, để mọc lên cây tươi tốt làm vẻ vang đất nước và Giáo hội Việt Nam.
Con đường đi vào khu vườn đó, hai bên trồng phi lao – Con đường tử đạo là con đường ngắn, mà lối đi nước “phi” để “lao” vào cõi vinh quang.
Cổng vào được xây theo kiểu đơn giản – Chắc rồi phải xây như một khải hoàn môn.
Vào những ngày nhất định, giáo dân Nam Định hành hương tới đó để kính nhớ và xin sự bầu cử của những người “Tôi Tớ” đã được nghe lời Chúa phán: “Hỡi tôi tớ trung tín, hãy vào lĩnh thưởng do Cha Thày đã sắm cho từ muôn đời”
Những cuộc rước Thánh Thể Lễ Chúa Giêsu Vua, Bảy Mẫu là điểm xuất phát để tiến về nhà thờ xứ Nam Định.
Bảy Mẫu ngày nay xứ Nam Định chưa giữ – nhưng trong trí nhớ của người giáo dân Nam Định, Bảy Mẫu không bao giờ bị xoá nhoà. Bảy Mẫu vẫn còn mãi trong trí nhớ của mọi người Công giáo Việt Nam, dù sống ở bất cứ nơi nào trên mặt đất.
Bảy Mẫu gắn liền với Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, gắn liền với Chúa Giêsu – Vua Các Thánh Tử Đạo.
NHỮNG THAY ĐỔI LỚN Ở CUỐI VÀ ĐẦU NHÀ THỜ
Hang đá Đức Mẹ Lộ Đức
Vào khoảng 1929, Cha P.Trúc về giúp xứ Nam Định. Ngài là một người hay thơ, đã tóm lược Cựu – Tân Ước bằng những vần thơ lục bát.
Khoảng năm 1930-1932, ngài chủ trì việc xây Hang đá Lộ Đức ở đầu nhà thờ. Hang đá được xây theo hình thù đầu con sư tử, trên mào con sư tử được đặt tượng Đức Mẹ Lộ Đức. Đó là mô phỏng nhỏ bé núi Đức Mẹ ở đầu nhà thờ Kẻ Sở.
Năm 1967, vào lúc phi cơ Mỹ bắn phá ác liệt nhất, một quả bom rơi trúng ngôi nhà bên cạnh núi đá, đào một hố sâu – Hang đá vẫn nguyên vẹn – Hố bom được san lấp ngay và sửa thành vườn hoa bên cạnh núi đá; núi cũng được sửa lại. Một quả bom khác lại rơi trúng nơi đã rơi lần trước – Núi đá vẫn trơ trơ, Đức Mẹ trên núi vẫn chắp tay với cỗ tràng hạt. Lập tức, núi đá, vườn hoa lại được sửa lại lần nữa, núi cao hơn, lớn hơn như để thách thức với những mãnh lực tàn phá.
Các chiều thứ Bảy, chiều lễ Kính Đức Mẹ. Sau lễ, sau chầu, cả nhà thờ đổ ra, đến đứng trước Đức Mẹ, để than thở, để cầu xin với Đức Mẹ.
Vườn hoa trước cửa nhà thờ
Thời Cha André Vacquier, xứ Nam Định đã mua được khoảng đất trước cửa nhà thờ để làm vườn hoa.
Khu trước cửa nhà thờ trước đây là một đồn cảnh sát, “Sở Cẩm” (Commissariat de police).
Cha đã thương lượng với quan công xứ Nam Định, xin nhượng lại căn nhà đó. Công việc chuyển nhượng được may mắn dễ dàng.
Khu vực trước cửa nhà thờ được khai quang, trở thành một công trường lớn, không mấy nhà thờ, có công trường đẹp đẽ khang trang như thế.
Giữa công trường là một bồn hoa – Sau này là nơi đặt tượng đài Đức Mẹ Fatima.
CÁC HỌ THÁNH, HỘI ĐẠO
Các họ thánh, như họ Mân Côi, họ áo Đức Bà đều được lập ở Nam Định, trong đó hội viên được hưởng các lời cầu nguyện và ơn ích bởi việc lần hạt, các việc đạo đức mình làm, mà lại còn được hưởng nhờ các việc lành phúc đức cùng ân xá của toàn thể họ thánh.
Nhưng các hội sau đây nổi hơn trong xứ:
a. Hội bà thánh Anna
Hội nhân bà thánh Anna làm quan thày, các bà mẹ noi gương bắt chước bà thánh Anna trong việc coi sóc gia đình, dạy dỗ con cái.
Ở nhà thờ xứ, hội có một bàn thờ cạnh dâng kính bà thánh Anna. Bàn thờ và toàn bộ nhà tòa được khảm trai, rất công phu, không đâu có.
Hội còn có hai ngôi nhà ngoài đường phố làm công bản, cho thuê lấy tiền giúp các việc từ thiện.
b) Hội Trái Tim Chúa Giêsu
Hội giúp tăng thêm lòng tôn sùng Trái Tim Chúa nơi từng cá nhân, lại cổ động việc dâng gia đình cho Trái Tim, tôn nhận Chúa Giêsu làm vua gia đình.
Hội có một ngôi nhà nguyên nhỏ ở gần cổng nhà xứ: nhà nguyện Trái Tim.
Việc tôn sùng Trái Tim sau đó được tập trung ở nhà thờ, ở bàn thờ Trái Tim, bàn thờ cạnh về phía Phúc Âm. Một bàn thờ sơn son thiếp vàng, trạm trổ rất công phu.
Năm 1968, cả hai bàn thờ bị bom phá huỷ, song tượng Trái Tim Chúa Giêsu và tượng bà thánh Anna vẫn nguyên vẹn.
c) Hội các linh hồn
Hội có mục đích xin lễ cầu cho các linh hồn. Hội được phép đặt một hòm ở nhà thờ, để ai muốn dâng tiền xin lễ, hoặc ít hoặc nhiều, tất cả đều được dùng vào việc xin dâng Thánh lễ cho các linh hồn, nhất là các linh hồn mồ côi.
Ngoài ra hội còn có hai căn nhà ở phố, cho thuê lấy tiền cũng để giúp vào mục đích trên.
Các họ thánh, các hội đạo đức này giúp rất nhiều cho lòng đạo đức sốt sắng của mọi người.
Nhưng Giáo Hội của Chúa Giê-su là một Giáo hội truyền giáo: Nước Chúa không chỉ là men làm dậy bột, mà còn là hạt cải nhỏ bé nảy sinh thành cây lớn. Vì thó từ đây, theo trào lưu trong Giáo hội, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, những đoàn thể có tính cách năng động – truyền giáo nảy sinh và phát triển từ lòng giáo dân, từ phong trào Công Giáo Tiến Hành – Xứ Nam Định cũng được hướng đi theo chiều đó.
