Kỷ yếu Giáo xứ Nam Định: Chương III – Thời kỳ vàng son của Giáo xứ Nam Định – Công giáo tiến hành

Chương III ghi lại thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Giáo xứ Nam Định trong giai đoạn được gọi là Công giáo tiến hành – một thời kỳ được ví như “vàng son” của đời sống đạo. Nổi bật trong giai đoạn này là sự hình thành và hoạt động sôi nổi của các hội đoàn: Hội Minh Minh Đức, Hội Bác Ái Vinh Sơn, Phong trào Thanh niên – Lao động Công giáo, Hướng đạo sinh, Thiếu nhi Thánh Thể và nhiều công cuộc mục vụ khác, đặc biệt tại đặc khu nhà thờ Vườn Chay.

Bên cạnh đó, chương này cũng ghi nhận đóng góp đáng kể của giáo xứ trong phong trào văn hóa Công giáo, đặc biệt là lĩnh vực Thánh nhạc, nơi Nam Định trở thành một trong những cái nôi quan trọng góp phần định hình nền Thánh nhạc Việt Nam.

***********

MỤC LỤC

1. Hội Minh Minh Đức

2. Hội Bác ái Vinh Sơn

3. Phong trào thanh niên Công giáo

4. Phong trào lao động Công giáo

5. Hướng đạo sinh – Thiếu nhi Thánh Thể

6. Phong trào văn hóa Công giáo

Đừng kể thời kỳ các Đấng Tử Đạo: Thời kỳ anh hùng cao cả và vinh hiển mà con người không thể tạo cho mình được. Tử đạo là một hồng ân Chúa ban nhưng không. Con người không thể tự ban cho mình đươc. 

Nhưng các thập niên 30 – 40 của thế kỷ này, có thể là một thời kỳ vàng son trong lịch sử xứ Nam Định. Thời kỳ mà Giáo xứ cầm lá cờ đầu trong các phong trào Công giáo, nhất là Công Giáo Tiến Hành, tức Tông Đồ giáo dân, và bước đi hiên ngang vững chắc. 

MINH MINH ĐỨC HỘI 

Hoài niệm của Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng “Hồi tôi 9, 10 tuổi, Đức Cha già Đông đi kinh lý, đến Kim Lâm, quê tôi, ở một ngày một đêm. Họ chưa có nhà phòng, nên Đức cha đến ở nhà chú tôi, ông Lê Văn Tân – Nhà có phòng nghỉ, phòng khách. Cố Hảo tháp tùng Đức cha. Tôi và một bạn học nữa hát mừng Đức cha. Đức Cha thưởng cho hai đứa chúng tôi mỗi đứa 5 xu đồng mới. cố Hảo bảo tôi viết lại cho ngài các bài tôi đã hát. Tôi thấy cố nói truyện về Minh Minh Đức Hội ở Nam Định. Có lẽ để cổ động cho Hội mà ngài đang chủ trương. Lần đầu tôi nghe nói về Nam Định và Minh Minh Đức Hội – tôi nhớ mãi. Năm 1950, khi tôi đã là linh mục ở Nam Định, gặp truyện rắc rối vì phải đòi lại khu nhà đó đã bị chiếm làm nhà in. Tôi hỏi Cố Hoá cho biết ai đã xây nhà, và xây để làm gì – Cố Hóa đã xây để làm nhà trường và để Cố Hảo mở Hội Minh Minh Đức” 

Vào những thập niên 2 và 3 thế kỷ XX, ở Nam Định cố nhiều trí thức Công giáo, thường là những người làm việc ở Toà Sứ, Toà Tổng Đốc, Toà án, trường học, các công chức mà thời trước quen gọi là ông Thông, ông Phán, ông Tham, ông Hàn. Các ông Cửu, ông Bát, không được kể là trí thức. 

Bên Âu Châu, giới trí thức quen thành lập những câu lạc bộ, những nhà Xéc (cercle) qui tụ giới trí thức để sinh hoạt với nhau. Các nghành nghề khác cũng có những câu lạc bộ về nghành nghề của mình. 

Giới trí thức Nam Định gặp được Cố Hảo, vị thừa sai nhiều kiến thức, do đó mà Hội Minh Minh Đức ra đời. 

Có lẽ câu lạc bộ Công giáo thứ nhất ở Việt Nam là Minh Minh Đức Hội ở Nam Định. 

Nãm 1923, cố Hảo và cố Hoá tiến hành việc xây trụ sở cho Minh Minh Đức Hội. 

Công trình này phải đến năm 1925 – 1926 mới hoàn thành. 

Đến năm 1927 – 1928 mới hoạt động. 

Trong một bài huấn dụ buổi khánh thành Hội Minh Minh Đức. Đức cha phó Địa phận, Monseigneur Chaize (Thịnh) đã nói: 

“… Minh Minh Đức là chăm về khoa học, mà luyện tập nhân đức, đó là hai điều cốt yếu, để cấu tạo nên một nhóm thượng lưu có sức giãi ánh sáng ra cho khắp xã hội vậy”. 

“Việc thứ hai là các Hội viên phải phù trì nhau, giúp đỡ nhau, để lấy nghị lực và lòng kiên nhẫn, mà thực hành các việc bổn phận như phép học vấn ấy vậy”. 

“Việc thứ ba của các Hội viên là phải tuyệt trừ những điều thiên kiến, phải giải đáp những lời dị luận, phải dùng lời nói và gương việc làm mà giãi ánh sáng lý thuyết và luân lý đạo Công giáo ra mọi nơi. Đó là bổn phận của Hội Minh Minh Đức Nam Định”. 

 “Minh Minh Đức Hội được tổ chức như là một câu lac hộ cho giáo dân xứ Nam Định nói riêng, và cho toàn thể Địa phận cũng như xã hội nói chung.” 

Về Tôn Giáo: “Phổ biến cho giáo dân biết về giáo lý, thông hiểu về Giáo luật, thuần phục về Mục vụ, và phổ biến những biến chuyển mới nhất trong Giáo hội … và giải đáp những thắc mắc về đức tin.” 

Về Xã Hội: “Các nhà khoa học, các nhà văn, các nhà học giả, các nhà chuyên môn về mọi ngành nghề trong xã hội, đều đã được mời đến để thuyết trình, để phổ biến, để chia sẻ với các vị đồng nghiệp, với những người muốn tìm hiểu về các lãnh vực đó.” 

“Nói tóm lại, Minh Minh Đức Hội như là một Câu lạc bộ, nơi gặp gỡ trao đổi, nâng cao trí thức và văn minh xã hội.” 

Hộii hoạt động được 5,7 năm, thì Cố Hảo bị người Pháp trục xuất khỏi Việt Nam. Ngài thường bị coi là thân Việt Nam, vì trên toà giảng, ngài chỉ trích cách thức người Pháp cư xử ở Việt Nam. Cố về Hồng Kông rồi sang Roma, làm việc ở bợ Truyền Giáo, ở vụ Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam. 

Thiếu người nối nghiệp cha, hoạt động Hội giảm đi, khi phong trào Công Giáo Tiến Hành ra đời và phát triển ở Nam Định. 

CÔNG GIÁO TIẾN HÀNH 

Hồi ấy là thời Đức Giáo Hoàng Piô XI hiển trị Hội Thánh Công giáo hoàn cầu (từ 1922 đến 1939). Ngài đặc biệt chú ý nâng đỡ và phát triển các xứ truyền giáo, nên được mệnh danh là Giáo Hoàng của các xứ truyền giáo. Ngài cũng rất quan tâm khích lệ các phong trào hoạt động của giáo dân gọi là Công Giáo Tiến Hành, vậy nên ngài cũng được gọi là Giáo Hoàng của Công Giáo Tiến Hành. 

Từ đó Công Giáo Tiến Hành được chính thức định nghĩa là sự tham dự của giáo dân vào việc tông đổ của hàng giáo phẩm. Dàn dần người ta dùng ngay danh từ Tông đồ giáo dân để chỉ việc Công Giáo Tiến Hành. 

Từ chỗ là phong trào chung cho mọi người, dân dân Công Giáo Tiến Hành chuyển thành những phong trào chuyên biệt: Thanh niên Lao động Công Giáo, Thanh niên Thôn quê (Nông nghiệp) Công giáo, Thanh niên Độc lập (trí thức) Công giáo, Thanh niên Học sinh (hay đại học) công giáo, Thanh niên Thuỷ thủ Công giáo v.v… Dó là chưa kể những phong trào đã có trước nay cũng đi vào khuồn khổ Công Giáo Tiến Hành như Hướng Đạo sinh Công giáo, Nghĩa binh Thánh thể, Bác ái Công giáo v.v… 

Từ các nước Công giáo cố cựu ở Châu Âu. Phong trào Công Giáo Tiến Hành dần dàn lan sang các xứ truyền giáo. Dĩ nhiên vùng truyền giáo ở Việt Nam đã sớm đón nhận ngọn Gió mới của Thánh Linh, được Thánh Linh làm cho nảy nở. Và Giáo xứ Nam Định đã là môt trong những địa điểm có phong trào Công Giáo Tiến Hành phát triển nổi bật ở Việt Nam dưới sự hướng dẫn của các linh mục giáo xứ trực thuộc Đức Giám Mục Hà Nội. Vào thời điểm đó, linh mục chánh xứ Nam Định là Cha già Phêrô Maria Nguyễn An Vượng, phó xứ là Cha Vũ Ngọc Tỉnh, với hai cha phó khác kiêm tuyên úy các hội đoàn là Cố Cao (André Vacquier) và Cha Antôn Hoàng Cao Chiểu. Hai cha dồn nỗ lực vào việc phát triển các phong trào Công Giáo Tiến Hành và các công cuôc giáo duc, xã hội của giáo xứ. 

Hội bác ái Vinh Sơn

Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn có thể là ngọn cờ đầu của phong trào. 

Năm 1933 là năm Hội thánh hoàn cầu mừng Năm Toàn xá đặc biệt kỷ niệm chẵn một nghìn chín trăm năm Chúa Kitô hy sinh cứu chuộc loài người, khác với các Năm Thánh thường lệ cứ 25 năm một lần như các năm 1900, 1925, 1950… Năm 1933 cũng là năm kỷ niêm 100 năm thành lập phong trào Bác ái Công giáo dưới danh nghĩa Hội Bác ái Thánh Vinh Sơn Phao-lô do ông Frédéric Òzanam sáng lập tại Pari hồi thánh 5 năm 1833. Qua 100 năm hoạt động, phong trào bác ái này đã tràn lan khắp thế giới Công giáo với khoảng 13 ngàn chi hội. 

Chính trong năm kỷ niệm ấy, Hội Bác ái Thánh Vinh Sơn Phao-lô được thành lập ở Việt Nam, với ngọn cờ đầu là Giáo xứ Nam Định. Theo đúng tinh thần hội, các hội viên âm thầm làm việc yêu thương giúp đỡ đồng loại bằng cách phân công nhau đi thăm viếng các gia đình nghèo khó, không phân, biệt tôn giáo, hầu đem tình thương, lời an ủi và sự giúp đỡ vật chất cụ thể xoa dịu những vết thương lòng và làm vơi nhẹ những khó khăn đau khổ xảy đến cho gia đình đó. Hàng tuần các hội viên cùng hội họp sinh hoạt để cầu nguyện và học hỏi về đường bác ái, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm và tuỳ tâm đóng góp để gây quỹ hoạt động. Chắng bao lâu từ chi hội tiên khởi này dần dần nảy nở thêm nhiều chi hội khác, gần Nam Định rồi lan rộng đến Hà Nội, Phủ lý, Hà Đông, Bùi Chu, Phát Diệm, tiến tới Huế và Đà Nẵng, Quảng Trị (1935) Sài Gòn – Chợ Lớn (1937). 

Trong số hội viên nhận thấy có nhiều vị thức giả đạo đức như các cụ Phạm Văn Điên, Trần Văn Tỉnh, Lê Kỳ Trí (Nam Định), Phan Cao Luỹ, Nguyễn Huy Lai, Hoàng Đình Trúc (Hà Nội), bác sĩ Nguyễn Văn Phát (Sài Gòn)… Chẳng những thế còn cố sự tham dự của một số bạn ngoài công giáo mà thiết tha đến việc từ thiện, như ông Ngô Ngọc Kha, tham tá Bưu điện (Nam Định) v.v… 

Mười năm sau cũng chính tại Nam Định, hội đã tổ chức lễ kỷ niệm thập chu niên trong hai ngày 15 và 16-5-1943 với sự tham dự của các đại diện 25 chi hội rải rác từ Bắc chí Nam và một số đông giáo hữu và thân hữu ngoài Công giáo. Ngoài hoạt động chính là đi thăm và giúp đỡ các gia đình gặp khó khăn, tại nhiều nơi hội cũng gầy dựng những công cuộc xã hội công cộng như: 

  • Khu lao động Albert de Mun ở Phù Long, Nam Định có trường học và phòng phát thuốc miễn phí. 
  • Nhà hộ sinh và phát thuốc ở Bảo Long, Nam Định. 
  • Vườn kẻ liệt Thánh Giuse, Huế. 
  • Trung tâm khám bệnh phát thuốc miễn phí tại Bàn Cờ, Sài Gòn. 

Năm Ất Dậu 1945, lúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 sắp tàn, do hậu quả các biện pháp khắc nghiệt của chiến tranh, môt nạn đói thê thảm xảy ra tại vùng đồng bằng Bắc Việt, khiến cho mỗi ngày có hàng trăm hàng ngàn nạn nhân ngã gục mà kết cục là gần hai triệu đồng bào bị cướp mất sự sống. Trong hoàn cảnh ấy, các chi hội từ Hà Nội, Nam Định, Bảo Long đến Bùi Chu, Phát Diệm… đều cố gắng dồn hết nỗ lực và tập trung các phương tiện vào việc cứu giúp đồng bào trong cơn đói khổ chưa từng có này. 

Hoạt động của hội có tiếng vang tốt đẹp ở nước ngoài bên cạnh các chi hội bạn khắp năm châu. Do dó nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập hội, Toà Thánh Rôma đã tặng huy chương Hiệp sĩ Thánh Grêgoriô Cả (Chevalier de Saint Grégoire-le-Grand) cho vị hội trưởng đương thời của chi hội tiên khởi Nam Định là ông Hoàng Thế Phiệt, như bảo chứng lòng ưu ái và sự khích lệ của Toà Thánh cho toàn thể hội bác ái Thánh Vinh Sơn Phao-lô ở Việt Nam. 

Nếu Nam Định đã là nơi tổ chức lễ kỷ niệm 10 năm thành lập hội tại Việt Nam, thì Hà Nội lại được chọn Là địa điểm cử hành lễ kỷ niệm 20 năm sinh hoạt của hội “Việt Nam trùng với kỷ niệm 100 năm ngày từ trần của hiền nhân Frédéric Ozanam – vị sáng lập phong trào bác ái Công giáo quốc tế này. 

Phong trào thanh niên Công giáo

Khoảng năm 1935, những ai thường đọc tuần báo Phong Hoá hay Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn xuất bản ở Hà Nội hẳn có thể nhớ, nơi mục Tin vắn… ở một số nào đó có mấy dòng như sau: 

Tại Thành Nam mới xuất bản tờ Nam Thanh. Nam Thanh thì để nữ tú đọc. 

Câu giới thiệu có vẻ hài hước của tờ báo văn chương và trào phúng nọ, dẫu sao cũng là một lời xác nhận sự ra đời của một tờ báo lấy tên là Nam Thanh, và là cơ quan của hội Công Giáo Nam Thanh lúc đó. 

Trên đà phát triển, chỉ sau một thời gian ngắn, hội này đã đổi tên là Thanh Niên Công Giáo, và tờ báo cũng mang tên mới là Thanh Niên. 

Cũng vào thời gian đó, nhiều hội Thanh Niên Công Giáo cũng được thành lập ở nhiều giáo xứ thuộc các giáo phận, nhất là miền Bắc. Năm 1936, do sáng kiến của hội Nam Định, một đại hội Thanh Niên Công Giáo Bắc Kỳ được tổ chức tại Nam Định, trên chính mảnh đất thấm máu các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam gọi là Bảy Mẫu ở ngoại ô thành phố, trên quốc lộ đi Hà Nội. Khoảng 11.1111 ngàn bạn trẻ từ nhiều giáo xứ khắp vùng Nam Định, Bui Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Hưng Yên và cả Hà Nội, Hai Phòng… đã qui tụ trong ngày lễ Chúa Kitô Vua năm ấv, với quyết tâm sống đức tin và làm chứng cho Đức Kitô, trong hàng ngũ Thanh Niên Công Giáo, theo gương các bậc tiền nhân anh hùng tử đạo.

Chính đại hội này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự kiện toàn và phát triển phong trào Thanh Niên Công Giáo tại hầu khắp các giáo xứ từ miền Bắc đến miền Trung và vào miền Nam. Và tờ bán nguyệt san Thanh Niên là cơ quan thông tin liên lạc huấn luyện và trao đổi của phong trào Thanh Niên Công Giáo toàn quốc.

Cũng như tại Pháp và các nước khác, phong trào Thanh Niên Công Giáo Việt Nam nêu ba khẩu hiệu làm tôn chỉ hoạt động của mình là: Đạo đức, Học tập và Hành động.

Đạo đức là sống trọn giáo huấn Phúc âm, phát triển nhân cách và chiếu giãi Chúa Kitô…

Học tập là đào sâu giáo lý đức tin, học hỏi các vấn đề liên hệ đến đời sống, đặc biệt về giới trẻ…

Hành động là áp dụng việc học tập và đạo đức vào đời sống hằng ngày và theo mục đích Công Giáo Tiến Hành.

Để phục vụ giới trẻ và việc Công Giáo Tiến Hành, Giáo xứ Nam Định đã sẵn có một hội quán rất khang trang gọi là câu lạc bộ Minh Minh Đức nay đổi thành là câu lạc bộ Thanh Niên, ngay bên cạnh nhà thờ Giáo xứ. Nơi đây có một thư viện lớn gồm hàng chục ngàn cuốn sách bằng các thứ tiếng Việt, Pháp, Anh v.v…, thuộc đủ loại: Tôn giáo, Giáo dục, Văn chương, Lịch sử, Khoa học… dành cho người lớn và các sách giáo khoa, giải trí dành cho giới trẻ, học sinh. 

Giáo xứ Nam Định đáng tự hào là có một tủ sách công cộng lớn nhất và hầu như duy nhất do sáng kiến tư. Tủ sách có người thường trực phục vụ hàng ngày, để bất cứ ai cũng có thể đến ghi tên mượn đọc tại chỗ hay mang về nhà. 

Câu lạc bộ Thanh Niên còn có phòng đọc báo, thường xuyên trưng bày các nhật báo và một số tuần báo, tạp chí bằng tiếng Việt và tiếng Pháp ai cũng có thể đến đọc thoải mái. 

Trụ sở này chính là nơi đặt toà soạn báo Thanh Niên và cũng là khung cảnh sinh hoạt cho các hội đoàn khác trong Giáo xứ, chưa kể tầng dưới là một số lớp học của nhà trường Giáo xứ. 

Người ta có thể kể tên ba anh hội trưởng ba khoá cuối cùng của Ban Trị sự Hội Thanh Niên Công Giáo Nam Định là các anh Vinh Thi, Vương Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Tính… những chứng nhân của một lớp trẻ xây dựng… 

Phong trào lao động Công giáo

Phong trào Công Giáo Tiến Hành bắt đầu có những ngành chuyên biệt kể từ năm 1925, tại nước Bỉ, khi linh mục Joseph Cardijn – sau này là Hồng Y – lập ra phong trào Thanh Niên Lao Động Công Giáo, khởi sự với nhóm lao động thuộc giáo xứ bé nhỏ của mình. Phong trào lan dần ở nước Bỉ, và chỉ năm sau (1926) đã phát triển trên đất Pháp do nhiệt tâm của linh mục Guérin và anh George Quiclet, rồi từ đó lan rộng khắp thế giới Công giáo.

Hồi ấy, giới lao động, nhất là những thành phần trẻ, hầu như bị bỏ mặc cho số phận của mình về mặt kinh tế, xã hội và cả về mặt tinh thần, đạo đức, tôn giáo – tức là bị bỏ mặc cho số phận, cho những quyến dũ thế tục, những đam mê hay oán hận. Phong trào Thanh Niên Lao động Công giáo (gọi tắt là Thanh Lao Công) xuất hiện như một cái phao cho giới trẻ lao động công giáo bám lây, vươn lên và tự cứu, bằng sức mạnh của hợp quần với quyết tâm tự cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, không phải của riêng từng người, mà là chung giới lao động. Về mặt tôn giáo, đạo đức phong trào xuất hiện như cây cầu nối liền khu vực lao động với Giáo hội Chúa Kitô.

Hoạt động của phong trào được định nghĩa như là việc tông đồ của người lao động cho giới lao động, nhất là giới trẻ lao động. Và đó là công thức kiểu mẫu cho các phong trào chuyên biệt khác nảy sinh về sau như đã kể trên.

Cũng như đối với phong trào Bác ái Vinh Sơn, Giáo xứ Nam Định đã là cái nôi của Phong trào Thanh Lao Công Việt Nam, từ khoảng năm 1948 trở đi. Hồi đó – cùng như ngày nay – thành phố Nam Định là một thành phố kỹ nghệ lớn ở miền Bắc, với những xí nghiệp như nhà máy dệt, nhà máy tơ, nhà máy chiếu v.v… Tại mỗi xí nghiệp đó, một số anh em lao động Công giáo trẻ tuổi được quy tụ lại thành đoàn thể, để cùng sinh hoạt theo tôn chỉ của Thanh Lao Công quốc tế. Khẩu hiệu của phong trào là: Hiên ngang, Trong sạch, Vui vẻ, Phấn đấu.

• Hiên ngang là người lao động lấy công sức việc làm nuôi sống và xây dựng bản thân, gia đình, xã hội, đất nước. Hiên ngang vì giá trị cao cả của lao động về mọi phương diện, đạo cũng như đời…

• Trong sạch, một đức tính thiết yếu của tuổi trẻ, mà nếu thiếu nó, người trẻ sẽ lãng phí tuổi xanh, sa ngã trụy lạc…

• Vui vẻ chính là thành quả và biểu hiệu của hai đức tính kể trên, nói lên sự phấn khởi, vui sống, yêu đời, yêu lao động…

• Phấn đấu là không thụ động, phải vươn lên khắc phục khó khăn, bênh vực quyền lợi chính đáng của người lao động, để cải thiện đời sống bản thân và hoàn cảnh xã hội.

Phương pháp hoạt động của phong trào chủ yếu là điều tra, tức là nhận biết cho rõ từng hoàn cảnh, từng vấn đề, rồi tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả, sau cùng là tìm ra các công việc và cách thức phải làm đế ứng phó, hầu cải thiện từng vấn đề hay từng hoàn cảnh nào đó. Mọi hoạt động của phong trào phải rút nguyên tắc và ánh sáng từ Tin Mừng Chúa Kitô. Do đó trong các buổi sinh hoạt, có phần cầu nguyện, học hỏi Phúc Âm…, và hàng năm có các cuộc tĩnh tâm, chưa kể các sinh hoạt tôn giáo khác.

Năm 1940 ghi dấu kỷ niệm 15 năm thành lập Thanh Lao Công quốc tế. Cha Cardijn và Hội đồng quốc tế dự định tổ chức đại hội quốc tế Thanh Lao Công tại Rôma, nhưng vì thế chiến thứ hai bùng nổ (1939), đại hội này không thành. Tuy nhiên trước đó Thanh Lao Công Việt Nam đã gởi ba đại biểu xuống tầu đi Châu Âu: một của Nam Định – anh Sỹ – hai của Hà Nội – anh Định và anh Thăng. Ba đại biểu này được Cố Hảo (Reynaud) nguyên là linh mục thừa sai coi giáo xứ Nam Định trước, đón nhận từ Marseille, đưa đi tham quan nhiều nơi và đến Rôma yết kiến chào mừng Đức Giáo Hoàng Piô XII vừa mới lên ngôi (1939). Tin tức và hình ảnh về hoạt động này của ba thanh niên lao động Việt Nam ddược nhiều báo chí quốc tế đăng tải.

Đặc khu nhà thờ Chúa Giêsu thợ

Vườn Chay

Ở khu Năng Tĩnh, gần nhà máy dệt, có khu vực gọi là Vườn Chay. Bên cạnh nhà máy, thợ thuyền tập trung nhiều.

Xứ Nam Định muốn xây dựng một ngôi nhà nguyện ở dó, để tiện bề sinh hoạt thiêng liêng cho các thợ thuyền Công giáo, đặc biệt là lúc có phong trào JOC (Thanh niên lao động Công giáo: Thanh lao công).

Ngôi nhà thờ được xây cất với danh hiệu ” Nhà thờ Chúa Giêsu thợ”.

Tờ bán nguyệt san Đa Minh Bùi Chu số 19 ra ngày 15 tháng 2 nãm 1940 có đưa tin về ngày khánh thành ngôi nhà thờ này:

“Nam Định – Một ngôi nhà thờ thứ nhất của hội Công giáo Lao động đã khánh thành hồi bốn giờ chiều Chúa nhật ngày 14 Janvier. Ngôi đền thờ này đã xây dựng ngay ở Vườn Chay phố Vụ Bản giữa các gia đình công nhân, trông có vẻ mỹ thuật, oai nghi. Trong nhà thờ trên bàn độc có đặt tượng “Chúa Giêsu làm thợ” trông rất uy linh cảm động, khắp trong ngoài nhà thờ đều hiện ra một vẻ lao – nhân công – giáo an vui dưới quyền “Chúa thợ vườn” chỉ huy định hoạt; cái nhà thờ này nó lại là cái biểu hiện tinh thần lao động Công giáo, là cái kho bao chứa những sự ủi an cho những lao nhân đang bị chìm trong cảnh khổ; nó nên như tiếng kêu gọi các công nhân hãy noi gương mẫu Chúa làm thợ đã để lại cho ta. Cũng vì những cái ý nghĩa thâm trầm cao trọng ấy, nên ngày khánh thành ngôi đền thờ ấy đã được Đức Khâm Sứ Toà Thánh thay mặt Đức Thánh Cha ở xứ Đông Dương đến chủ sự làm phép và có đông các đấng bậc trong các giới đến thông công dự tiệc mừng; trong các đấng bạc ấy, chúng tôi nhận thấy có Đức cha Thịnh – Hà Nội, quan công sứ Lotzer – đại diện quan Thống sứ Bắc Kỳ, quan đại tá Lupy, quan Tổng đốc Trần Văn Thông, quan chánh án Nam Định, các ông chủ nhà máy tơ, máy rượu, máy sợi, các cha dòng thánh Đa-minh, nhiều vị linh mục tây nam, các hội đoàn Thanh niên Lao động Hà Nội, Hải Phòng, Bùi Chu, Phát Diệm, học sinh các trường.

Làm phép ngôi đền thờ đoạn, Đức Khâm Sứ và các đấng bậc lại ra hội ở một nhà tạm riêng. Trước hết, anh Trác – hội trưởng Hội Thanh niên Lao động Công giáo ở thành Nam đọc bài chúc từ và trình bày mọi công việc hội, tiếp đến ba bạn Đinh, Sĩ, Thang phái viên lao động đặc cử đi chầu Đức Thánh Cha đã về, hai anh Đinh, Sĩ bày tỏ hành trình đi Rome đã được trú ngụ ở trường Kỹ nghệ thành Rennes. Đã tới Rome, được dự lễ tấn phong 12 vị Giám mục, được triều yết Đức Thánh Cha. Ngài rất cảm động tỏ lòng thương con cái ở tận phương xa đến kính viếng ngài. Ngài có ban tấm ảnh kỷ niệm cuộc lao động giới đến kính viếng ngài ở Rome.

Cuộc khánh thành này thật có vẻ linh đình sâm uất, bao hàm một ý nghĩa tốt đẹp cho lao động giới ở thành Nam vậy.”

Chiến tranh đã tàn phá ngôi nhà thờ này.

Năm 1949, khi cố Hoá cho thu dọn những thứ còn lại, có thấy trên một xà ngang, một quả đại bác còn cắm vào đó, không nổ.

Hướng đạo sinh – Thiếu nhi Thánh Thể và các công cuộc khác

Vào thời kỳ đó, hai phong trào Hướng đạo công giáo và Nghĩa binh Thánh thể cũng được phát triển mạnh mẽ ở giáo xứ Nam Định. Đó là hai hội đoàn hướng mục đích chính vào việc giáo dục tuổi trẻ, để bổ sung cho giáo dục gia đình và giáo dục học đường.

Hình ảnh những nhóm hướng đạo: Sói con, Thiếu sinh, Tráng sinh, với y phục gọn gàng đẹp mắt, lại thêm mũ, gậy riêng biệt, nhiều khi với cả ba lô trên vai, tựu họp để sinh hoạt hay rảo qua các đường phố đến một địa điểm cắm trại hay họp bạn …, và quang cảnh nơi họp bạn hay cắm trại, với những trò chơi lớn, trò chơi nhỏ ban ngày và nhất là những buổi lửa trại ban đêm…, tất cả những hình ảnh đó đã in đậm nét trong ký ức những em thiếu nhi, những cậu thiếu niên và những chàng tuổi trẻ ấy, cũng như những thân nhân và những người đã chứng kiến họ, cho dù bây giờ người ta tản mác nơi đâu trong nước hay ở nước ngoài.

Cũng vậy, quang cảnh từng toán, từng đội thiếu nhi Thánh Thể, cũng mặc đồng phục dễ thương, khi chung lời cầu nguyện, ca hát trong nhà thờ, khi vui chơi lành mạnh ngoài sân hay đi cắm trại nơi xa… Những quang cảnh đó đã giúp tạo cho Giáo xứ Nam Định một bầu khí trẻ trung, vui tươi, nết na và đạo đức.

 Nếu phải kể tên một số hướng đạo sinh Công giáo Nam Định thời đó, thì có: anh Quế (sau vào ngành Hàng hải Thương thuyền), anh chị Vũ, anh Chiêu, anh Quynh (sau là linh mục)…

Chỉ trên trời và trong thâm tâm mỗi người trực tiếp liên hệ mới hiểu rõ được lợi ích sâu xa, hiệu quả tốt lành của các phong trào giáo dục đạo đức và nhân bản đó, cũng như của tất cả các phong trào công giáo tiến hành đã kể trước.

Cũng nên biết rằng các hội đoàn và phong trào nói trên đều được hưởng lợi ích của các cơ sở chung là Câu lạc bộ và Thư viện Thanh niên, Nhà nghỉ mát và cũng là Trại hè huấn luyện ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), Trại huấn luyện Vạn Khoảnh (Mỹ Lộc – Nam Định).

Sau cùng, Giáo xứ còn một công cuộc xã hội nuôi người già yếu bệnh tật là Viện Tế Bần (Hospice Colombon) tại Phù Long, do Nhà nước xây cất, trợ cấp, và các nữ tu DòngThánh Phaolô điều khiển.

CÁC TRƯỜNG HỌC

Vào thập niên 30 trở đi, xứ nào cũng mở trường học. Nhưng không xứ nào mở mang việc học như xứ Nam Định.

Có rất nhiều trường được mở ra:

Trường Phụng sự (École Servir)

Trước đó là trường Các Thiên Thần Bản Mệnh (École  L’Ange Gardien) sau mới đổi thành trường Phụng Sự, mãi đến năm 1947-1948 mới đổi là trường Lê Bảo Tịnh. Trường Các Thiên Thần Bản Mệnh gồm một dãy nhà nam, từ phố Hàng Đàn vào đến ngay cung thánh. Nhà thấp và có nhiều cột gỗ, giữa sân có một cây si cổ thụ. Cố Cao cho xây nhà hai tầng để làm trường Phụng Sự thay thế cho ngôi nhà trường nam thấp lè tè. Ngôi trường này Cố Cao đặt là Trường Phụng Sự Trung Tâm (École Servir Central), ngoài ra ngài còn xây dựng các trường khác nữa như:

–        Trường Phụng Sự Vườn Chay (École Servir Vườn Chay)

–        Trường Phụng Sự Vạn Khoảnh (École Servir Vạn Khoảnh).

–        Trường Phụng Sự Văn Miếu (École Servir Văn Miếu)

–        Trường Phụng Sự Phụ Long (École Servir Phụ Long).

Trường Phụng Sự Trung tâm có sân chơi (Préau), có sân khấu bằng gỗ để cho các em diễn kịch, ca hát…

Trường Phụng Sự Vườn Chay thuộc khu Năng Tĩnh bây giờ, có nhà thờ Chúa Giêsu thợ, làm trên một khoảng đất rộng 2 hecta. Ngôi nhà trường hai tầng có bốn buồng rộng gấp đôi trường Phụng Sự Trung tâm, có sân chơi thể thao, rộng rãi. Trường Vườn Chay là nơi đào tạo các học sinh có tay nghề: rèn, môc, tiện, nguội, phay, bào… tương đương với trường Kỹ nghệ của Nhà nước.

Theo phong tục thời đó, các trường này chỉ nhận nam học sinh. Các nữ sinh được học tập tại trường Thánh Tâm do các nữ tu Dòng Thánh Phaolô điều khiển, tại phố Hàng Xũ.

Phong trào văn hóa Công giáo

Thư viện, Phòng đọc báo và bán nguyệt san Thanh Niên đã là những bước khởi đầu của sinh hoạt tông đồ và văn hóa của Giáo xứ Nam Định. Nhà báo và nhà văn Công giáo Phạm Xuân Huyên, chủ bút tờ Thanh Niên từ buổi đầu cho đến năm 1942, thành viên của Liên hợp Báo chí Công giáo Quốc tế, đã muốn đóng góp nhiều hơn cho văn hóa Công giáo. Ông đã biên soạn, phiên dịch và tự lực xuất bản một số tác phẩm của mình dưới danh nghĩa “Ích Thư xuất bản cục”. Đó là những cuốn:

•        Hành trình Phi-luật-tân, tường thuật chuyến đi dự Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế tại Manila (khoảng năm 1935) trong phái đoàn Công giáo Việt Nam.

•        Đơn Cứu Khổ, bài diễn văn về ý nghĩa sự đau khổ theo tinh thần Phúc Âm (khoảng 1936).

•        Lễ Mi-sa, kho quý giá vô tận, dịch của Thánh Leonard de Port-Mauricc (1938).

• Và nhất là Cuốn Bình Thư (1943) phiên dịch từ cuốn Le Catholique d’ Action nổi tiếng của Cha Palau Dòng Tên, nhằm mục đích giúp đào tạo các chiến sĩ Công Giáo Tiến Hành.

Ngoài ra, ông còn soạn vở kịch “Đời là thế’’ và cho công diễn nhiều lần (1938) lấy tiền giúp việc công ích từ thiện.

Tình hình sau cuộc đảo chính Nhật bản hồi tháng 3-1945 đã khiến tờ Thanh Niên do Cố Cao chủ nhiệm phải đình bản. Một nhóm giáo dân, ý thức nhiệm vụ của mình, đứng ra tổ chức xuất bản tờ Thanh Niên loại mới, mỗi tháng ba kỳ rồi hàng tuần, theo tôn chỉ “Phục vụ Thiên Chúa và nay Tổ Quốc”. Nguyên chủ bút Phạm Đình Khiêm (từ 1942) là chủ nhiệm, và Phạm Đình Tân chủ bút, với sự cộng tác của nhiều cây bút nhiệt tình như linh mục Thanh Hải, sư huynh Nguyễn Hữu Trọng, Phạm Đức Tân, Phạm Thị Tự, Nguyễn Duy Diễn… cả thi sĩ Hồ Dzếnh từ Hà Nội, cũng có đóng góp bằng thơ…

Qua năm 1946, tờ tuần báo ngưng phát hành, được chuyển sang hình thức chuyên san mà mỗi tập mang chủ đề như một cuốn sách, xuất bản không định kỳ. Những tập Thanh Niên Chuyên San sau đây đã lần lượt ra mắt độc giả:

  • Gương ái quốc công giáo: Au-cư-ninh (tiểu sử vị anh hùng cứu quốc Ái-nhĩ-lan Daniel O’ Connell) của Nguyễn Hữu Trọng.
  • Đi tìm ánh sáng (giải đáp các vấn nạn về tôn giáo) của Nguyễn Duy Diễn.
  • Hành động Xã hội của Giáo hội qua các thời đại và ở Việt Nam (biên khảo lịch sử) của Phạm Đình Khiêm. Tựa của cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ, và của Lm. Đinh Ngọc San.
  • Chúa Cứu Thế với Thanh Niên của Đức cha Tihamer Toth, người Hung-ga-ry, do phạm Đình Tân dịch.
  • Thân phân lao động (giải thích thông điệp Rerum Novarum (Tân sự) của Đức Giáo Hoàng Leo XIII) do Nguyễn Duy Diễn và Phạm Đình Tân.
  • Học thuyết xã hội của Phúc âm thư do Đức Giám Mục Rupp (Pháp) soạn, Phạm Đức Tân dịch.
  • Máu Tử đạo trên đất Việt Nam (biên khảo lịch sử) của Trịnh Việt Hiền, v.v…

Nhiều tác phẩm kể trên sau này còn được tái bản nhiều lần ở Việt Nam hay ở nước ngoài. Và đó chính là tiền thân của Tinh Việt Văn Đoàn về sau.

Một vài tác phẩm lúc ấy đang biên soạn hoặc ấn loát dở dang đã phải ngưng khi đất nước đi vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp dành độc lập cho quê hương (19/12/1946)

Nhưng trước đó ba tháng, tờ báo Thanh Niên đã được tục bản, lạm ra hàng tháng, dưới quyền chủ nhiệm của Cha Hoàng Cao Chiêu với số đặc biệt về các Chân phước Tử đạo Việt Nam phát hành ngày lễ kính các ngài, ngày 1-9-1946, đến tháng 12-1946 thì chấm dứt.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang