Kỷ yếu Giáo xứ Nam Định: Chương IV – Xứ Nam Định với những bước đầu thay đổi

Chương IV cuốn “Kỷ yếu Giáo xứ Nam Định” mở ra bối cảnh đầy biến động của Giáo xứ Nam Định giữa thế kỷ XX, khi toàn xã hội chịu ảnh hưởng sâu rộng của Thế chiến thứ hai và những chuyển động lịch sử lớn của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, đời sống mục vụ của giáo xứ cũng chứng kiến nhiều thay đổi: từ việc nhà chung Hà Nội tiếp quản lại cơ sở tại Nam Định, đến các nỗ lực mục vụ tại khu Khoái Đồng, kế hoạch mở rộng nhà thờ, xây dựng đài Đức Mẹ Fatima, và việc chuyển đổi Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thành Viện Tế Bần Anphong.

Dù đứng trước nhiều khó khăn, giáo xứ vẫn cố gắng khôi phục đời sống đạo như trước, thể hiện qua các nỗ lực tổ chức, mục vụ và giữ gìn sinh hoạt truyền thống trong một thời kỳ nhiều xáo trộn.

**********

MỤC LỤC

1. Ảnh hưởng của thế chiến thứ hai (1938 – 1943)

2. Trại Gióp hay đền Thánh An-tôn

3. Xứ Nam Định trước cuộc kháng chiến vĩ đại

4. Nhà Chung Hà Nội nhận lại Nhà Chung Nam Định

5. Những bước đường xa thứ nhất của linh mục Phao-lô Lê Đắc Trọng

6. Hoạt động trong xứ

7. Khu Khoái Đồng

8. Dự định mở rộng Nhà thờ Nam Định

9. Đài Đức Mẹ Fatima

10. Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trở thành trại tế bần Anphong

11. Những nỗ lực trở lại nếp sống đạo theo kiểu ngày trước

ẢNH HƯỞNG CỦA THẾ CHẾN THỨ HAI

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ giữa Đức – Pháp, ảnh hưởng lớn và trực tiếp dĩ nhiên đến Châu Âu, Đông Dương, trong đó có Việt Nam, lúc đó đang bị người Pháp đô hộ, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, nhất là từ khi Pháp bị Đức quốc xã đánh bại, Paris thất thủ, ảnh hưởng về chính trị, về kinh tế càng sâu đậm. Uy thế của Pháp ở Đông Dương giảm đi trông thấy.

Về kinh tế: các hàng tiêu thụ, nhập cảng từ trước nay không còn đường vận chuyển, nên cả bánh xà phòng giặt cũng khan hiếm. Có nơi lấy lại sáng kiến ngày xưa: dùng quả bồ hòn hay nước gio thay xà phòng. Giặt các đồ lễ cũng phải dùng các thứ đó. Dầu hoả hay dầu tây dần dần không còn. Làm gì có đèn điện. Phải dùng dầu lạc hay dầu trẩu. Các bàn thờ dễ trở thành nhớp nhúa, chỗ nào cũng vết dầu.

Không có vải ngoại quốc, nên người ta khuyến khích trồng dâu chăn tằm. Vải nhà máy dệt Nam Định bấy giờ cũng được quý trọng, thì ngày càng khan hiếm, vì sợi dệt cũng là hàng nhập khẩu. Để tránh những thói đầu cơ tích trữ, làm cho hàng hoá đã khan hiếm càng khan hiếm, người ta trao đặc quyền phân phối vải cho Cố Cao xứ Nam Định, để được công bằng hơn.

Quân đội Nhật tìm cách xâm nhập vào Đông Dương.

Người Pháp tổ chức lại quân đội, gọi các quân nhân trù bị nhập ngũ. Theo lệnh này, người Pháp nào còn tuổi nhập ngũ, bất kể là ai, đều phải mặc quân phục theo binh chủng và quân hàm của mình khi xưa và nhập trại.

Về phía các linh mục: các cha thừa sai Hà Nội – Cố Cras (Vọng) dòng Đa Minh ở nhà Phục Hưng (Renaissance). Còn Đại Chủng Viện Xuân Bích có 6 cha giáo sư thì 4 cha nhập ngũ, việc học ở Chủng Viện bị đảo lộn. Ở nhà xứ Nam Định, cố Cao cũng phải nhập ngũ.

Một đêm nọ vào tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật làm đảo chính. Họ lật đổ quyền cai trị của người Pháp ở khắp Đông Dương, và họ đứng lên thay thế.

Ở khắp trong nước, quân đội họ muốn vào ở đâu thì ở. Không những họ chiếm các công sở, các doanh trại của người Pháp. Họ còn đến ở các khu vực lớn: nhà trường, nhà dòng, nhà thờ. Ở Nam Định, họ đến chiếm một khu ở trường Lê Bảo Tịnh.

Từ đó, ngày ngày từng đoàn xe nhà binh đi khắp nơi có những kho thóc, họ thu về. Ở tỉnh Nam Định, nhà xứ An Lộc, họ Vạn Điểm, nơi cha Lan ở, họ đến thu hết lúa của cha.

Nhiều nơi đồng lúa, đồng ngô đang mọc lên, họ bắt phá đi để trồng đay.       

Như thế, người ta nói quân đội Nhật đã gây nên nạn đói 1945, cái đó không oan.

Nạn đói này đã giết hại hàng triệu người Việt Nam. Những tỉnh bị nạn đói hoành hành nhất là Thái Bình, Nam Định – trong đó có nhiều làng người chết gần hết. Không còn gì ăn, những người sống sót lang thang về các thành phố: Nam Định, Hà Nội. Trên những con đường quốc lộ, đường hàng tỉnh, đê Sông Hồng… hai bên vệ đường, vệ đê, lúc lúc lại gặp một người nằm đắp chiếu, và rồi những người đó nằm chết, được chôn cất tại chỗ. Vì thế hai bên vệ đường không biết cơ man nào là mộ những người chết đói.

TRẠI GIÓP HAY ĐỀN THÁNH AN-TÔN

Trại Gióp là trại kẻ khó. Không phải là trại để cứu giúp những người đói vào thời kỳ 1945. Có hàng vạn hàng vạn trại Gióp cũng không cứu khỏi nạn đói ghê gớm đó. Nhưng trại đó cũng giúp chút ít thời kỳ đó.

Ngoài các trại Tiểu nhi ở Đông Mạc – các nhà mồ côi do các sơ dòng thánh Phaolô phụ trách, xứ Nam Định còn lập một trại kẻ khó, gọi là trại Gióp. Mục đích trại là nuôi nấng chăm sóc những người khó nghèo, những hành khất. Trại nằm về phía Nam thành phố, trên con đường đi họ Tân Cốc, ven sông Đào. Trại có nhà thờ kính thánh Antôn, có tháp cao, có chuông. Trại nhận thánh Antôn làm quan thày, thánh Antôn là vị thánh hay làm phép lạ, nên trại cây trộng Người làm phép lạ để nuôi những người khốn cùng này. Do đó nơi này cũng được gọi là Đền Thánh Antôn.

Một số chị em Dòng Mến Thánh Giá coi sóc trại này.

Các ngày thứ ba trong tuần, nhiều người ở các phố đến khấn đền thánh Antôn, dự lễ, cầu nguyện. Đồng thời họ đem theo những của lạc quyên đến chia sẻ cho các người nghèo.

Vào thời kỳ đói, trại không thể thu nhận được hết những ai nghèo đói, song cố gắng làm một việc gì để nâng đỡ những người đó. Đi xin từng nắm gạo, từng bát cơm, thu lại rồi chia ngay cho những người đang đói nằm lả. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Ở đây cũng chỉ giúp người ta cầm hơi chốc lát.

Thời kỳ này cha Hoàng Cao Chiểu – Phó xứ, đặc trách việc nuôi dưỡng trại Gióp. Ngài tổ chức nuôi lợn làm vốn để nuôi trại. Ngài tổ chức nuôi lợn thêm cả ở khu vực nhà xứ Nam Định.

Đầu cuộc kháng chiến 1946, trại này đi tản cư.

Đến năm 1949, bà Nhất Mến đưa một số trẻ em mồ côi còn sót trở về Nam Định. Trại tan hoang, còn lại nhà thờ trống trải, mẹ con đến tạm trú ở khu vực Dòng Chúa Cứu Thế, sau này là An phong. Được ít lâu, bà me qua đời, con cái được chia cho mỗi gia đình nuôi nấng. Nhà nguyện của trại cũng tan hoang. Năm 1951, lính Pháp cho ô tô húc đổ tháp chuông để lấy gạch.

XỨ NAM ĐỊNH TRƯỚC CUỘC KHÁNG CHIẾN VĨ ĐẠI

Nước ta độc lập: Một sự kiện vĩ đại nhất xảy ra sau hàng trăm năm bị đô hộ.

Ngày 2/9/1945: Ngày Quốc Khánh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập và Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.

Khắp nơi vui mừng – ngày nào cũng như ngày hội. Các xứ tổ chức lễ cầu cho hoà bình, cho nền độc lập.

Đức cha Hồ Ngọc Cẩn chủ sự lễ cầu cho nền độc lập, cử hành ngay ở trước cửa nhà thờ lớn Nam Định.

Nhưng quân đội Pháp chưa chịu rút hết. Họ muốn thực hiện ước mơ là: Lập lại quyền đồ hộ ở Đông Dương.

Tối 19/12/1946, Pháp mở chiến tranh chống Việt Nam ở Thủ đô Hà Nội, chiến tranh lan ra thành cuộc kháng chiến trên khắp lãnh thổ nước Việt Nam.

Ở những nơi quân Pháp đóng trại, họ bị bao vây. Ở Nam Định, họ chỉ còn giữ được nhà máy sợi, nhà máy tơ và nhà ngân hàng.

Thành phố tổ chức tiêu thổ kháng chiến. Quân địch không còn chỗ đặt chân.

Nhà thờ đóng cửa, linh mục, tu sĩ, người nhà trong nhà xứ đi tản cư hết: Cha Vượng, Cha Tỉnh, Cha Chiểu chạy ra nông thôn, mang theo ít đồ đạc. Đặc biệt là các sổ Rửa tội, các sổ Thêm sức, Hôn phối được mang đến chỗ an toàn. Sau này các sổ sách đó sẽ là kho báu quí giá nhất, nhờ đó mà có phương tiện làm việc.

Có chính sách tự do tín ngưỡng, nên nhà thờ, nhà xứ được bảo đảm, không bị tiêu hủy. Vì thế khu nhà thờ xứ Nam Định còn nguyên vẹn. Khu nhà Sơ ở Hàng Xú, khu Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Goòng, khu Khoái Đồng, nhà thờ Phụ Long, nhà thờ Kim Phô cũng thế. Phố Khách cũng được bảo vệ, vì Trung Hoa thuộc phe Đồng Minh gồm Mỹ-Anh-Liên Xô-Trung quốc. Lần thứ nhất nhà thờ xứ Nam Định bị bỏ trống.

NHÀ CHUNG HÀ NỘI NHẬN LẠI NHÀ CHUNG NAM ĐỊNH

Quân Pháp bị bao vây trong nhà máy dệt, nhà ngân hàng, dần dần họ phá được vòng vây. Họ lập đồn bốt chung quanh thành phố. Họ đóng ở khu nhà Nagiaret, ở trường Saint Thomas, khu nhà máy chai. Họ tiến ra đến Ba Trại, Phú Ốc, Trình Xuyên.

Dân chúng tản cư, lẻ tẻ trở về thành phố, Nhà thờ dần dần có người. Đây không tất nhiên là những người đã ở Nam Định từ trước.

Năm 1948, chưa một linh mục Nam Định đi tản cư trở về, thành ra nhà xứ vẫn trống. Tuy có người nọ người kia đến ở, song không phải những người thuộc nhà xứ Nam Định.

Toà Giám Mục Hà Nội nghĩ đến việc nhận lại xứ Nam Định.

Cố Hóa (Pédébidau), Cố Căn (Cantaloube), Cha Thư, thày bộ Miêng đi máy bay về Nam Định, mang theo đủ mọi đồ dùng cần thiết, từ trong nhà, đến nhà thờ, vì biết rằng các đồ đạc được mang hết với cuộc tản cư.

Thày Miêng chuyên chữa đồng hồ thuê. Thày đặt màng lưới điện cho nhà thờ và chuyên chữa đồng hồ trên tháp chuông.

Trong nhà xứ lúc đó có một cha thuộc Địa phận Bùi Chu: Cha Vũ Đức Khâm. Ngài còn trẻ, linh hoạt, nên ngài ở đó như một cha xứ: Rửa tội, cử hành lễ, tổ chức ban hát.

Cố Căn, cha Thư nhận và tổ chức lại nhà xứ.

Cố Hóa lo toan việc thu dọn những căn nhà của Nhà Chung ở các phố bị thiêu huỷ. Những thanh gỗ lim to nhỏ bị cháy nham nhở, được xe về chất thành từng đống lớn ở sân nhà xứ.

Dọn dẹp và sắp đặt mọi cái tạm tạm ngăn nắp, cố Hóa trở về Hà Nôi, Cha Thư, không biết vì lý do gì, ít lâu sau cũng trở về Hà Nội, thành ra lúc này xứ Nam Định chỉ còn Cố Căn và Cha Vũ Đức Khâm ở Bùi Chu đến.

NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG XA THỨ NHẤT CỦA LINH MỤC LÊ ĐẮC TRỌNG

Tháng 7/1949, Đức cha Thịnh sai cha Lê Đắc Trọng về Nam Định. Cha Trọng mới chịu chức được hơn một năm. Có lẽ bề trên cho rằng cha Trọng còn trẻ, nên có thể về Nam Định làm việc chính thức thay thế cha Vũ Đức Khâm, chỉ là linh mục tản cư đến.

Cố Hóa đưa cha Trọng lên máy bay đi Nam Định. Lúc này máy bay là phương tiện an toàn duy nhất giữa Hà Nội – Nam định. Đường bộ bị cắt vì các cầu đã bị phá huỷ, đường xe lửa bị lật đường ray.

Khi cha Trọng về Nam Định, cha Khâm ra sống ngoài phố, không ở trong nhà xứ nữa.

Cố Hóa đưa cha Trọng đi xem các đất đai nhà cửa thuộc Nhà Chung, nhà xứ và các hội đoàn, rồi ngài trở về Hà Nội, nơi ngài đang làm quản lý.

Cố Căn trao cho cha Trọng mọi công việc xứ, trừ việc làm lễ Chúa nhật cho lính Pháp.

Các sơ Dòng Thánh Phaolô cũng lục tục trở về nhà dòng ở phố Hàng Xũ. Ngày ngày cố Căn đến làm lễ cho tu hội.

Bắt đầu tổ chức lại việc lễ lạy ở nhà thờ cho quy củ như ở các nhà thờ xứ. Thày bộ Miêng làm cai nhà xứ, Thày Thịnh giúp việc nhà thờ.

Trong các nhân viên Hàng Phủ mới thấy có ông phó trương Sự hồi cư; ông trương Đỉnh là người Bảo Long năng động hơn, cổ động hội đoàn, nhất là hội bác ái Vinh Sơn.

Dân phố đông dần dần, số giáo dân cũng tới 5,7 trăm. Nhà cửa bị phá huỷ, một số người lúc mới về vào trọ nhà xứ mấy hôm để về dọn lại nhà cửa, che tạm chỗ ăn nghỉ.

Điện sáng nhờ một cái máy nổ độ mấy trăm kilôwat của thành phố, đặt ở phố Hàng Đàn, cạnh nhà xứ. Lúc máy chạy, tiếng nổ ầm ầm, ở những nhà chung quanh như nhà xứ, nói truyện với nhau cũng khó.

HOẠT ĐỘNG TRONG XỨ

Trường Lê Bảo Tịnh mở lại. Trường sở cũ đã bị người ta đến ở hầu hết. Khu nhà trường ở cạnh sân nhà thờ dùng làm trụ sở cho các cơ quan hành chính tỉnh: ông phó tỉnh trưởng là ông Phán Ngọc ở đó – các ông trưởng ty y tế, kinh tế cũng ở tổng trên – Còn tổng dưới, ty thông tin chiếm trọn.

Nhà in Chấn Hưng chiếm một nửa tầng trên nhà Minh Minh Đức. Còn lại là hai buồng ở tầng dưới; mấy lớp tiểu học được mở ra ở các phòng đó, để rồi từ đó nhà trường cứ mở rộng dần.

Khi đòi lại phòng nhà in Chấn Hưng chiếm giữ, họ lấy lý do in báo cho quân đội Pháp. Nhưng cha hiệu trưởng nói: việc học cần hơn, người Pháp cũng muốn cho mở trường, thì mới có người đọc báo, đọc ấn phẩm.

Họ thấy không đủ lẽ chiếm cứ, vả lại học sinh chơi bên các máy móc của họ cũng nghịch ngợm, họ đành rời lên phố Bắc Ninh.

Khu nhà cuối nhà thờ, tầng trên cũng dần dần lấy lại được hết, mặc dù có những chống đối gay gắt, nhất là đối với ông Trưởng ty y tế. Ông bác sĩ này kiện nhà xứ đã tự ý mở cửa thang gác khi ông đi làm, tạo sự việc đã rồi. Còn tầng dưới, phải làm đơn lên ông Thủ Hiến Bắc Việt ở Hà Nội, và phải mất mấy năm mới lấy lại được – Việc lấy lại trường sở Lê Bảo Tịnh đã là một cuộc chiến đấu gay go.

Các lớp tiểu học đầy đủ, từ đồng ấu đến lớp nhất – Hai lớp đệ thất, đệ lục về trung học đệ nhất cấp cũng được khai trương.

Các thầy giáo cũ ngày trước, một phần trở lại: Thày Phong, Thày Thành, Thày Bảo.

Thày Phong kiêm văn phòng, tổ chức ở tầng đầu cầu thang lên gác nhà Minh Minh Đức. Thày làm việc rất đắc lực: quy củ và khoa học.

Học sinh dần dần lên số 3,4 trăm.

Các Sơ dòng thánh Phaolô ở phố Hàng Xũ cũng mở lại trường Thánh Tâm. Có đủ các lớp tiểu học. Có một lớp dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp do Sơ Albert Marie.

Sĩ số cũng tương tự như trường Lê Bảo Tịnh, cả hai trường có lúc lên tới hơn một nghìn học sinh.

Vì là trường tư thục Công giáo, nên ngoài chương trình do Bộ Giáo Dục ấn định, học sinh bất kể lương giáo, đều học kinh bổn giáo lý. Cũng có các bài thi giáo lý, và nhiều lớp, học sinh bên lương lại có điểm cao hơn học sinh bên giáo.

Cả hai trường nam nữ này, đều do cha Trọng điều hành.

Năm 1950, Cố Căn nhờ tầu Pháp về thăm quê hương và nghỉ ngơi bên đó, ngài cũng qua đời ở bên đó.

Cha già Vượng, cha chính xứ cũ hồi cư. Cha Trọng trao lại quyền chính xứ cho ngài và chuyên tâm việc nhà trường, cũng như ban hát, các hội đoàn.

Hội Nghĩa Binh Thánh Thể hoạt động trở lại, trong trường Thánh Tâm cũng như trường Lê Bảo Tịnh.

Ngày Chúa nhật, có lễ riêng cho các trẻ em. Lúc đó chưa quen làm lễ ban chiều. Nên buổi sáng, các lễ người lớn chiếm hết thời gian. Lễ trẻ em cử hành ở nhà Préau trường Lê Bảo Tịnh. Bàn thờ đặt trên sân khâu nhà chơi (vì nhà chơi năng được dùng làm nơi diễn kịch).

Đến lượt phong trào Hùng Tâm Dũng Chí ra đời.

Nghĩa Binh Thánh Thể được tổ chức từ lâu – về hình thức, xem ra càng ngày càng bớt hấp dẫn đối với trẻ em. Đó là cơ hội phong trào Hùng Tâm Dũng Chí phát triển. Phong trào này không tập trung vào các việc đạo đức nhiều như Nghĩa Binh Thánh Thể, và thuần tuý đạo đức như Nghĩa Binh Thánh Thể. Cách tổ chức phần nào theo phong cách Hướng Đạo Sinh với tinh thần Công giáo. Vui bên ngoài hơn, nên hấp dẫn hơn đối với giới trẻ nhỏ.

Hướng Đạo Sinh cũng mở lại – có các đoàn Sói Con (Louveteaux). Tháng 6-1950, lễ tấn phong Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi ở Bùi Chu – Cha Trọng dẫn một đoàn Sói Con đi Bùi Chu – Phú Nhai dự lễ. Sau đó cả đoàn giúp vui cho các cuộc hội họp Công giáo, họp vào ban tối.

KHU KHOÁI ĐỒNG

Các cha bề trên và giáo sư người Tây Ban Nha và người Việt Nam, như cha Ân, mở lại Giáo Hoàng Chủng Viện Thánh Albert. Có chừng 5,6 chục thày đại chủng sinh. Khi có những lễ lớn tổ chức ở sân nhà thờ Nam Định, các thày sang hát lễ.

Tu viện các cha Đa Minh đặt ở trường Saint Thoma. Vì có nhiều cha, nên một trường tiểu trung học nam được mở ra ở đó: trường Saint Thomas. Ngoài ra các cha còn mở một trường cho nữ sinh, gọi là trường Đức Bà, ở nhà Trường Tầu cũ ở phố Bến Ngự.

Sinh hoạt ở nhà thờ Khoái Đồng, nhờ có đông các cha ở tu viện giúp đỡ, rất sầm uất. Giáo dân thành phố rất đông, nên nhà thờ nào cũng chật. Và người đến nhà thờ Khoái Đồng cũng là giáo dân bên phố, nghĩa là giáo dân xứ Nam Định cả.

Năm 1953 tượng Đức Mẹ Fatima viễn du khắp thế giới, cũng qua Việt Nam, về Nam Định. Cuộc rước bắt đầu từ sân bay Nam Định về nhà thờ Khoái Đồng. Lễ được cử hành trước sân nhà thờ Khoái Đồng. Sau đó rước Đức Mẹ về nhà thờ Nam Định; rồi từ đó tượng Đức Mẹ lên máy bay đi Hải Phòng, tiếp tục con đường vòng quanh thế giới.

DỰ ĐỊNH MỞ RỘNG NHÀ THỜ NAM ĐỊNH

Khi cha Vượng trở về nhận lại chức chính xứ, nhà cha ở trước bị bom đánh sập một nửa. Khu nhà đó có cầu thang bên ngoài, ngăn đôi nhà. Một bên cha Vượng ở, một bên cha Tính ở. Phòng cha Vượng không sập, phòng cha Tình bị sập hoàn toàn. Năm 1950, khu đó được rào lại cho gọn ghẽ.

Cha Vượng dự dịnh xây dựng lại khu nhà đó, để cân xứng với trường Lê Bảo Tịnh ở phía bên kia sân nhà thờ.

Ngài cũng định kéo dài nhà thờ về phía trước.

Để có tiền xây sửa, chính ngài mặc áo dòng, cầm túi đi xin tiền vào các lễ ngày Chúa nhật. Chắc là chưa được bao nhiêu.

Vầ mặt kỹ thuật, ngài mời ông đốc Thân về giúp – Ông đốc Thân là người thế nào? Xưa kia ông là chú bé, tên là Thân, ở với cha già Nghiêm ở Nam Định – vào thời chú Hạnh, sau là cha Hạnh – Ông biết vẽ các kiểu nhà, đặt kế hoạch, rồi trông coi việc xây dựng như một ông đốc công. Hầu hết các nhà thờ thời đó đều do ông vẽ mâu và đứng làm đốc công, nên người ta gọi là ông đốc Thân.

Ông đốc Thân về Nam Định để vẽ kiểu mẫu cho việc sửa chữa, xây dựng.

Ở nhà thờ, ông mới vẽ được một kiểu nhà chầu – vì nhà chầu trước đã mát khi tản cư, nhà thờ bỏ trống. Gian cung thánh, ông mở rộng thêm xuống nửa gian.

Ông vẽ kiểu khu nhà bên sân nhà thờ.

Cha Vượng lại cho một người Phú Ốc xây lò gạch ở khu Bảy Mẫu và họ nộp phần trăm cho ngài. Mới được mấy nghìn gạch xếp ở nhà xứ Nam Định, và mua một số sắt đường tầu.

Nãm 1951, Đức cha địa phận Giuse Maria Trịnh Như Khuê về kinh lý. Cha Vượng đệ trình mẫu nhà hai tầng bên sân nhà thờ. Đức cha chê là không đẹp – và đòi không hơn thì ít ra bằng ngôi nhà bên kia, ngài mới cho phép.

Cha Vượng xin rút việc đó. Lấy cớ tuổi cao, ngài xin từ cả việc tài chính của nhà chung, nhà xứ, ngài chỉ giữ việc mục vụ trong nhà thờ.

Đức cha Khuê đăt Cha Trọng làm quản lý nhà chung, nhà xứ.

Mọi việc xây sửa Cha Vượng dự định đều đình lại hết. Ông đốc Thân cũng rút về Hà Nội.

Cha Trọng chỉ chăm chú vào việc nhà trường, cho tiến hành mấy việc sửa lại lặt vặt trong nhà xứ cho ngăn nắp thứ tự: Có phòng khách, phòng cơm, phòng ngủ v.v…

Các nhà của Nhà Chung Hà Nội, của xứ, như ở Bến Thóc, Bến Ngự được sửa lại cho thuê.

Ở các xứ thiếu an ninh, các cha thường chạy về lánh nạn ở Nam Định. Nhà xứ lúc này có 6,7 cha già, trẻ đến trú. Các Cha già Nến, Cha Thính, Cha Thuỳ, Cha Lễ, Cha Hoá, Cha Trình, Cha Quí…

ĐÀI ĐỨC MẸ FATIMA

Trước cửa nhà thờ chính, có một bồn hoa, giữa một công trường khá rộng, đường đi bốn phía. Phía trước là đại lộ Paul Bert (sau đổi là phố Trần Hưng Đạo), phía sau là phố Hàng Đàn, hẹp hơn.

Nhà thờ muốn xây một đài Đức Mẹ ở trên bồn hoa đó. Tượng Đức Mẹ với danh xưng nào? Đức Mẹ bổng bế Chúa Con hay Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Lên Trời. Sau cùng ý kiến đài “Đức Mẹ Fatima” được chấp thuận, vì chưa có nơi nào đã đặt tượng Đức Mẹ Fatima.

Cha Vượng đứng lên xin phép.

Cha Trọng thu xếp việc làm tượng, nhờ người nghiên cứu ở Pháp, ở Ý. Ở Ý sẵn có xưởng tạc tượng bằng đá cảm thạch, ở Pháp nổi tiếng về việc đúc tượng bằng kim loại. Tượng cẩm thạch sợ không hợp thời tiết ở Việt Nam, dễ mòn, dễ sứt. Ở Pháp, có xưởng đúc tượng ở Tourcoing, xưởng này đã đúc tượng đặt trước nhà thờ Lộ Đức. Vì thế Cha Trọng đã nhờ xưởng ấy đúc tượng Đức Mẹ Fatima, theo kiểu mẫu gửi cho họ. Công việc dự tính vào cuối năm 1950, đến đầu năm 1951 mới tiến hành.

Ông Vũ Đình Ngọc, cháu Cha Hạnh, giáo sư môn họa trường trung học Nguyễn Khuyến vẽ mẫu đài.

Đầu năm 1952, tượng được đúc xong và gửi về Việt Nam. Họ định đánh thuế, Cha Trọng lúc này làm thư ký Toà Giám Mục Hà Nội, xin Bộ Tài chính miễn thuế để tỏ lòng tôn kính Đức Mẹ.

Ngày 18 tháng 1 năm 1953, tượng được đặt lên đài. Đức Cha địa phận Giu-se Ma-ri-a Trịnh Như Khuê về làm phép trọng thể. Hôm đó Cha Trọng cũng được đi theo Đức cha về giúp lẽ.

Từ đó, các ngày Chúa nhật, sau lễ chiều hay chầu chiều, giáo dân có thói quen đến vây quanh Đức Mẹ khấn cầu và hát kính Đức Mẹ, nhất là vào những thời kỳ tối tăm, đau đớn chiến tranh.

Ngày ngày luôn luôn có những người qua đài Đức Mẹ khấn xin, nét mặt đầy hy vọng.

Hoa tươi không một mùa nào, tháng nào, ngày nào lại không được dâng lên và toả hương trên bình đá trước nhan Mẹ.

Tiện đây, xin nói đến những sự cố có thể được coi là “lạ lùng” xảy ra sau này nơi đài Đức Mẹ Fatima.

Năm 1968, tới 15,16 tháng 2, một trận bom đã tàn phá khu nhà thờ, đào những hố sâu sát dậu đài Đức Mẹ. Đài Đức Mẹ, tượng Đức Mẹ vẫn đứng yên. Các chuyên gia ngoại quốc đến xem xét, khẳng định: Cứ theo luật kiến trúc, thì tượng đài không thể đứng được với trận bom như thế.

Trước tượng đài, có hai cây xanh được xén thành hai chân nến, trông rất đẹp, ai cũng thích. Ngày nọ một trong hai cây héo đi, tưởng là có sâu cắn chết. Một bà đến khấn xin Đức Mẹ được chết thay, để cây chân nến kia được sống lại. Mấy tháng sau, cây bỗng đơm chổi nảy lộc, rồi lại xanh tươi như cây bên kia.

Và còn rất nhiều truyện lạ lặt vặt…

Cuối cùng, năm 1994, khi sửa lại đài. Lúc đó mới nhận thấy bẹ tượng bị om, búa vừa chạm đến vỏ, là mọi cái rời ra, cả những tấm bia đá trước và sau cũng vỡ nát. Điêu thắc mắc, là trải qua mấy chục năm, mưa to bão lớn, mà sao tượng đài bị om như thế vẫn đứng được.

ĐỀN ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP TRỞ THÀNH VIỆN TẾ BẦN ANPHONG

Năm 1944, các cha Dòng Chúa Cứu Thế ở Hà Nội về mở một chi nhánh ở Nam Định.

Các cha tậu một khu đất rộng hơn hai hecta – ăn từ đường Goòng đến đê bao bì. Một nhà nguyện và một dãy nhà cho các cha Dòng được xây cát, còn tất cả là vườn tược, ao hồ, đồng ruộng.

Ngôi nhà nguyện của Dòng sớm biến thành đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được thành lập ở đó, trưởng hội là bà giáo Nhàn, chị dâu cha Đinh Lưu Nhân, ở Thái Hà Ấp – Hà Nội, cũng như ở Dòng Chúa Cứu Thế đường Goòng Nam Định, cứ chiều thứ Bảy, giáo hữu các nơi tấp nập đến khấn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Các cha thay nhau mở những giờ chầu, thay nhau giảng, ai muốn thông công giờ nào thì đến giờ ấy.

Ngoài ra, các cha thường được mời đi giảng các tuần đại phúc ở các xứ, nhất là vào dịp những lễ lớn, mùa chay.

Sau chiến tranh bùng nổ 1946, các cha rời nhà dòng để lại khu nhà vô chủ.

Năm 1949-1950, người hồi cư về thành phố chưa đông lắm, nhưng con số mỗi ngày mỗi tăng.

Hội Thánh Vinh Sơn do ông trương Đỉnh làm hội trưởng, tập hợp số hành khất ở thành phố để phát chẩn ở khu nhà dòng Chúa Cứu Thế, mà lúc đó ông trùm Tảo ở Bách Tính lên lánh nạn, đang trông coi.

Năm 1951, cha Nguyễn Dũng, được sai về làm phó xứ Nam Định. Hai cha, Trọng và Dũng thu thập các kẻ khó vào khu vực Dòng Chúa Cứu Thế. Trụ sở hội Vinh Sơn nay rời ra phố.

Những người đến ở khu Dòng Chúa Cứu Thế, dần dần không phải là kẻ khó, là hành khất không thôi, những người gặp khó khăn, những người từ nông thôn lánh nạn ra thành phố cũng đến ở nhờ đó. Các cha Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội cho phép xứ Nam Định được dùng cơ sở cũ của các cha làm trại kẻ khó. Cha Dũng xếp đặt nhân sự, tổ chức các người đến trú ngụ: Từ nay trại kẻ khó đó mang tên “Viện tế bần Anphong”, do cha Nguyễn Dũng làm giám đốc sáng lập. Viện có một văn phòng gồm một số thanh niên tên tuổi lúc đó như anh Nghiệp, anh Hải một hoạ sĩ chuyên vẽ quảng cáo, và dựng sơ đồ của Viện trong tương lai. Anh Nguyên con ông trùm Tảo cũng là một viên thư ký.

Khu Anphong được chia thành nhiều tiểu khu, mỗi khu chọn một vị thánh quan thầy: Khu Thánh Antôn, khu Thánh Đích, khu Thánh Đê. Mỗi tiểu khu gồm nhiều gia đình. Không còn là những cá nhân, mà là những gia đình đến trú ngụ. Mỗi gia đình được cấp mấy thước đất để dựng lều. Con số người đến ngụ dần dần tới 5 nghìn.

Cha Dũng cho mở Tombola (sổ xố) để gây quĩ kiến thiết.

Viện Anphong đông quá phải lập thêm một chi nhánh ở nhà Nagiaret. Nơi này quân đội Pháp đóng “bốt”, có đội “Hổ sám” dữ tợn. Song “bốt” bị phá vỡ, và nay dùng làm một chi nhánh của Anphong, có cha Hiền trông coi.

Mấy lần đổi cha giám đốc.

Viện tế bần Anphong tồn tại đến 1954.

Theo hiệp định Genève, đất nước bị chia đôi thành hai miền Bắc Nam, lấy vĩ tuyến 17 hay sông Bến Hải làm ranh giới.

Mỗi người Viet Nam tuỳ ý chọn miền mình muốn sinh sống.

Nay có hoà bình, những người lánh nạn ở viện tế bần Anphong trở về quê cũ, nếu không đi Nam.

Một số ít, mấy trăm người ở lại. Khu vực lại trống rỗng, rồi lại đón tiếp những người cư trú mới, nay khôn phải là kẻ khó nữa.

Cái biển “Viện tế bần Anphong” còn đứng mấy năm nữa trước cửa vào viện. Nó biến đi lúc nào, để “Viện tế bần Anphong” trở thành “Họ giáo Anphong”.

NHŨNG NỖ LỰC CUỐI CÙNG ĐỂ TRỞ LẠI NẾP SỐNG ĐẠO THEO KIỂU NGÀY TRƯỚC

Tháng 7-1953, ông Lưu Văn Linh, thay mặt ban hàng phủ Nam Định, đưa xe ôtô lên Hà Nội, đón cha Đinh Lưu Nhàn và cha Lê Đắc Trọng về Nam Định.

Vào tháng 5 năm 1952, cha Trọng đã được gọi về làm thư ký cho Đức Cha J.M. Trịnh Như Khuê, thay thế cha Hoàng Khải Tiệp, để cha Tiệp về giúp xứ Nam Định, trông coi trường Lê Bảo Tịnh.

Khi cha Trọng trở lại Nam Định – Cha Tiệp được chuyển lên làm phó xứ Phủ Lý, rồi bị động viên đi học trường sĩ quan Đà Lạt.

Về Nam Định lần này, cha Trọng lại đảm nhiệm các công việc ngày trước, trừ việc làm quản lý nhà chung. Hướng dẫn ban hát. các hội đoàn thiếu nhi – nhất là điều hành hai trường Lê Bảo Tịnh và Thánh Tâm.

Cha Nhân về Nam Định, làm cha Tổng Quản (Vicarius lferaneus) địa hạt Nam Định. Cha Nhân quê thành phố Nam Định, đã du học bên Pháp 18 năm. Khi về nước (1950) là Giám đốc Tiểu chủng viện Pio XII, 4 năm ở Hà Nội.

Trường Lê Bảo Tịnh, nhờ lấy lại được phòng Thông Tin của tỉnh, mở thêm được ba phòng học. Như vậy trường có đủ các lớp tiểu học và bốn lớp trung học đệ nhất cấp.

Để đỡ tốn phí trong việc trả lương các giáo sư. Cha Nhân dạy Pháp văn, Cha Trọng dạy Anh văn hai lớp đệ thất và đệ lục. Ông Lê Bá Thảng, người Huế dạy Anh văn các lớp trên. Thầy Dư, thầy Đông, thầy Quang dạy toán học, lý hoá, văn chương. Thành phố mở kỳ thi trung học, cha Trọng được mời đi chấm thi. – Nhà trường sắm một radio tối tân rất mạnh do cha Lý đem từ Pháp về. Radio vừa là tăng âm, vừa quay đĩa – máy được đặt ở văn phòng, từ nơi đó, cha hiệu trưởng thông tin đến các lớp qua hệ thống loa đặt ở các nơi.

Nhà trường cũng bắt đàu tổ chức một dàn nhạc nhẹ (orchestre), và bắt đáu tập Saxophone sáo tây, banjo, các nhạc khí khác… Đã có học sinh chơi Guitare rất tốt. Song, nói chung, bước đi vẫn châm chạp, khiêm tốn.

Đôi ba lần, ông Bùi Chu, chủ hiệu thuốc danh tiếng, phó trương xứ, tổ chức những buổi diễn kịch ở nhà préau để lập quĩ, giúp những người hoạn nạn. Ông biểu diễn với các con trai con gái ông: tài nghệ của gia đình thu hút được nhiều khán giả, và số tiền thu mỗi lần cũng đáng khích lệ.

Những hội đoàn chuyên biệt như xưa không còn, và nếu có còn, thì cũng ít đất hoạt động. Mọi thứ phong trào xem ra bây giờ tự giới hạn vào tác động “chất men” làm dậy bột.

HỘI DÒNG BA THÁNH PHANXICÔ được thành lập. Cha Trọng làm tuyên uý. Cách sống đơn sơ, tinh thần nghèo khó của con cái thánh Phanxicô không có cái vẻ bề ngoài hấp dẫn như dòng BA THÁNH ĐOMINICÔ, lúc đó phát triển rất mạnh ở xứ Khoái Đồng bên cạnh.

Khu vực Khoái Đồng tuy đất ít người thưa, song lại đầy sức hoạt động sôi nổi. Khu vực có Đại Chủng viện thánh Albetô do các cha dòng thánh Đominicô giảng dạy. Có Tu viện thánh Đominicô gồm hàng chục linh mục và tu sĩ, với trường trung học Saint Thoma. Tất cả có thể phục vụ xứ Khoái Đồng, phục vụ nhà thờ. Giáo dân bên phố quá đông, chạy sang hoạt động ở nhà thờ Khoái Đồng. Dòng ba thánh Đominicô với bộ y phục uy nghi trang nghiêm, dễ lôi cuốn, thu hút các ông các bà bên phố.

Việc đạo cũng có những đất hoạt động tranh giành, về vấn đề dòng cũng như nhiều vấn đề khác. Song “miễn là Chúa Kittô được rao giảng” (Thánh Phaolô).

Dòng Ba thánh Phanxicô chỉ thu hút được một số nhỏ đứng tuổi và cố gắng tự biến thành chất lượng thánh thiện. Tuy nhiên, những người này lại đứng vào trường hợp giống như thánh Phanxicô. Người thì có chức quyền phần đời như ông Phán Ngọc – phó tỉnh trưởng. Người thì giàu có tiền của, nhưng tinh thần nghèo khó của Phúc Âm đã lôi cuốn họ. Số ít này ra sức trở thành chất lượng có thể biến đổi gia đình, biến đổi xã hội chung quanh họ theo tinh thần Phúc Âm.

HỘI ĐẠO BINH ĐỨC MẸ cũng được thành lập, Cha Hạnh và Cha Qui làm tuyên úy. Một Hội kỷ luật chặt chẽ và hoạt động theo chiều sâu cũng như chiều rộng, bởi đó phải có tinh thần cao để thánh hoá bản thân.

Thánh hoá bản thân không những là mục đích mà còn là phương thế để hoạt động.

Thánh hoá bằng sự cầu nguyện, tích cực công tác vào công cuộc hoạt động của Đức Maria và của Hội thánh, thắng sự ác bởi con rắn cám dỗ, và mở rộng Nước Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Tuy nhiên Hội Đạo Binh Đức Mẹ cũng còn khiêm tốn, chỉ mới đưa hoạt động của mình vào việc đi thăm bệnh viện, thăm các gia đình.

Một vấn đề gai góc mà Đức Giám Mục khi về kinh lý năm 1953 phải giải quyết: vấn đề có hai hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp: Một hội ở Dòng Chúa Cứu Thế, một hội ở nhà xứ Nam Định. Khi còn Dòng, mỗi hội hoạt động mỗi nơi, không có chuyện gì. Nhưng nay Dòng Chúa Cứu Thế không còn ở Nam Định, nhà Dòng lại biến thành trại tế bần Anphong. Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế không còn nơi hoạt động. Hội quay về nhà thờ xứ. Trong thực tế khó có sự kết hợp.

Đức Giám Mục địa phận đưa ra giải pháp là đổi hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Dòng Chúa Cứu Thế thành Hội Trinh Nữ (Trinh Nữ Vương) một hội mà Đức cha Khuê lập để bảo trợ ơn kêu gọi linh mục. Cũng như Đức Trinh Nữ Maria đã được chọn làm Mẹ Chúa Cứu Thế, vị linh mục tối cao vĩnh viễn, thì Người cũng là Đấng bảo trợ cho ơn kêu gọi linh mục nữa. Hội cầu nguyện và có thể đóng góp vật chất nữa. Hội có tôn chỉ, có kinh riêng, có bài hát riêng là bài “Cung Chúc Trinh Vương”. Cũng như Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm việc kính Đức Mẹ vào ngày thứ Bảy sau lễ thế nào, thì Hội Trinh Nữ Vương cũng làm việc kính Đức Mẹ vào các ngày thứ Năm. Thói quen đó vẫn giữ cho tới ngày nay, cả những năm mà hai hội y như không còn hoạt đông.

Một ngày lễ lớn kết thúc thời kỳ này: Lễ của giới trẻ. Lễ được tổ chức vào đầu tháng 5-1954 trước nhà thờ lớn Nam Định, quy tụ hàng ngàn thiếu nhi từ các trường học Công giáo, các hội đoàn thiếu nhi trong toàn thành. – Toàn bộ Đại Chủng Viện Thánh Albert, giáo sư và đại chủng sinh, cũng tham dự.

Mọi người đều khát khao hoà bình, và trông vào giới trẻ mà Chúa Giêsu xưa kia bày tỏ lòng ưu ái: “Hãy để các trẻ đến cùng Thầy”. Hình ảnh tiên tri Isaia về hoà bình rất sống động: mọi vạt đều hoà hợp với nhau, không vật nọ hại vật kia – “Đứa trẻ chơi đùa giữa cảnh vật, cầm rắn lục trong tay mà không việc gì…Hòa Bình đáng mong mỏi biết bao.

Những người đã sinh sống tại Giáo xứ Nam Định viết

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang