Kỷ yếu Giáo xứ Nam Định: Chương VI – Sinh nhật, Phục sinh, Hiện xuống của xứ Nam Định

NỘI DUNG

1. Nhà thờ được khôi phục

2. Phục hưng toàn bộ

3. Cuộc viếng thăm của Đức Hồng y Roger Etchegaray

Người dân thành phố, đi sơ tán – nay trở về, với thành phố bị tàn phá một phần ba, từ khu ven sông cho đến nhà thờ đều bị san bằng. 

Thành phố có kế hoạch xây lại đàng hoàng. 

Nhà thờ cũng theo hướng đó, và muốn được xây dựng thêm, được tân trang lại. 

Kỹ sư Vũ-Văn-Hảo đã đưa ra một kế hoạch lớn, gồm cả việc mở rộng nhà thờ, với cánh Thánh giá hai tầng. Đức Cha Khuê, giám mục địa phận cũng tán thành. Sau này bản thiết kế chỉ được thực hiện phần nhỏ: khôi phục lại tình trạng cũ. 

NHÀ THỜ ĐƯỢC KHÔI PHỤC 

Trong khi chờ nhà nước cho phép – những công việc có thể làm trước, đã bắt đầu tiến hành ở An-phong. Nhà thờ không còn một cánh cửa, một khuôn cửa nào, nay bắt đầu từ bộ cửa tầng trên. Có 17 khuôn cửa, vì thế có thể biểu hiện 15 sự mầu nhiệm tràng hạt Mân Côi. Hình ảnh uốn bằng sắt, để những cửa hình ảnh (vitraux) được vĩnh cửu, phòng lúc không ai dạy đạo, 15 sự mầu nhiệm là cả cuốn Phúc Âm nhỏ được mở ra. Anh Mỹ (con ông Thiểm) đã vẽ mầu và tráng màu – Anh Thanh uốn sắt thành những hình ảnh rất sinh động. 

Sau này nhà thờ cũng được trang trí bằng nhiều hình ảnh giúp cho việc giảng dạy giáo lý – ảnh trên granito, ảnh mo-sa-ích. Anh Trần Viện và sau này anh Tùng, anh Quí là những người góp rất nhiều công để thực hiện công trình mỹ thuật đó. 

Ngày khởi công đã đến, 29-6-1973 

Một hồi chuông dài vang lên, làm rung động cả thành phố, những quả chuông đã phải im tiếng từ 5 năm nay, nay báo một niềm vui phấn khởi cho mọi người. 

Công việc trước hết là lấp các hố bom, san phẳng bề mặt. 

Cha Trọng đã sắm một cái xẻng từ mấy năm rồi, đợi ngày về khởi sự phục hưng. 

Hôm nay từng đoàn người xẻng cuốc trên tay kéo về khu nhà thờ, như mở cuộc hành quân. Cha Trọng xúc xẻng thứ nhất lấp hố bom bên cạnh đài Đức Mẹ.

Xin ai nấy tưởng tượng quang cảnh những hố bom bên cạnh những đống đổ nát như sân trước nhà thờ, trong nhà thờ, chung quanh nhà thờ, trong khu nhà xứ, chỗ nào cũng ngổn ngang, không còn lối đi. Công việc san lấp không dễ dàng. Phải mất nhiều tháng vất vả và nhiêu công sức. 

Người thành phố Nam Định không làm nổi. 

Lúc này là dịp phát huy tinh thần hiệp thông giữa các giáo xứ. 

Các xứ trong toàn tỉnh đã đăng ký số người đến giúp. Mỗi ngày chỉ cần 150 người mới có đát hoạt động. Mỗi họ xứ đăng ký con số người đến giúp và con số ngày công. Ban điều hành công trường sẽ phân phối lao động cho từng ngày. Bà con các nơi đến làm việc, mang gạo đến nấu cơm ăn, tự túc. Khi kết thúc công việc dọn dẹp, con số ngày công lên tới 3 vạn. 

Cái đẹp ở đây không phải chỉ là giảm chi phí cho việc xây dựng nhờ các xứ đến giúp không, mà là việc con cái trong địa phận, trong Hội Thánh, con cái đoàn kết với nhau: Việc riêng một xứ thành việc công của Hội Thánh, mà mọi người cùng nhau kề vai gánh vác. 

Kỳ vọng của thành phố: Các phố xá phải được xây dựng khang trang đẹp đẽ. Nhà thờ cũng phải nguy nga. Song làm sao mà thực hiện được kỳ vọng đó một sớm một chiều, khi vừa bừng tỉnh khỏi cơn ác mộng chiến tranh khốc liệt.

Nhà thờ khiêm tốn bước vào kế hoạch hàn gắn những chỗ sứt mẻ đổ vỡ, và như thế cũng đã khá nặng nề.

Phải tuyển chọn thợ nổ, thợ mộc, thợ sắt: lâu nay có xây sửa gì mà có những loại thợ lành nghề.

Nguồn vật liệu: xi măng, sắt, vôi, gạch ngói…đều khan hiếm, những nơi sản xuất mới khôi phục lại, mua cây luồng cũng khó.

May thay, những nhà đổ lại là kho nguyên liệu, gạch, gỗ được thu lại và tận dụng. Bà con các xứ đến làm còn mang theo hàng ngàn cây tre để bắc giáo.

Chẳng bao lâu, nhà xứ mọc lên: xưởng mộc, xưởng rèn. Những bể tôi vôi, những sân đánh vữa đều hoạt động tới tấp.

Đến lễ Giáng sinh năm 1973, mái thượng nhà thờ được lợp hẳn hoi, nhờ từng ngàn viên ngói rút ra ở dãy nhà trên Anphongso, còn mái hạ đành lấy ngói xếp tạm, để có thể cử hành lễ Giáng sinh thứ nhất sau khi đã gián đoạn một thời gian.

Sau lễ Giáng Sinh năm đó. Nhà xứ Nam Định lại trở về Anphong, với các công việc lễ lạy, kinh nguyện.

Còn các công việc sửa chữa lại được tiếp tục với tất cả những khó khăn, nhưng nhà thờ mỗi ngày mỗi hoàn chỉnh.

Đồng thờ trước kia bị mất kim và mặt, nay các thứ ấy đã được tìm thấy, và lắp lại như cũ. Ông Nguyễn Văn Trung, chủ nhà sửa chữa đồng hồ đã đưa lên tháp chuông – Từ nay tiếng đồng hồ báo giờ phút vang lên, bắt nhịp cho sinh hoạt nơi nhà thờ cũng như nơi phố phường…

Các tượng ảnh còn nguyên vẹn sau trận bom 1968, được mang đi sơ tán – trừ tượng Đức Mẹ, kích thước quá lớn, phải có khung che chắn tại chỗ – Nay các tượng được rước về đầy đủ, biểu tượng cho cuộc họp mặt của Hội Thánh trên trời dưới đất diễn ra sau này.

Và Phục sinh năm 1974, toàn bộ xứ Nam Định dứt khoát rời Anphong, để trở về nhà thờ, nhà xứ cũ của mình.

PHỤC HƯNG TOÀN BỘ

Những cuộc phục hồi vật chất luôn được tinh thần đức tin nâng đỡ, cũng như đức tin thúc đẩy những nỗ lực xây dựng.

Nhà thờ được khôi phục lại như thế, và còn được tiếp tục đến hoàn chỉnh,

Bàn thờ cũ dùng cho việc cử hành Thánh lễ quay lên, nay không còn hợp thời. Phải có bàn thờ mới. Những mảnh vụn sơn son thiếp vàng của các tòa, các bàn thờ khi trước đã được thu lại và trang trí theo kiểu xứng hợp với lễ nghi.

Dần dần làm grannito quanh tường bên trong nhà thờ, các chân cột, sàn nhà…tất cả đều tùy lúc, tùy túi tiền, tùy tài năng của mỗi người mà công việc phát triển.

Bắt đầu sửa lại nhà thờ, không có một người thợ nào đáng gọi là thợ lành nghề. Thế mà trong khi các công việc tiến triển, các tay nghề cũng phát xuất. Sau này, bao người thành những thợ giỏi, những đốc công. Từ không biết granito là gì, xẻ đá mới được trông thấy lần thứ nhất, nay nơi nơi đều mời những người đã làm việc ở nhà thờ Nam Định đến giúp.

Việc phục hồi ngôi nhà thờ bằng gỗ đá còn phải nhằm hơn nữa là việc phục hồi tâm hồn.

Để xây sửa, người ta đóng góp tiền của, song nhất là đóng góp sức lực. Về phương diện này, mọi người trong xứ, từ già chí trẻ, đều đã có phần.

Chẳng hạn, khi làm granito, từng lớp người già trẻ, không ngại nước ximăng ăn tay, đã đến mài, rửa, và như thế trong nhiều tháng trời.

Do đó mọi người được tập luyện ý thức về sự hiệp thông trong công việc của Giáo hội.

Những việc hoàn chỉnh người Ki-tô phải xét về mọi chiều kích dài, rộng, nông, sâu.

Ý thức về sự hiệp thông, và sống sự hiệp thông đó là chiều kích đáng quý. Song phải đi vào chiều sâu trong đức tin.

Các lớp học giáo lý phải được duy trì và củng cố. Những người khó nhọc trong việc này, phải kể đến ông quản Hàm, các chú Thành, chú Mỹ như trẻ em quen gọi.

Việc tuyển chọn và huấn luyện giáo lý viên là công việc hàng đầu. Trong khi các xứ, họ mơ ước có vài ba giáo lý viên, thì Nam Định phải huấn luyện từng chục, từng chục giáo lý viên mà vẫn không đủ.

Những lớp giáo lý đã được mở ra cho các tuổi, các trình độ khác nhau. Thường xuyên có 3 trăm trẻ em theo học các lớp giáo lý, trong mỗ chu kỳ 6 năm.

Lớp thanh niên cũng được học giáo lý đến nơi đến chốn, dự các lớp giáo lý hôn nhân để xây dựng những gia đình tốt đẹp.

Năm 1975, nam-bắc thống nhất, về phương diện giáo lý, những trao đổi được dễ dàng, tăng thêm sinh khí và sức mạnh cho việc học giáo lý.

Việc tổ chức ban giáo xứ, ban hàng phủ được quy củ, giúp nhiều cho việc thúc đẩy sống đạo trong giáp trong họ. Không còn chỉ lo tổ chức, đóng góp lễ lạy trong xứ. Trùm trưởng các họ các giáp đi vào từng gia đình trong giáp trong họ, khuyên bảo nhắc nhủ các gia đình yếu kém về mặt đạo, chú ý đến giới trẻ, thúc đẩy họ dự những lớp giáo lý, tổ chức thi kinh bổn, giúp các trẻ nhỏ dọn mình rước lễ lần đầu. Lễ quan thầy sắp đến, ông trưởng giáp trùm họ đến từng nhà nhắc nhở họ dọn mừng lễ, đi xưng tội rước lễ – cũng là những cách đánh thức niềm tin trong giáp.

Các họ thánh cũng được khôi phục lại: Họ Mân Côi, Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Hội Trinh Nữ, Hội Đức Bà Bảy Sự. Những hội này không chỉ là đọc một số kinh theo lệ của hội, và lĩnh ân xá. Các hội viên còn phải tăng thêm sự cầu nguyện kết hợp với một nếp sống đạo đức gương mẫu và có tính cách truyền giáo nữa. Và đây là những vị truyền giáo đắc lực nhất trong gia đình và khu vực họ sinh sống.

Năm 1968, xứ Nam Định kỷ niệm 90 năm xây dựng thánh đường. Có lễ nghi riêng, có những bài hát được anh em trong xứ sáng tác cho dịp này. Có lưu niệm chút ít cho các gia đình. Tất cả nói lên sự xum vầy của mọi người, trong nhà Chúa, trong gia đình. Một gia đình nhỏ bé trong đại gia đình Giáo hội Công giáo.

CÓ PHẢI NGÀY “HIỆN XUỐNG MỚI” KHÔNG?

CUỘC VIẾNG THĂM VIỆT NAM CỦA ĐỨC HỒNG Y R. ETCHEGARAY

Kiến thiết cơ bản về nhà thờ Nam Định tạm ổn: nếu có làm thêm gì, thì chỉ là về phương diện mỹ thuật.

Đời sống đạo dần dần đi vào nền nếp. Học và sống tinh thần Công Đồng Vaticanô II mà tới nay mới được biết rất ít. Tìm và đón nhận những kiến thức mới để khỏi quá chậm trễ với các phần khác của Giáo Hội. Cuộc sống dần dần trở nên phẳng lặng.

Bỗng có tin Đức Hồng Y Roger Etchegaray, vị Hồng Y tên tuổi nhất hiện nay ở Vatican, nay Đại diện Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, đến thăm Giáo Hội Việt Nam một tuần lễ.

Từ lúc có tin báo cuộc viếng thăm, và cuộc viếng thăm bắt đầu, thời gian rất ngắn, nên cuộc chuẩn bị đón tiếp hết sức khẩn trương.

Ngài tới Hà Nội ngày 2-7-1989. Theo chương trình, ngài sẽ đi thăm một số nơi quan trọng ở Việt Nam.

Nam Định được vinh dự vào số những nơi ngài đến và cử hành Thánh lễ.

Từ xưa đến nay, Nam Định chưa hề được đón tiếp một vị Hồng Y đến cử hành Thánh lễ.

Các Đức Hồng Y nhà: Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Như Khuê, và Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn, có đôi lần đến thăm Nam Định, nhưng chưa hề có dịp cử hành Thánh lễ trong phần đất của các ngài.

Đây là vị Hồng Y đầu tiên đến cử hành Thánh lễ tại Nam Định, ngài lại là vị Hồng Y đại diện Đức Thánh Cha, nên phải đón tiếp ngài như đón tiếp Đức Thánh Cha. Thời giờ gấp rút, chỉ có không đầy ba tuần lễ. Phải sửa sang, quét vôi nhà thờ nhà xứ.

Để chào mừng ngài, phải có chút ít văn nghệ. Nhạc sĩ Hùng, cây nhà lá vườn dùng quan họ Bắc Ninh với mấy lời chúc đơn sơ bằng tiếng Việt, tiếng Latinh, tiếng Pháp, làm thành một bản nhạc rất Việt Nam.

Dự định một đoàn lớn xe môtô đi đón ngài. Có người vội vàng đi sắm xe honda với giá cao để kịp gia nhập đoàn.

Theo lộ trình, ngài đi Phát Diệm ngày 03/7/1989. Chiều 03/7, về cử hành Thánh lễ ở Kẻ Sở – kinh đô cũ của Địa phận. Tối 03/7 về nghỉ ở Nam Định, để sáng 04/7 cử hành Thánh lễ tại Nam Định.

Một chương trình rất khít khao, diễn ra ở những nơi tiếp cận với nhau – tuy số người đến dự có giảm đi, thễ mà không nơi nào đủ chỗ cho người đến tham dự.

Từ đêm từng đoàn người đã đến “chiếm cứ” sân nhà thờ Nam Định, và đến sáng ra thì không còn chỗ len chân, ngoài một lối nhỏ hẹp, có kèn đứng hai bên để Đức Hồng Y đi qua.

MỘT CUỘC TẬP HỢP CHƯA TỪNG CÓ

6 giờ sáng một đoàn xe môtô, hơn một trăm chiếc, xếp hàng trên con đường ở trước Khách sạn Chuyên Gia.

Mỗi xe một người lái, và một người cầm cờ Toà Thánh hay bó hoa.

Rồi đoàn xe máy chuyển bánh đi trước xe Đức Hồng Y, qua những con đường phố dài hơn một kilômet, để tới công trường trước sân nhà thờ.

Đến cuối nhà thờ, là một biển người nhấp nhồ như làn sóng, vỗ tay reo mừng, hoà lẫn tiếng đổ hồi của những quả chuông trên tháp, tiếng kèn hùng tráng, tiếng trống vang trời, tạo nên những âm thanh, tiếng ầm ầm mạnh mẽ làm phập phồng những con tim vì sung sướng.

Sau mây phút tưng bừng náo nhiệt, đoàn hành lễ có Thánh Giá dẫn đầu, nghiêm trang tiến ra lễ đài, giữa tiếng đàn, tiếng hát bài ca nhập lễ.

Lễ đài được đặt rất cao. Ảnh Đức Mẹ – hôm đó là lễ Đức Mẹ đi thăm viếng – cao tới gần đỉnh tháp.

Cùng đồng tế với Đức Hồng Y Etchegaray, có Đức Hồng Y  Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, Đức cha Giu-se Nguyễn Văn Yến, và khoảng 30 linh mục. (sở dĩ không đông các Đức cha, các cha, là vì trong 2 ngày 3 và 04/7, Đức Hồng Y Etchegaray cử hành lễ ở 4 nơi địa điểm gần nhau trong tỉnh Hà Nam Ninh).

Trước mặt là một cử tọa đông tới 5 vạn người: đứng đầy sân, đầy đường, trên các sân thượng, các cửa ở các ngôi nhà chung quanh.

Phần thường lễ, Đức Hồng Y dùng tiếng Latinh.

Sau Phúc âm, Đức Hồng Y diễn giảng. Nét mặt vui tươi lúc nào cũng điểm nụ cười, dáng điệu uy nghi mà đơn sơ, tiếng nói dõng dạc, cách diễn đạt rất bình dân cụ thể, tất cả những lợi điểm đó thu hút sự chú ý khiến thính giả không bỏ sót một lời nào của ngài. Mỗi câu nói bị ngắt bởi những tràng pháo tay liên tiếp. Đôi khi điểm một vài câu đối thoại, với tiếng “có” phát ra đồng loạt từ muôn cửa miệng. Cha Giu-se  Nguyễn Ngọc Oánh khéo chuyên ngữ, nên những tràng pháo tay càng thêm vang dội.

Lễ nghi vừa long trọng trang nghiêm, vừa tưng bừng nhộn nhịp, vì đây còn là cuộc gập gỡ tay bắt mặt mừng của Dân Chúa với Đấng đại diện của Cha Chung trên khắp hoàn vũ.

Sau Thánh lễ, tiếp đến cuộc chào mừng Đức Hồng Y diễn ra ngay trước lễ đài, với một cử tọa cũng đông như lúc Thánh lễ cử hành.

Trước hết hết linh mục Phao-lô Lê Đắc Trọng – Chính xứ Nam Định và là Tổng Đại Diện Toà Giám Mục Hà Nội đọc lời chúc từ.

Sau đó là cuộc tiến dâng lễ vật, là những đặc sản của miền Nam Định, như chuối ngự. Đoàn dâng lễ vật tiến lên, miệng ca lời chúc mừng Đức Hồng Y bằng ba thứ tiếng Việt Nam, Latinh và Pháp. Cái “pha” gây náo nhiệt và căng thẳng nhất, khi ngài đón nhận bằng hai tay chiếc đòn gánh có treo buồng chuối, giơ lên cao, như nhà lực sĩ cử tạ, khiến cử tọa vừa reo hò, vỗ tay và vui cười đến chảy nước mắt nữa.

Tiếp đến là hàng trăm trẻ em, tuổi 8, 9 như các thiên thần – nam múa trắc, nữ vẫy khăn đủ màu sắc, lôi cuốn từng vạn con tim vây quanh Đức Hồng Y, thành một khối không gì có thể phân chia.

Đúng thế! Một trận mưa rào bỗng ập đến. Đức Hồng Y vẫn đứng gội mưa, vui cười với đoàn thiên thần đang vẫy khăn, cho đến lúc mà khăn ướt sũng không tung bay được nữa, và cũng là giây phút kết thúc, cha con mới vẫy tay từ biệt, với lòng bùi ngùi quyến luyến.

Chưa hết đâu, sau khi Đức Hồng Y đi thay y phục. Từng ngàn người lòng bịn rịn, vây quanh ngôi nhà ngài, có lẽ chờ tới lúc ngài ra đi. Đức Hồng Y lại cầm máy phóng thanh nói chuyện và khuyến khích họ: dù mưa, dù nắng, bất kể sự gì, cũng không thể ngăn cản người tín hữu phụng sự Thiên Chúa.

Quang cảnh đón tiếp náo nhiệt tưng bừng như thế diễn ra ở khắp nơi Đức Hồng Y tới.

10 giờ, Đức Hồng Y rời Nam Định để về cử hành Thánh lễ trưa tại nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu. Đâu đâu cũng vẫn cuộc đón tiếp tưng bừng náo nhiệt, đôi khi còn mất trật tự, cản trở cả việc di chuyển của Ngài.

Nghe nói, ở Bùi Chu, con đường tới nhà thờ chỉ không còn đầy một cây số, mà mất cả tiếng đồng hồ. Người người chen chúc để được đến gần Đức Hồng Y, trông thấy dung nhan ngài. Việc di chuyển khó khăn, nên vào được nhà thờ rồi, Đức Hồng Y tuyên bố: “Con đường lên Thiên đàng không biết có khó khăn hơn con đường vào Bùi Chu không?”

Bởi đâu có cảnh tưng bừng náo nhiệt ở khắp nơi như thế? Cảnh tưng bừng có tính cách đạo đức, tính cách Giáo Hội? Không ai hiểu – Không ai lường trước được. Thế nên Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn đã không ngần ngại tuyên bố: “Đây là cuộc HIỆN XUỐNG MỚI”.

Phải công nhận như vậy.

Sau đây là bài diễn giảng của Đức Hồng Y Etchgaray và lời chúc mừng của Cha Tổng Đại Diện Phao-lô Lê Đắc Trọng.

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC HỒNG Y ROGER ETCHÉGARAY TRONG THÁNH LỄ Ở NAM ĐỊNH

–  Xin kính chào (nói bằng tiếng Việt)

– Tôi không thể đi xa được nữa trong tiếng của các bạn.

– Xin anh chị em tha thứ cho tôi, nếu tôi phải nói tiếng Pháp.

– Nhưng với trái tim tôi, tôi nói tiếng Việt với anh chị em.

– Chúng ta ở đây, ở trong tỉnh lớn là Hà – Nam – Ninh.

– Và chúng ta ở trong thủ đô lớn Nam Định.

– Và hôm nay, anh chị em đón tiếp Vị Đại diện, Vị Khâm Sai của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô thứ II.

–  Đức Thánh Cha yêu mến, rất yêu mến Giáo Hội Việt Nam.

– Người yêu mến, rất yêu mến toàn thể dân tộc Việt Nam.

– Và anh chị em có yêu mến Đức Giáo Hoàng không?

–  Tôi biết rằng câu hỏi của tôi thật là vô ích.

– Tôi nhìn thấy nhiều cờ của Đức Giáo Hoàng.

– Ai cầm cờ vẫy lên (Ngài cười).

– Thật là đáng tiếc, vì chính Đức Giáo Hoàng không thấy quang cảnh như thế này. Và tôi hy vọng một ngày kia Đức Giáo Hoàng sẽ đến đây với anh chị em, và chính Đức Giáo Hoàng cũng ước mong điều đó, và cần phải đợi chờ và nhất là cần phải cầu nguyện, và hãy giữ lòng hy vọng – tin tưởng. Chúng ta đang ở trong tỉnh lớn Nam Định.

– Tôi đã nghe nói đến tỉnh này. Đây là thành phố kỹ nghệ.

– Tôi luôn nhắc lại rằng: chính cha tôi là một thợ máy. Thợ máy nông nghiệp – Và bố tôi sửa chữa các máy nông nghiệp.

– Và khi còn bé thì tôi thấy bố tôi làm việc.

– Và một điều thất vọng cho bố tôi là bố tôi không thấy tôi trở nên thợ máy như là bố tôi.

– Nhưng vì bố tôi là một người có đạo tốt, cho nên bố tôi rất bằng lòng, rất hiên ngang khi tôi nói với bố tôi rằng tôi muốn làm linh mục.

– Có nhiều công nhân ở giữa anh chị em.

– Tôi biết rằng trong lịch sử của anh chị em có nhiều người là nguồn gốc ở đây. Có nhiều nguồn gốc là lao động và muốn làm việc để xây dựng một xã hội công bằng hơn.

– Chúng ta khát vọng công bằng hơn và nhất là tự do hơn.

– Chúng ta khát vọng sống xứng đáng với phẩm giá con người hơn, và như thế tức là cách mạng đấy.

– Tôi biết rằng trong nhiều dân tộc con đường cao đẹp đó đã được mở ra cho những người lao dộng.

– Thì những người lao động và trong hoàn cảnh lao động của mình, hơn ai hết, cảm thấy cái khát vọng được sống xứng đáng là con người hơn.

– Và Giáo Hội là người đi trước, là người dẫn đầu trên con đường đến sự tự do và sự công bằng.

– Giáo Hội luôn luôn nhìn thấy Phúc Âm luôn mở rộng ra.

– Và trong Phúc Âm không chỉ nguyên nói đến Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa rất yêu mến loài người.

– Một Thiên Chúa yêu mến mọi người, mọi người.

– Không chỉ yêu những người có đạo không thôi.

– Và tôi nghĩ rằng trong số anh chị em đây có nhiều người không Công giáo.

– Và tôi xin nói với các bạn ấy rằng chính Thiên Chúa cũng yêu mến những người ấy.

– Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng con người và Giáo Hội luôn luôn nhắc lại sự đó. Giáo Hội tin tưởng vào con người.

– Hai năm nữa Đức Thánh Cha sẽ kỷ niệm một thông điệp, một thông điệp lớn về lao động, đã được ban bố trong Hội Thánh.

– Giáo Hội luôn luôn cùng với công nhân tranh đấu để có nhiều công bằng, nhiều tự do hơn – và hoà bình nữa.

– Hoà bình giữa các dân tộc.

– Và như thế chúng ta hãy tin tưởng và càng hy vọng.

– Hãy giữ gìn niềm hy vọng này.

– Và trước khi kết thúc tôi muốn nhìn lên Mẹ nhân từ.

– Chính Mẹ cũng biết thế nào là lao động.

– Mẹ đã nuôi nấng con trẻ Giêsu trong gia đình Nagiaret.

– Vì không phải chỉ có lao động trong xưởng máy hay xí nghiệp, mà lại còn có lao động trong chính gia đình nữa.

–  Và tôi đặc biệt kính chào các người mẹ gia đình đang có mặt ở đây.

– Mẹ Maria cũng thấy thánh Giuse là người thợ.

– Và Mẹ Maria là mẹ tất cả mọi người chúng ta. Mẹ gìn giữ chúng ta.

– Mẹ tốt lành, Mẹ sẽ dẫn dưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.

–  Hôm nay chúng ta dâng lễ kính Mẹ.

– Bây giờ chúng ta cùng nhau tiến vào Mầu Nhiệm Chúa chịu chết và Chúa sống lại.

– Mẹ Maria cũng đi với chúng ta. Cà bây giờ chúng ta cầu nguyện rất nhiều với Mẹ – Cầu nguyện chung cho nhau – người này cho người kia.

– Cầu nguyện cho thành phố Nam Định của chúng ta. Cầu cho tất cả thành phố. Cầu nguyện cho tất cả tỉnh Hà – Nam – Ninh chúng ta.

– Và chúng ta cũng cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, là người – chính Ngài đã sai tôi đến đây với anh chị em.

–  Và bây giờ chúng ta cùng nhau lại vào Thánh lễ.

–  Nhưng sau Thánh lễ, nếu anh chị em không quá mệt mỏi, tôi lại nói với anh chị em vài câu nữa.

BÀI CHÀO MỪNG ĐỨC HỒNG Y

Kính thưa Đức Hồng Y.

Hôm nay các xứ miền Nam Định chúng con được vinh dự đón tiếp Đức Hồng Y trong một buổi sáng đầy ánh mặt trời của một ngày chói chang mùa hạ.

Sau khi được kết hợp cùng Đức Hồng Y dâng lên Chúa Cha, nguồn ánh sáng, Hy Lễ Thánh Thể với lòng tôn thờ khiêm cung, và sốt sắng tạ ơn.

Giờ đây chúng con sung sướng, một lòng một tiếng, cất lên lời chào Mừng Đức Hồng Y. (vỗ tay)

Đức Hồng Y đến với chúng con lần đầu tiên – và cũng là lần thứ nhất, Giáo Hội Việt Nam trong đó có xứ Nam Định, được hân hạnh đón tiếp một vị khách cao quí như Đức Hồng Y từ Roma tới, trong một cuộc viếng thăm lịch sử.

Trước mặt Thiên Chúa là Cha và trong nhiệm thể Chúa Kitô : Đức Hồng Y với chúng con không phải là xa lạ, nhưng đã là một trong sự hiệp thông nơi Đức Kitô.

Nhưng trong những mối tương quan trần thế, Đức Hồng Y với chúng con có vẻ xa cách ngàn trùng, tuy nhiên Đức Hồng Y quá gần gũi với chúng con bởi những mối quan tâm cũng như những hoạt động trong cương vị đặc biệt của Đức Hồng Y. Ngoài nhiệm vụ là một Mục Tử trong đoàn chiên Chúa Giêsu, Đức Hồng Y còn là nhà hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, không những trong một quốc gia, một lục địa mà còn trên bốn phương trời. Không những trong phạm vi tinh thần mà còn cả về vật chất. Những lệnh truyền của Chúa: “Cho kẻ đói khát ăn mặc” – “Phải công chính hơn người biệt phái” – “Phúc cho người xây dựng hoà bình” – Trong Giáo Hội, Đức Hổng Y có trọng trách đặc biệt đem những luồng sống đó gắn nối vào mọi phần tử nhân loại, sao cho khắp nơi trong mọi huyết quản đều rộn lên khí lực công lý và hoà bình.

Thưa Đức Hồng Y, đó là điều chúng con hiểu về Đức Hồng Y, về hoạt động của Đức Hồng Y.

Còn Đức Hồng Y có biết chúng con không? Cố nhiên là có.

Qua báo chí, qua sách vở, qua những phương tiện truyền thông. Đức Hồng Y biết rõ chúng con mặc dù chúng con ở một xứ sở thường được gọi là Viễn Đông. Tuy nhiên cũng có một vài đặc điểm mà chúng con muốn được kể với Đức Hổng Y.

Tỉnh Hà – Nam – Ninh chúng con mà thủ phủ là thành phố Nam Định thì có thể rộng và đông dân cư hơn nhiều quốc gia trên thế giới, có cả ngàn năm lịch sử. Một miền mà thiên nhiên biệt đãi nhiều ngồn phong phú, ăn dài từ miền biển qua những đồng lúa phì nhiêu cho đến những cánh rừng bát ngát.

Thành phố Nam Định – một thành phố lớn trong các thành phố Việt Nam. Một thành phố đặc biệt: vừa kỹ nghệ, vừa văn hoá, có nền kỹ nghệ dệt bậc nhất trong nước. Ngày trước, ngoài kinh đô Huế là nơi có những kỳ thi lấy các văn bằng tiến sĩ – Nam Định đã là nơi có tổ chức những kỳ thi tú tài, cử nhân – có số lớn nhân sĩ, văn sĩ, nhà thơ nổi tiếng trong nước. Một số các vị lãnh đạo chính trị lớn bậc nhất xuất phát từ những mái trường thành phố.

Cả nước duy nhất có một Giáo Hoàng Chủng Viện ở Nam Định. Nam Định ngày xưa là cái nôi và là trung tâm mọi phong trào Công Giáo Tiến Hành trong cả nước. Có pháp trường tử đạo quang vinh nhất nước: Pháp trường Bảy Mẫu.

Giáo dân thành phố tới 7 ngàn. Xưa kia và ngày nay, tỉnh này là nơi có con số người Công giáo đông nhất nước: 3 địa phận trong một tỉnh.

Thưa Đức Hồng Y.

Nhà xứ Nam Định và nhà thờ xứ được xây cất ngót 100 năm. Riêng thân phận linh mục nhỏ mọn này đã 40 năm quản lý nơi đây: được diễm phúc chứng kiến mọi biến cố thăng trầm trong những năm có nhiều thay đổi nhất.

Thưa Đức Hồng Y, cách đây 20 năm, giả sử Đức Hồng Y có đặt chân lên nơi này, Đức Hồng Y thấy quang cảnh khác hẳn – lúc đó làm gì có những nét mặt vui tươi như hôm nay.

Nơi Đức Hồng Y đứng bây giờ, lúc đó là một đống hoang tàn – nhà thờ là những mảnh tường, nhà xứ bị san phẳng. Trước mặt là những hố ao do bom đạn đào lên suốt cho đến nơi tượng Đức Mẹ. Ảnh tượng Đức Mẹ ngả bóng xuống làn nước hố bom y như Người cùng hòa tan vào nỗi đau khổ của con cái. Chiến tranh là thế – khắp nơi và luôn luôn nó là cái quái ác kinh tởm cần phải loại trừ ra khỏi hành tinh này với tất cả mầm mống của nó, để sự công chính và hòa bình ngự trị trên mật đất mà Thiên Chúa đã dựng nên.

Thưa Đức Hồng Y,  Đức Mẹ đứng kia là niềm hy vọng cho những ai ngã gục.

Được chính quyền nhà nước giành cho những sự dễ dàng. Một sự phục hưng vạt chất và tinh thần bất đầu: xây dựng lại ngôi nhà thờ gỗ đá và đồng thời ngôi đền thờ linh thiêng trong tâm hồn. Sự sửa sang bề ngoài chỉ một lớp vôi quét là thấy ngay, nhưng cái bên trong chỉ Thiên Chúa – Đấng thấu suốt mọi tâm hồn, mới nhận thấy.

Nhưng chúng con có thể vui mừng khoe với Đức Hồng Y là những anh em bà con xung quanh chúng con, bất kỳ thuộc chính kiến hay tôn giáo nào, đã giành cho những người Công giáo chúng con một lòng quý mến đặc biệt, không phải chỉ vì là đồng bào ruột thịt nhưng có thể vì phần nào chúng con biết sống đời sống người chứng tá Đức Kitô. Song trong tình huynh đệ, công bình và hòa thuận, chăm chỉ và đạo đức, sống là người Kitô đích thực.

Kính thưa Đức Hồng Y.

Với niềm tin vào Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, chúng con dâng lên Đức Hồng Y lòng tôn kính chân thành, lòng quý mến nồng nàn, lòng biết ơn sâu xa về mối thịnh tình Đức Hồng Y tỏ ra với chúng con, đặc biệt trong cuộc viếng thăm quý hoá này.

Chúng con nguyện xin Thiên Chúa và Mẹ Maria gìn giữ Đức Hồng Y sống lâu, mạnh khỏe, thu lượm nhiều kết quả làm vinh danh Thiên Chúa, lợi ích cho những con người, hầu cho Công Lý và Hoà Bình luôn ngự trị trên khắp trái đất này.

Xin Đức Hồng Y chúc lành cho chúng con.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang