Cố Emmanuel Souvignet Thi (1855-1943): Một nhà truyền giáo, một học giả với tâm hồn yêu mến con người và đất nước Việt Nam

Cố Thi có tên họ là trong sổ Rửa tội là Henri-Emmanuel Souvignet, ngài sinh đúng ngày lễ Giáng sinh năm 1855 nên cha mẹ đặt tên thánh là Henri-Emmanuel. Quê hương ngài là ở làng Monistrol sur Loire, Giáo phận Puy, thuộc tỉnh Haute Loire ở miền Nam nước Pháp. Xuất thân từ một gia đình tư sản điền chủ, có nhiều đất đai, nhưng từ bé ngài đã có lòng ước ao dâng mình cho Chúa nên đã cùng người anh trai của mình là Régis xin vào học ở Tiểu Chủng viện Giáo phận.

Khi lên Đại Chủng viện, hai anh em bị cuốn hút vào khát vọng đi truyền giáo, nên năm 1879 cả hai xin gia nhập học tại Chủng viện Hội Thừa sai Paris. Sau khi tốt nghiệp chương trình thần học, hai anh em được chịu chức phó tế ngày 4 tháng 3 năm 1882 và chịu chức linh mục ngày 23 tháng 9 cùng năm đó. Người anh được sai đi truyền giáo ở Trung Hoa, còn ngài được sai đến Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội).

Ngài đến Việt Nam vào thời điểm quan hệ căng thẳng giữa Triều đình Huế và chính quyền Pháp: Thành Hà Nội bị thất thủ năm 1882 dẫn đến Triều đình phải ký Hòa ước Quý Mùi (1883), chấp nhận quyền bảo hộ của người Pháp, khiến làn sóng bài Pháp dâng cao và gây nên nhiều căng thẳng khó khăn, cản trở cho việc truyền giáo của các cha thừa sai ở Việt Nam. Cha Souvignet từ nay được gọi theo tên Việt Nam là Cố Thi. Trước hết ngài học một khóa học cho các thừa sai trẻ ở Kẻ Sở. Trong thời kỳ này, quân nhà Thanh và giặc Cờ Đen từ Trung Quốc, lấy cớ chống Pháp và bảo vệ triều đình Huế, đã tràn qua biên giới, cướp phá khắp nơi ở miền Bắc. Dân gian thường gọi chúng là giặc Cờ Đen. Trước tình cảnh đó, Cố Thi phải ở lại Kẻ Sở, cùng với Cố Mollard Tri tại chủng viện, để tổ chức giáo dân tự vệ chống lại sự cướp bóc của chúng.

Sau khi tình hình ổn định hơn, Cố Thi bắt đầu sứ mạng truyền giáo của mình. Ngoại trừ một thời gian ngắn ở Hà Đông, cả cuộc đời truyền giáo của Cố gắn bó với tỉnh Hà Nam. Đầu tiên ngài thi hành sứ vụ của mình ở Kẻ Non (Cẩm Sơn), một trung tâm của cả hạt, sau đó ngài đến Đồng Chuối (Tiêu Động) và Kẻ Sông (Hà Ngoại) và cuối cùng, vào năm 1894, ngài được sai về Phủ Lý và sống ở xứ đó đến khi qua đời.

Cộng đoàn ở Phủ Lý được thành hình từ năm 1890, đầu tiên do những người từ xứ La Phù đến định cư sinh sống, họ lập một nhà nguyện bằng tre ở gần nhà Ga Phủ Lý ngày nay. Khi Cố Thi về tới nhận nhiệm sở, ngài đã mua một miếng đất trên 4 mẫu và rồi chuyển nhà nguyện về đó, chuẩn bị cho việc xây một ngôi nhà thờ cho xứng đáng. Ngài lên một kế hoạch và chỉ đạo công việc để cuối cùng có thể khánh thành nhà thờ và tháp chuông vào năm 1907.

Công trình nhà thờ Phủ Lý đã làm cho cố Thi được biết đến như một kiến trúc sư tài giỏi, nên nhiều cha thừa sai đã nhờ cố thiết kế nhà thờ, như Đức cha Eloy Bắc nhờ thiết kế nhà thờ chính tòa Vinh, khánh thành năm 1929, và Đức cha De Cooman Hành nhờ thiết kế nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Thanh Hóa, cũng khánh thành năm 1929.

Cố Thi cũng là một người ham tìm hiểu về ngôn ngữ, phong tục tập quán, ngôn ngữ, lịch sử, dân cư, luật pháp, tôn giáo của địa phương miền Bắc để ngài có thể dạy và hướng dẫn người khác về kiến thức địa phương, đặc biệt cho các nhà thừa sai trẻ, các quan chức người Pháp trong tỉnh. Năm 1903, ngài xuất bản cuốn “Variétés Tonkinoises”[1] như đúc kết hiểu biết của mình về những tính đa dạng phong tục, tập quán, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, văn chương của miền Bắc. Tác phẩm của ngài đã thu được thành công rực rỡ, người ta coi đó như một cuốn thủ bản cần thiết cho những người Pháp sống và làm việc ở Miền Bắc cũng như ai cần nghiên cứu về miền đất này. Số tiền bán sách thu được ngài dùng cho việc xây nhà thờ Phủ Lý. Cố cũng cho xuất bản nhiều sách nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ học và lịch sử dân tộc Việt Nam. Đặc biệt ngài nổi tiếng thông thạo chữ Hán-Nôm và để lại nhiều bài báo giá trị trên các tạp chí nghiên cứu tại Bắc Kỳ.

Cố Thi nổi tiếng như một con người trí thức, trí tuệ uyên bác, cá tính mạnh mẽ, kiên quyết, với nhiều tài đa năng như kiến trúc, xây dựng, viết văn, luật sư, ngoại giao giúp đỡ bênh vực những người bị áp bức, bị bỏ rơi, tất cả chỉ để một mục đích là phục vụ đức tin, phục vụ công việc truyền giáo. Mặc dù bề ngoài người ta thấy ngài là một con người nghiêm khắc, uy nghi, nhưng tâm hồn ngài giản dị, khiêm tốn, đầy tràn tình yêu thương con người Việt Nam và cố gắng để cho họ được biết đến nhiều hơn nhờ những nghiên cứu của mình.

Tháng 9 năm 1932, ngài tổ chức kỷ niệm lễ Kim khánh[2] Linh mục của mình tại nhà thờ Phủ Lý. Năm 1941, thấy sức khỏe của ngài suy giảm nhiều, Đức cha Thịnh đã cử Cố Coste Tế tới giúp ngài. Mặc dù sức lực cạn kiệt, nhưng Cố Thi không muốn về Nhà Chung dưỡng bệnh, mà kiên quyết muốn được chết trên mảnh đất Phủ lý, nơi mà ngài đã cống hiến cả cuộc đời để truyền giáo. Ngài qua đời đúng ngày lễ Thánh Giuse, 19 tháng 3 năm 1943, dưới bóng nhà thờ mà ngài đã tâm huyết xây dựng và được an táng ngay trên khuôn viên nhà thờ như một ước nguyện cuối cùng của ngài.

(Dựa theo hồ sơ các Thừa sai của MEP số 1680)

Lm. Tô-ma A-qui-nô Nguyễn Xuân Thủy

Trích “Nội san Nhà Chung” – Số 23


[1] Đã được dịch ra tiếng Việt Nam, mang tựa đề “Bắc Kỳ tạp lục” – Cty Nhã Nam xuất bản 2019

[2] Cưới vàng – Kỷ niệm 50 năm chức linh mục


ĐỌC THÊM

Giáo xứ Phủ Lý: Tưởng nhớ Cha cố Thi nhân dịp lễ giỗ 80 năm

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang