Đức cha Paul Francois Puginier Phước – Giám mục Đại diện Tông Tòa tại Tây Đàng Ngoài từ 1868 đến 1892

                                                                                    Lm. Tô-ma Aq. Nguyễn Xuân Thuỷ

Paul-Francois Puginier sinh ngày 04 tháng 7 năm 1835 tại Saix thuộc tỉnh Albi ở miền Nam nước Pháp. Sau khi hoàn tất chương trình Tiểu chủng viện ở Castres, thầy xin nhập học Chủng viện Hội thừa sai Paris ngày 01 tháng 7 năm 1854. Được chịu chức linh mục ngày 29 tháng 5 năm 1858, Cha Puginier đã lên tàu ngày 29 tháng 8 để tới Địa phận Tây Đàng Ngoài. Vì Đàng ngoài lúc đó đang bị bách hại Đạo nên Cha phải ở lại Sài Gòn chờ thời cơ. Tại đây, Cha mở một trường dạy tiếng Pháp để cung cấp cho Giáo hội cũng như xã hội những người làm thông ngôn. Ngài cũng giúp mục vụ cho vùng ven Sài Gòn, đặc biệt là ở Thị Nghè và Gò Vấp, truyền giáo cho người ngoại ở đó rất thành công.

Năm 1862, sau cuộc hành trình nhiều gian nan nguy hiểm, ngài đã tới được Đàng Ngoài, tại đây ngài nhận tên Việt Nam là Phước. Đức cha Jeantet Khiêm gửi ngài đến làm mục vụ ở xứ Kẻ Lõi (nay là xứ Thạch Bích). Giáo dân ở đây rất quý mến và bảo vệ ngài, có lần ngài bị quan huyện bắt, nhưng giáo dân đã lập tức tập hợp lại và giải thoát cho ngài. Được đặt làm Giám đốc hội Tiểu nhi, ngài đã thiết lập một trại trẻ mồ côi tại Kẻ Lõi. Đồng thời, Cha cũng cho in lại những sách đạo tiếng Nôm đã bị đốt trong các cuộc bách hại và cho khắc chữ in những cuốn khác nữa.

Ngày 4 tháng 11 năm 1865, Cha Puginier Phước được bổ nhiệm làm cha chính Địa phận, được giao trách nhiệm thăm viếng giáo dân ở tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa. Tháng 12 năm 1867, Đức cha Theurel Chiêu chọn ngài làm Giám mục phó và đưa ngài đi thăm các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, với ý định lập một địa phận mới để ngài làm giám mục ở đó, nhưng dự định này phải 34 năm sau mới thực hiện được.

Cha chính Phước được Toà thánh bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Mauricastre, được tấn phong ngày 26 tháng 01 năm 1868 tại nhà nguyện Chủng viện Hoàng Nguyên, sau đó ngài trở về Phúc Nhạc và lập một Tiểu Chủng viện ở đó. Cuối năm 1868, Đức cha Chiêu lâm bệnh nặng và qua đời ngày 3 tháng 11, Đức cha Phước lên kế vị và đặt trụ sở giám mục tại Kẻ Sở. Lúc đó Địa phận có 140.000 giáo dân ở trong 48 giáo xứ và 800 họ đạo. Sau một thời gian dài cấm cách, từ năm 1868-1873 là những năm tương đối an bình, những công việc đầu tiên ngài làm trong cương vị Giám mục của mình là: Tĩnh tâm cho các linh mục Việt Nam tháng 2 năm 1869; điều chỉnh lại một số quy định hành chính; lập các hồ sơ phong thánh cho các đấng tử đạo Đàng Ngoài theo Giáo luật; tách tràng Kẻ Giảng ra khỏi Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên và lập ở Kẻ Sở; in lại các sách đạo bằng chữ quốc ngữ ở nhà in Kẻ Sở; thăm các xứ đạo trong Địa phận; yêu cầu các quan tôn trọng quyền tự do tôn giáo theo Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 mà triều đình đã ký với Pháp[1].

Từ năm 1872, thỉnh thoảng ngài được mời lên Hà Nội để làm trung gian dàn xếp những cuộc xung đột của các quan triều đình với những người Pháp, như vụ nhà buôn Dupuis đòi mượn đường sông đi ngược lên Vân Nam (Trung Quốc), đến vụ viên sĩ quan Francois Garnier bị giặc Cờ Đen giết ở Cầu Giấy. Đứng giữa những yêu sách căng thẳng của triều đình và quân đội Pháp, Đức cha đưa ra những giải pháp ôn hòa tránh gây xung đột thương tổn cho hai bên, ngài luôn theo một nguyên tắc ứng xử: “Là nhà truyền giáo chúng tôi làm việc cho Chúa, cho đất nước chúng tôi và đất nước chúng tôi đã hiến thân phục vụ.”[2] Người Pháp không quan tâm đủ để giải quyết các vấn đề xung đột, nên dẫn đến phong trào Văn Thân “bình Tây diệt tả” tấn công vào những cộng đoàn Ki-tô hữu mà họ cho là thân Pháp. Đức cha phải đích thân vào tận Sài Gòn để giải thích thảm họa này cho đại diện chính quyền Pháp ở miền Lục tỉnh[3]. Mặc dù Đức cha không nhận được sự giúp đỡ bảo vệ của quân đội Pháp như mong đợi, nhưng những lời khuyên của ngài cũng được đón nhận giúp cho việc soạn thảo Hiệp ước Giáp Tuất 1874 đem lại bình an cho giáo dân.

Một kỷ nguyên mới mở ra với những mùa gặt dồi dào với những ơn trở lại chưa từng thấy: Năm 1877 có 2.358 người lớn xin rửa tội; năm 1878 có 3.720; năm 1879 có 5.388. Nhà thờ Kẻ Sở được xây dựng từ năm 1877-1882 và một trụ sở ở Hà Nội. Từ năm 1878, Đức cha bắt đầu công cuộc truyền giáo bên Lào, ngài lần lượt gửi các cha thừa sai ưu tú sang đó như cha Fiot, Pinabel, Perreaux, Gélot, Thoral…

Sự kiện đại uý Rivière mang quân ra gây hấn ở Đàng Ngoài và triều đình yếu nhược đã nhờ giặc Cờ Đen bên Tàu giúp chống quân Pháp đã lại một lần nữa mang đến những thử thách khủng khiếp cho Địa phận, vì sự thù ghét người Pháp đã đổ xuống trên cộng đoàn Ki-tô giáo: bảy cha thừa sai và hàng trăm giáo dân bị tàn sát bên Lào, nhiều cộng đoàn Công giáo bị phá huỷ và cướp bóc, may mắn là tình trạng đó sớm được ngăn chặn và không làm giảm những thành quả truyền giáo: Năm 1887 có 3.269 người trở lại; năm 1888 có 4.602; năm 1889 có 6.779 và năm 1890 có 6.026. Tổng cộng trong bốn năm có 20.694 người được rửa tội. Ngày 8 tháng 12 năm 1884 Đức cha đã khai trương trường tiếng Pháp đầu tiên tại Hà Nội và khởi công xây Nhà thờ lớn thánh Giu-se tại thành phố này, đến cuối năm 1886 thì ngôi nhà thờ Hà Nội được hoàn thành.

Trong nhiệm kỳ giám mục của mình, Đức cha đã tấn phong giám mục cho Đức cha Pigneau, Đại diện Tông tòa ở Vinh, và Đức cha Gendreau Đông, Giám mục phó của ngài; ngài đã truyền chức cho 120 linh mục Việt Nam và Địa phận tăng thêm 70.000 tân tòng. Ngay từ những năm đầu trong cương vị giám mục, ngài đã dâng Địa phận cho Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, rồi những năm sau này ngài cũng dâng Địa phận cho Thánh Tâm Chúa, cho thánh Giu-se và ngài nhắc lại lời dâng hiến này hàng năm. Ngài cũng cho thiết lập tháng Đức Mẹ, tháng Mân Côi, tháng Thánh Tâm và tháng thánh Giu-se. Ngài thiết lập những quy định thiết thực quan trọng cho đời sống mục vụ trong Địa phận. Tinh thần đức tin và lòng đạo đức của ngài được thể hiện qua khẩu hiệu giám mục của ngài: “scio enim cui credidi ”[4] (2Tm 1,12).

Đức cha qua đời tại Hà Nội ngày 25 tháng 4 năm 1892 và được an táng tại nhà thờ Kẻ Sở. Cả cuộc đời tông đồ ở Đàng Ngoài, ngài đã cống hiến cho xứ truyền giáo này những đóng góp to lớn cả cho Giáo hội và xã hội, đúng như lời vị quan toàn quyền Đông dương Chavassieux đã nhận xét về ngài: “Danh của Đức cha sẽ vĩnh viễn gắn liền với những tên tuổi lẫy lừng nhất được tưởng nhớ ở Bắc Kỳ”.

                                      (Dựa theo Hồ sơ thừa sai của MEP Số 720)


[1] Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành Đạo Ki-tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Ki-tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Ki-tô thì không được ép họ theo.

[2] Biographie de Paul Puginier – IRFA Document de missionnaire 0720

[3] Lúc đó là Đô đốc hải quân Duperré đang là Thống đốc coi sáu tỉnh miền Tây do triều đình nhượng lại.

[4] Tôi biết tôi đã tin vào ai.

Các Bài Liên Quan

LƯỢC SỬ VỀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

THỜI CÁC VỊ THỪA SAI

CÁC ĐỨC GIÁM MỤC

Về tấm bia chữ Hán trên mộ Đức cha François Pallu

François Pallu: Vị thừa sai nhiệt thành thánh thiện

Đức cha Jacques De Bourges – Giám mục Đại diện Tông tòa đầu tiên của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Đức cha Edme Bélot – Vị Giám mục Đại diện Tông Toà thứ hai của Địa phận Tây Đàng Ngoài

Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam

Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de La Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh

CÁC TƯ LIỆU KHÁC

Thông Báo

Thông báo về việc thành lập Địa phận Nam đàng ngoài năm 1846

Thông báo năm 1887: Đặt cố chính Đông làm Vítvồ

Thông báo năm 1892: Về sự nhận việc coi sóc Địa phận

Rao sắc đặt Đức Cha phó và lập địa phận Xứ Đoài (Hưng Hoá)

Thông báo năm 1895: Về sự chia địa phận Đoài          

Thông báo năm 1902: Về việc lập địa phận xứ Thanh

Thông báo rao sắc đặt Đức cha phó Kính

Thông báo về Đức Cha phó Kính qua đời

Thông báo về việc xây dựng nhà thờ Kẻ Sở

Thông báo về sự làm tràng Lý đoán và nhà nguyện lại

Thông báo về những kẻ đã giúp nhà tràng Lý đoán

Thư Chung

Thư chung về tháng Mân Côi của Đức cha Phaolô Phước năm 1885

Thư chung về việc xây dựng nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về những kẻ đã giúp nhà tràng Hoàng Nguyên

Thư chung về tháng Đức Bà của Đức cha Phaolô Phước năm 1870

Thư chung về việc lập hội giúp việc giảng đạo năm 1924

————————————

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ

Các Thư Chung

Thư Chung Số 1

Thư Chung Số 2

Thư Chung Số 3

Thư Chung Số 4

Thư Chung Số 5

Thư Chung Số 6

Thư Chung Số 7

Thư Chung Số 8

Thư Chung Số 9

Thư Chung Số 10

Thư Chung Số 11

Các Thông Cáo Khác

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

60 năm ngày Thành phố Hà Nội được dâng cho Đức Mẹ

Thông cáo về cách dự Thánh Lễ và hát lễ trong nhà thờ

Thông cáo về việc giữ đạo – 15/2/1955

Thông cáo về việc tôn sùng và dâng mình cho Trái Tim Mẹ – 15/8/1958

Thông cáo chúc mừng Giáng Sinh – 12/12/1958

Thông cáo về năm Đức Mẹ Hà Nội – năm 1959

Thông cáo mừng các lễ kính nhớ sự thương khó Đức Mẹ – năm 1959

Thông cáo kỷ niệm 300 năm Tòa Thánh cử hai Giám mục đầu tiên sang Việt Nam – năm 1959

Thông cáo về tháng Năm, tháng Đức Mẹ, tháng Gia Đình – năm 1959

Thông cáo về Kinh Gia Đình cũng là Kinh Thánh Gia – 10/4/1959

Thông cáo về việc cấm phòng – 10/6/1959

Thông cáo của tòa Giám mục về mấy lễ quan trọng – 15/6/1959

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc các xứ dâng mình cho Trái Tim Mẹ – Ngày 02/7/1959

Thông cáo – Kinh Dòng Mến Thánh Giá dâng dòng cho Trái Tim Mẹ – 02/7/1959

Thông cáo về việc tôn sùng Đức Mẹ Hà Nội – Ngày 08/8/1959

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc lần hạt Mân Côi và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về gia đình và việc học kinh bổn

Thông cáo của Tòa Giám Mục về việc cám ơn Chúa – Ngày 16/7/1960

Thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục về việc thành lập hàng giáo phẩm – Ngày 13-1-1961

Thông cáo của Tòa Tổng Giám mục về công đồng chung số 18/1962

Thông cáo của tòa Tổng Giám mục về việc cho bệnh nhân chịu của ăn đàng số 17/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc dạy kinh bổn – Số 20/1963

Thông cáo của Tòa Giám Mục về Đức Gioan XXIII qua đời – Ngày 03/6/1963

Thông cáo của Tòa Giám mục về Lịch năm 1968 – Số 5/1967

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Bức thư nhỏ gửi các linh mục và các giáo hữu địa phận Hà Nội – Ngày 11-2-1966

ĐỨC HỒNG Y GIUSE MARIA TRỊNH VĂN CĂN

Thông báo

Thông cáo của Tòa Giám mục về việc giải tội chung – Số 2/1973

Thông cáo của hàng Giáo phẩm Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ – số 3/1975

Cuộc gặp thần kỳ của hai mẹ con Đức cố Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Tiếng Chuông Công đồng Vaticano II và những “bà già” Việt Nam

Tư tưởng của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn: Trẻ em là những sứ giả rao giảng Phúc Âm

Thư gửi các Cha và anh chị em giáo hữu Địa phận Hà Nội – Ngày 14/4/1980

Những chỉ dẫn Phụng Vụ

Mấy chỉ dẫn về nghi lễ – Ngày 21/8/1980

Mấy chỉ dẫn về Phụng vụ – Ngày 24/11/1980

Mấy chỉ dẫn về lễ nghi Phụng vụ Lời Chúa – Năm 1981

Mấy chỉ dẫn về các lễ trọng trong tháng 8 và tháng 9 năm 1983

Lên đầu trang