Ngày 07/11: Thánh Vinhsơn Lê Quang Liêm – Linh mục (1732-1113)

Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm sinh năm 1732 tại Thôn Đông làng Trà Lũ, Phú Nhai, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Thân phụ là ông Antôn Lê Doãn, là một thân hào nhân sĩ trong làng. Thân mẫu là bà Maria Doãn là một người mẹ rất đạo đức đã hết lòng lo việc dậy dỗ con cái. Năm 12 tuổi cậu Liêm xin vào tu trong Nhà Đức Chúa Trời ở Lục Thủy. Qua thời gian 6 năm học tập, cậu tỏ ra thông minh, đạo đức lại đức hạnh hiền lành nên được các cha dòng Đa Minh đang coi sóc Điạ Phận Đông Đàng Ngoài chú ý. Cha chính Espinoza Huy đã chọn cậu Vinh Sơn Liêm vào số các thanh niên hưởng học bổng của vua Tây Ban Nha, gửi đi du học tại trường Juan de Latran ở Manila, Phi Luật Tân.

14401 St. VinhsonLiem

Sau ba năm học hành xuất sắc và là một chủng sinh gương mẫu về đạo đức, hạnh kiểm cũng như học vấn, thầy Vinh Sơn Lê Quang Liêm chính thức xin vào dòng Đa Minh, rồi lãnh tu phục ngày 9 tháng 9 năm 1753. Năm 1754, tức một năm sau thầy Vinh Sơn Liêm tuyên khấn trọng thể cùng với 2 tu sĩ đồng hương khác và lấy danh hiệu là Vinh Sơn Hoà Bình (Vincent de la Paix). Sau khi khấn trọng thể, thầy Vinh Sơn Liêm tiếp tục học thêm bốn năm nữa về thần học và thầy được mọi người nhìn nhận là một sinh viên rất thông minh xuất sắc, đứng đầu trường. Chương trình bốn năm về thần học được kết thúc vào năm 1758, thầy Vinh Sơn Lê Quang Liêm được thụ phong linh mục ngay cuối năm học sau cùng.

Lãnh chức linh mục rồi. cha Vinh Sơn Lê Qang Liêm được lệnh bề trên chuẩn bị trở về quê hương thi hành mục vụ linh mục. Ngày 3 tháng 10 năm 1758, cha từ giã ban giáo sư và các bạn đồng trường trong tình thương mến tiếc. Bao kỷ niệm vui buồn trong suốt thời gian du học, giờ đây cha phải xếp lại để lên đường hồi hương..

Ngày 20 tháng 1 năm 1759 cha về tới Trung Linh, đến trình diện cha chính Espinoza Huy trong sự vui mừng, xúc động sau bao năm xa cách. Cha chính Huy cùng với nhiều người trong gia quyến, bạn bè làng xóm đã ra tận bến đò để đón vị linh mục trẻ trung du học trở về.

Sau ít ngày nghỉ ngơi, đi thăm hỏi họ hàng, bạn bè thân hữu, cha Vinh Sơn Liêm nhận được thư bổ nhiệm làm giáo sư chủng viên Trung Linh. Cha vâng lời nhận bài sai về phục vụ tại chủng viên Trung Linh. Với vai trò là giáo sư, người truyền đạt những kiến thức đã thu thập được cho các môn sinh, cha Vinh Sơn Liêm ý thức như thế cho nên cha đã đem hết tài trí thông minh và tận tụy lo soạn bài vở chu đáo để giảng dậy cho các chủng sinh. Các chủng sinh rất thích thú nge cha giảng dạy, vì học cha không chỉ học được những kiến thức của cha mà học được những nhân đức của cha nữa. Mặc dầu được các chủng sinh quí mến, ban giáo sư trọng nể, cha Vinh Sơn Liêm vẫn không thoải mãi trong cương vị này, cha hằng mơ ước được đi làm việc truyền giáo, loan báo Tin Mừng hoà bình cho những ngườI chưa nhận biết Chúa. Bề trên hiểu được nguyện vọng của cha nên chỉ trong vài năm sau, bề trên đã sai cha dấn thân vào cánh đồng truyền giáo mênh mông. Lúc đầu cha nhận đảm nhiệm các xứ Quất Lâm, Lục Thủy, Trung Lễ, Trung Linh, Trung Lao và từ khi cha Jacinto Gia bị bắt, cha kiêm nhiệm luôn cả vùng Lai Ổn nữa. Mặc dầu cha đảm nhiệm nhiều xứ với một địa dư rộng lớn như thế, nhưng cha không chỉ giới hạn việc tông đồ của cha trong những xứ đạo này mà cha còn mở rộng các sinh hoạt của cha đến những làng ngoại giáo trong vùng. Những khó ngăn nguy hiểm của thời cấm đạo, nhất là trong thời chúa Trịnh Sâm trong những năm 1767 đến 1782, đạo Chúa bị cấm cách rất gắt gao, nhưng cha vẫn hiên ngang xông xáo vào các vùng hẻo lánh để rao giảng đạo Chúa. Tới đâu, cha cũng sẵn sàng giúp đỡ, yêu thương mọi người nên cha đã dễ dàng chiếm được sự tin yêu qúi mến của mọi người. Cha thường khích lệ mọi người thêm can đảm đương đầu với cuộc sống. Cha an ủi những người gặp buồn sầu, khó khăn, bệnh nạn. Cha không hề nề quản vất vả khó nhọc vì phần rỗi các linh hồn và để chinh phục được nhiều người về cho Chúa. Công việc tông đồ của cha nói được là rất thành công. Nhưng bao giờ cha cũng khiêm tốn, coi những thành quả đó là do Chúa và của Chúa mà thôi. Cha thường nói với bạn hữu “mình chỉ là dụng cụ của Chúa dùng mà thôi, làm được gì tốt đều là Chúa làm. Không có Chúa, mình làm được gì?” Trong các thư cha gửi cho Đức Cha và các Bề trên, ngày nay ta còn đọc được những dòng chữ cha viết như sau: “Xin Đức Cha và các Bề trên cầu nguyện cùng Chúa cho con, khi dâng lễ và trong kinh nguyện, để mỗi ngày con được hoàn thiện hơn, biết vui lòng đón nhận những khốn khó theo ý Chúa

Một ông hoàng em thứ sáu của chúa Trịnh Doanh trước khi từ trần đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội nhờ công của các vị Thừa Sai và lờI cầu nguyện của cha Vinh Sơn Liêm. Cha đón nhận tin đó như niềm vui của Giáo Hội Việt Nam, và ngày 17 tháng 6 năm 1764 cha viết thư loan báo tin vui mừng này cho cha Pedro Yre cho Bề trên Giám tỉnh ở Manila và Đức Cha Bernado Vetaria.

Năm 1773, cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm đi giảng cho họ Lương Đống để chuẩn bị mừng lễ Đức mẹ Mân Côi. Giáo dân nghe tin cha tới giảng rủ nhau tớI nghe cha giảng đông như đi hội. Các quan biết tin, liền bí mật cho ông Điều Cam đi thăm dò đích xác nơi cha trú ngụ rồi cho kéo quân tới bắt. Ông Điều Cam thi hành lệnh các quan, ông cho ngườI đi thăm dò và biết chắc chắn cha ở nhà ông Nhiêu Nhuệ. Thế là ngày 2 tháng 10 năm 1773 các quan sai binh lính tớI vây nhà ông Nhiêu Nhuệ và bắt được cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm. Họ đánh cha một trận đòn chí tử rồI trói cha lạI vói hai chú giúp lễ tên là Matthêu Vũ và Giuse Bích rồi đem nộp cho chanh tổng Xích Bích. Viên chánh tổng giam cha 12 ngày, không thấy các tín hữu đem tiền đến chuộc. Đến ngày thứ 13 thì giải cha lên Phố Hiến nộp cho quan trấn để lấy tiền thưởng. Tới Phố Hiến, cha Vinh Sơn Liêm lạI có cơ may gặp được cha Castarieda Gia đã bị bắt và đang bị giam tạI đây. Hai môn đệ của Chúa cùng là người dòng Đa Minh vui mừng gặp nhau, tâm sự và khuyến khích nhau can đảm theo Chúa tớI cùng.

Giam hai cha một thời gian tại Phố Hiến , tới ngày 20 tháng 10 thì quan trấn bắt hai cha mong chiếc gông rất nặng có khắc bốn chữ “Hoa Lang Đạo Sư”, rồi  trao cho quan phủ Trần Khê giải cha và hai chú giúp lễ về kinh đô Thăng Long để ra mắt với chúa Trịnh Sâm.

Tại kinh đô Thăng Long lúc ấy có một quan lớn là chú của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, mẹ của quan lớn là bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương vốn là người đã theo đạo Thiên Chúa. Nhiều lần bà đã khuyên con theo đạo. Quan lớn liền nảy ra sáng kiến là triệu tập đại diện bốn tôn giáo để trình bày về đạo của mình. Quan nói: “Lòng ta yêu chuộng sự thật, muốn biết đạo nào là đạo chính để thờ phượng”. Thế là Hội Đồng Tứ Giáo ra đời! Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày. Mỗi ngày một vấn đề về nguồn gốc con người. Mục đích cuộc đời và đời sau của mỗi người sau khi chết. Cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm và cha Castarieda Gia đại diện cho đạo Thiên Chúa đã khôn khéo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi. Nhưng vì biết Phủ Chúa vẫn cấm đạo nên quan vẫn ngần ngại chưa dám theo. Sau đó ít bữa, hai cha lại có cơ hội tốt được nói chuyện với Thái Tôn mẹ của chúa Trịnh Sâm. Bà vì tò mò đã cho các ngài vào cung để trao đổi với hai cha về giáo lý đạo Thiên Chúa. Không có sách nào ghi lại nội dung buổi nói chuyện ra sao. Nhưng cuốu cùng Thái Tôn hỏi:

– Nếu chỉ có đạo các thầy là đạo thật thì những người không theo đạo ấy chết rồi đi đâu?

Cha Vinh Sơn Liêm đáp rõ ràng:

Bẩm bà, họ sẽ sa hoả ngục ạ!

Nghe nói thế, Thái Tôn Dương Hậu đùng đùng nổi giận. Bà dùng uy thế ép con là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm phải xử tử cả hai đạo trưởng này.

Vì lệnh của mẹ, ngày 4 tháng 11, Tĩnh Đô Vương phải lên án trảm quyết hai chiến sĩ Đức Tin này. Riêng hai chú giúp lễ bị kết án lưu đầy cho tới khi nộp đủ 100 quan tiền chuộc thì được tha cho về với gia đình.

Ngày 7 tháng 11 năm 1773 cha Castarieda Gia và cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm bị đem đi xử tại pháp trường Đồng Mơ ngoài thành Thăng Long. Nghe biết tin sẽ xử trảm quyết hai đạo trưởng, dân chúng cả luơng lẫn giáo đi xem rất đông. Khi đoàn người đông đảo dừng chân trước hoàng cung, một viên quan trịnh trọng đọc bản án. Sau khi nghe bản án, theo luật lệ thời đó thì mặc dù đã bị kết án nhưng vua có thể ân xá cho tội nhân. Do đó một viên quan khác lớn tiếng nói:

-“Hoa Lang Đạo đã bị nghiêm cấm. Nhưng cho tới nay chưa người dân Việt nào bị xử tử vì đạo này, nên vua đại xá cho tên Lê Quang Liêm”.

Nghe thế, cha Vinh Sơn Liêm vội lên tiếng thưa rằng:

– Cha Gia bị án trảm quyết vì lẽ gì thì cũng phải lên án trảm quyết cho tôi vì lẽ đó. Cha Gia là Đạo trưởng, tôi cũng là Đạo trưởng. Nếu luật nước không kết án tôi thì cũng không được kết án cha Gia. Vì tôi là công dân nước Việt, lẽ ra tôi phải giữ luật nước hơn ngài. Nhưng nếu giết cha Gia, còn tôi lại tha, án của nhà vua không công bằng. Yêu cầu tha thì tha cả hai, giết thì giết cả hai. Thế mới là án công bình”.

Những người chứng kiến rất đông đảo nghe cha Vinh Sơn Liêm nói thì vô cùng xúc động. Nhiều người nghĩ rằng có thể cha Vinh Sơn Liêm nói những lời phát xuất từ tình nghĩa huynh đệ, không muốn lìa xa người anh em của mình, cũng có thể là lời xin tha cho cha Gia vì thấy những người đứng chứng kiến đông đảo chung quanh đều tỏ lòng thương mến và muốn cho cả hai cha được tha. Tuy nhiên cũng có nhiều người nghĩ rẳng những lời lẽ trên của cha Vinh Sơn Liêm đó cũng có thể do lòng ao ước mong muốn dâng hiến chính mạng sống mình để làm chứng cho chân lý và Đức Tin của Ngài. Mọi người hồi hộp chờ đợi lời phán quyết của các quan.

Nhưng cuối cùng bản án vẫn không thay đổi! Hai vị anh hùng Đức Tin vẫn bình tĩnh, vui mừng nhìn đám đông như để cám ơn và chào tạm biệt. Trên đường tiến ra pgáp trường Dồng Mơ, hai cha đọc kinh Tin Kính, hát kinh Lạy Nữ Vương và sốt sắng cầu nguyện. Cổ vẫn mang gông nặng nề, tay chân vẫn mang xiềng xích, nhưng các ngài vẫn nhịp nhàng bước từng bước theo đoàn quan quân đông đảo đi thành hàng hai, hai bên. Nhiều người theo sau, cũng âm thầm bước những bước nặng nề, khó thở. Tới pháp trường hai cha quì gốc xuống đất, ngửa mặt lên trời hai hat chắo lại. Bọn lý hình được lệnh tháo xiềng xích, gông đề các ngài được thong dong đôi chút.

Những hồi chiếng trống nổi lên, lý hình vung gươm lên cao đợI tiếng chiếng trống cuối cùng thì chém một nhát, đầu rơi xuống đất, hai chứng tá Chúa Kitô hoàn tất sứ mạng nhân chứng của mình. Có những tiếng kêu la từ vòng ngoài vọng lạI:

– Trời đất ơi! Đầu hai vị thánh đã rơi xuống đất rồi. Xin các Ngài nhớ đến chúng tôi và cầu nguyện cho chúng tôi.

Nhiều người xông vào đòi thấm máu và xin những xiềng xích các Ngài đã mang. Các tín hữu xin thi thể các Ngài đem về an táng tại Trung Linh, Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn các Ngài lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1909. Nhiều người, nhiều trường học đã nhận thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm làm thánh Bổn Mạng, trong đó có trường Juan de Latran ở Phi Luật Tân cũng đã nhận Ngài làm thánh Bổn Mạng. Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm quả là ánh vinh quang của dân tộc Việt Nam chúng ta. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top