Ngày 1/10: Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su – Trinh nữ, Tiến sĩ Hội Thánh

Lễ kính

12551 Thánh Tê rê xa Hài Đồng Giêsu

I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Chị Têrêxa Hài Đồng Giêsu qua đời tại tu viện Carmel ở Lisieux, ngày 30 tháng 9 năm 1897, được phong thánh năm 1925; từ đó lễ kính thánh nữ được mừng vào ngày 1 tháng 10. Thánh nữ được chọn làm bổn mạng thứ hai của nước Pháp, cùng với thánh Jeanne d’Arc, và bổn mạng các xứ truyền giáo, cùng với thánh Phanxicô Xavie.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu tên thật là Marie Françoise Thérèse Martin, sinh tại Alençon (Normandie, Pháp) ngày 02 tháng 01 năm 1873, con gái út của một gia đình đã có bốn cô con gái. Ông Louis Martin, cha cô, là một thợ sửa đồng hồ đã nghỉ việc; bà Zélie Guérin, mẹ cô, gánh vác gia đình bằng việc trông coi một cửa hiệu đăng-ten. Bà qua đời khi Têrêxa chưa đầy năm tuổi. Ông Martin cùng năm cô con gái dời đến ở Lisieux; Têrêxa trở nên cô bé tính khí thất thường, bối rối và hay dằn vặt, lại được cha và các chị nuông chiều. Giáng sinh năm 1886, một cuộc “hoán cải” diễn ra nơi cô: những thái độ trẻ con và bối rối nơi cô biến mất; cô đạt được sự trưởng thành lúc mới 14 tuổi. Cô xin vào sống trong tu viện Carmel ở Lisieux, tại đây đã có hai chị gái của mình đã là nữ tu. Cô được nhận vào dòng năm 15 tuổi với tên gọi là Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh-Nhan (Thérèse de l’Enfant-Jésus et de la Sainte-Face). Têrêxa sống trong tu viện Carmel ở Lisieux được 9 năm, cho tới khi qua đời; tu viện này có 25 nữ tu, tất cả đều già hơn chị rất nhiều, trừ hai người. Kinh Thánh – đặc biệt sách Diễm Ca và các sách Tin Mừng – và các thi ca thần bí của thánh Gioan Thánh Giá nuôi dưỡng linh đạo của chị nữ tu trẻ bây giờ đã sớm đạt tới một mức thánh thiện rất cao. Năm 1893, chị Têrêxa được cử trông coi việc đào luyện các tập sinh, và năm 1894, mẹ Agnès yêu cầu chị viết hồi ký tuổi thơ của chị; một năm sau, tập hồi ký này được xuất bản cùng với các bài viết khác của chị trong cuốn Tiểu Sử Một Tâm Hồn. Tác phẩm này về sau được in ra hàng triệu bản, vạch cho toàn thế giới một phương pháp nên thánh đơn sơ nhưng anh hùng, “con đường nhỏ”, và góp phần biến Lisieux thành một nơi hành hương được cả thế giới công giáo biết đến.

II. Thông điệp và tính thời sự

Các bản văn phụng vụ diễn tả khoa linh đạo siêu vời của thánh nữ Têrêxa, bắt đầu bằng Ca Nhập lễ, lấy ý tưởng trong Đệ Nhị Luật (32, 10-12) . . . “Tựa chim bằng giương cánh đỡ con và cõng trên mình, duy một mình Thiên Chúa dẫn dắt dân.”

Lời nguyện trong ngày lấy ý tưởng trong Mt 11, 25, cầu xin Thiên Chúa – Đấng mở cửa Nước Trời “cho những người bé mọn”– cho chúng ta “biết theo chân thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, bước đi trên con đường phó thác”. Ngay từ 3 tuổi, Têrêxa đã hứa không bao giờ từ chối Chúa Giêsu điều gì; giờ đây con đường chị đi đã dẫn chị tới chỗ dâng hiến đời sống làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa tình thương, qua sự bỏ mình và phó thác hoàn toàn. Đó là “con đường nhỏ” mà thánh nữ nói đến trong Tiểu Sử Một Tâm Hồn: “Con là tạo vật hèn mọn nhất, con biết sự khốn nạn và yếu hèn của con, nhưng con cũng biết các tâm hồn cao quí và quảng đại yêu thích làm điều thiện biết bao. Vì vậy con nài xin Chúa, Đấng toàn phúc ở trên trời, xin nhận con làm con Chúa . . . Ôi Người Yêu của con, con nài xin Ngài ghé mắt đoái nhìn vô số những tâm hồn bé mọn; con nài xin Ngài thương chọn trong thế giới này một đạo binh những nạn nhân bé mọn đáng dược Ngài yêu thương.”

Điệp ca của bài Benedictus: “. . . hãy trở nên giống trẻ thơ” làm vang lên Tin Mừng của thánh lễ (Mt 18, 1-4): Thật, tôi bảo thật anh em: Nếu anh em không hoán cải và trở nên giống trẻ thơ . . . “Trẻ thơ” đối với thánh Têrêxa Lisieux là người “chấp nhận tất cả”, với thái độ vâng phục và phó thác của Người Đầy Tớ đau khổ (xem sách Isaia) không ngừng thưa lên: Này con đây ! Chương trình sống này đã có khi Têrêxa chọn tên mình lúc vào dòng Carmel: Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan. Đủ loại thử thách không ngừng giúp thanh luyện chị và dẫn chị tới mức độ thánh thiện ngày càng cao hơn. Đời sống hằng ngày trong tu viện, “cái lạnh chết người”, tình trạng khô khan thiêng liêng, những cám dỗ về đức tin, những cơn đau do xuất huyết phổi . . . “Hồi ấy con không hề nghĩ phải chịu đau khổ rất nhiều để đạt sự thánh thiện …”, chị viết trong Tiểu Sử Một Tâm Hồn (Thủ bản A). Tất cả điều này làm chứng một tâm hồn thanh tịnh và mạnh mẽ phi thường, hoàn toàn phó thác cho tác động của Thánh Thần và hoàn toàn dâng hiến cho Tình Yêu nhân từ của Chúa. “Ôi, con yêu Chúa … . lạy Chúa .. con yêu Chúa!” là những lời cuối cùng của chị.

Lời nguyện trên lễ vật gợi lên một khíab cạnh khác của hy tế thầm lặng trong “đời sống đơn sơ và can đảm” của thánh Têrêxa Lisieux. Chính vào lễ Chúa Ba Ngôi ngày 9 tháng 6 năm 1895, thánh nữ được Chúa soi sáng để hiến mình cho Tình Yêu nhân từ. Không lâu sau khi thực hiện cuộc dâng hiến này, khi bắt đầu con đường thánh giá, chị cảm thấy như có một “thương tích tình yêu” giống như hiện tượng in dấu thánh thần bí của thánh nữ Têrêxa Avila.

Têrêxa Lisieux ước muốn đón nhận và đáp lại tất cả các ơn gọi: “Con cảm thấy ơn gọi làm chiến binh, linh mục, tông đồ, bác sĩ, tử đạo”, với “ước muốn thực hiện mọi hành vi anh hùng nhất . . .” Thế rồi một ngày kia, khi đọc Thư 1 Côrintô, chị hiểu rằng “mọi ân điển hoàn hảo nhất cũng chẳng là gì nếu không có đức ái . . . Đức ái là con đường tuyệt hảo chắc chắn dẫn đến Thiên Chúa.” Sau cùng, đây là câu trả lời và là “sự yên nghỉ” đối với thánh Têrêxa: “Con hiểu rằng đức ái bao gồm mọi ơn gọi, đức ái là tất cả . . . Lúc đó, lòng tràn ngập niềm vui ngây ngất, con la lên: Ôi Giêsu, tình yêu của con . . . ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm ra, ơn gọi của con là tình yêu! Vâng, con đã tìm ra vị trí con trong Hội Thánh. Ôi lạy Chúa, chính Chúa ban ơn gọi này cho con . . . trong lòng Hội Thánh, Mẹ của con, con sẽ là tình yêu . . . như thế con sẽ là tất cả . . .” (Thư thánh Têrêxa viết cho chị Maria Thánh Tâm, trong Bài đọc Giờ Kinh Sách).

Lời nguyện hiệp lễ nhấn mạnh một tính cách đặc trưng khác của thánh Têrêxa, đó là niềm say mê “vì phần rỗi mọi người”. Sau khi qua cuộc kiểm tra theo giáo luật để tuyên khấn trong dòng (8 tháng 9 năm 1890), chị đã tuyên bố chị vào dòng Carmel để “cứu rỗi các linh hồn và nhất là để cầu nguyện cho các linh mục”. Năm 1895, chị được cử làm “chị linh hướng” cho một chủng sinh có ý hướng đi truyền giáo, thầy Bellière, và năm sau, thầy này có thêm một “anh linh hướng”, cha P. Roulland, thuộc Hội Truyền Giáo. Tháng 11 năm 1896, chị làm tuần chín ngày kính thánh tử đạo Théophane Vénard († 1861) để xin ơn được đi truyền giáo ở Đông Dương, nhưng không lâu sau chứng xuất huyết phổi của chị tái phát. Chị trút hơi thở cuối cùng ngày thứ năm 30 tháng 9, 1897, lúc 7 giờ 20 tối, sau một cơn hấp hối kéo dài hai ngày. Đức giáo hoàng Piô XI phong thánh cho chị này 17 tháng 5 năm 1925 tại Đại Thánh Đường Phêrô ở Rôma, và ngày 14 tháng 12 năm 1927, ngài công bố thánh nữ Têrêxa là bổn mạng tất cả các nhà truyền giáo, nam cũng như nữ, và của tất cả các xứ truyền giáo trên toàn thế giới. Ngày 3 tháng 5 năm 1944, Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố thánh Têrêxa là bổn mạng phụ của nước Pháp, ngang hàng với thánh nữ Jeanne d’Arc.

Enzo Lodi

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top