Ngày 08/11: Thánh Mac-ti-nô Tạ Đức Thịnh – Linh mục (1760-1840)

Làng Kẻ Sét thuộc quận Hai Bà Trưng, huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội, nằm bên đường số 1 cách Hà Nội khoảng 6 cây số. Từ Hà Nội về xuôi, ta trông thấy ở bên tay trái một nhà thờ to lớn với hai tháp vuông cao, sân trước nhà thờ dựng tượng Đức Mẹ Nữ Vương cao bằng người thật, đó là nhà thờ Kẻ Sét dâng kính Đức Mẹ Nữ Vương; hằng năm giáo hữu xứ Kẻ Sét sốt sắng mừng lễ chân phúc Mattinô Tạ Đức Thịnh.

Thư ký của Đức Cha Gia-cô-bê[1] (Gia)

Cha Mát-ti-nô Thịnh mở mắt chào đời năm 1760 ở làng Kẻ Sét, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Nội. Mẹ cha là bổn đạo mới. Cha có chín anh em, Cha là thứ tám. Khi Cha 18 tuổi cha mẹ định lo liệu cho Cha kết bạn và dân làng toan cắt Cha đi lính. Nhưng Cha đã từ chối rồi dâng mình vào nhà Đức Chúa Trời, chịu chức linh mục. Cha khôn ngoan thông thái nên được cử làm thư ký cho Đức Cha Gia-cô-bê. Khi vua Gia Long ra Hà Nội, Cha cùng với Đức Cha vào yết kiến vua. Khi vua Gia Long qua đời, con là thái tử Đảm lên ngôi lấy hiệu là Minh Mệnh, vua này cũng ra Hà Nội, Đức Cha Gia-cô-bê cử Cha thư ký đến xin yết kiến vua, nhưng vua ghét đạo nên không tiếp.

Cha xứ thẳng phép hay chăm sóc trẻ em

Cha được lần lượt cử coi các xứ Cửa Bạng, Đồng Chuối, rồi coi xứ Nam Sang 21 năm. Sau Cha coi xứ Trình Xuyên, khi mới về trình Xuyên Cha còn làm lễ và đi làm phúc các nơi, nhưng ít lâu sau Cha phải bệnh lở bên má, sau lan dần xuống cằm, máu mủ chảy ra, vết thương xông mùi thối tha hôi hám, Cha chỉ làm lễ, không đi làm phúc được. Thời ấy vua cấm đạo ngặt, Cha phải xuống Kẻ Báng ẩn ở nhà anh Chiền là cháu ông xã Cỏn, tám tháng sau Cha bị bắt, bấy giờ Cha đã 80 tuổi.

Cha đạo đức, sáng suốt, mực thước trong việc bổn phận, nhưng ở rất ngặt phép như các Cha thời trước. Khi làm phúc họ nào, Cha để ý dạy dỗ trẻ em cách riêng, Cha thường nói các em là nền móng của sự đạo sau này. Cha dạy các em thuộc kinh, bổn, giáo lý; em nào đã đến tuổi xưng tội chịu lễ mà kém quá không xưng tội được Cha gọi bố mẹ em đó đến quở trách và phạt không làm phép giải tội cho. Cha ăn chay và dạy giáo hữu ăn chay các ngày thứ sáu để kính sự thương khó Chúa. Cha hay đến thăm các người khô khan để khuyên bảo họ, Cha thường dặn các thày giảng, các ông trùm, giục họ đi nhà thờ đọc kinh, dự thánh lễ, nghe giảng. Họ đạo nào đường xá lầy lội, Cha không tiếc công tiếc của giúp giáo dân sửa đường. Cha đến làm phúc nơi nào mà người ta dọn cơm sang trọng, Cha không bằng lòng bảo: “Cha và các thày đi làm phúc, không phải để làm tốn tiền của chúng con”. Khi giải tội buổi tối, Cha cắt một người coi toà giải tội. Các thày các chú đi làm phúc với Cha, Cha bắt ngủ với Cha một nhà.

Cha rất nghiêm phép với những người nhà Đức Chúa Trời, ai sai lỗi phép nhà, Cha sửa phạt ngay. Đối với giáo dân Cha cũng ở thẳng nhặt như vậy.

Ông già mắc bệnh thối tha, lính lùng đạo trưởng phải tránh xa

Được tin mật báo làng Kẻ Báng có đạo trưởng, quan Trịnh Quang Khanh và quan phủ Thiện Bổn đem một nghìn quân và rất đông dân hàng Tổng đến vây làng Kẻ Báng trong ba ngày. Cha Thịnh ở nhà anh Chiền cháu ông xã Cỏn. Đến ngày thứ hai, độ chín giờ sáng lính bắt được đồ đạo và bắt được Cha Ngân và Cha Nghi. Còn Cha Thịnh nằm ở chõng nhà anh Chiền không chịu trốn. Lính tráng qua lại thấy lão già hôi thối đều tránh xa, không nghi ngờ. Đôi khi có người hỏi thì Cha giả điếc không thưa, chỉ có chị Thanh là chị dòng Mến Thánh Giá Kẻ Trình coi sóc Cha thưa thay rằng: “Ông lão này là bố tôi”. Lính thấy Cha hôi hám, bỏ đi ngay. Cha Thịnh dặn chị Thanh rằng: “Con nói với chúng thế nào tuỳ ý con, Cha sẽ làm ngơ, nếu Cha xưng là đạo trưởng sẽ phải bắt và dân làng đã chứa Cha phải khốn khổ”.

Ngày thứ ba quan ra lệnh cướp phá làng Kẻ Báng. Giữa cảnh hỗn loạn om sòm đó, Cha Thịnh vẫn nằm ở chõng, Cha cầu nguyện cho dân làng, nhưng khi biết Cha Nghi và Cha Ngân phải bắt rồi, Cha không muốn giấu mình là đạo trưởng nữa. Quá trưa ngày thứ ba, có một cai đội vào nhà anh Chiền hút thuốc, thấy lão già nằm đấy sinh nghi, hỏi: “Ông có phải là đạo trưởng không?” Cha Thịnh nói ngay: “Tôi là đạo trưởng”. Bấy giờ cai đội bắt lính khiêng Cha đến trước mặt quan. Quan thấy Cha tuổi tác và có bệnh xông mùi tha thối tha hôi hám thì bảo Cha: “Mày khóa quá đi”. Cha thưa: “Tôi không dám khóa quá”. Quan lại hỏi: “Mày có phải là đạo trưởng không?” Cha thưa: “Phải, chính tôi là đạo trưởng”. Quan dỗ dành: “Thôi, khóa quá đi, ta sẽ tha về ngay”. Cha thưa: “Tôi bằng này tuổi đầu mà lại khóa quá ư? Ai dại khóa quá thì mặc người ta, còn tôi, tôi chẳng dại đến nỗi ấy”. Quan truyền đóng gông Cha Thịnh giải về Nam Định cùng với Cha Nghi, Cha Ngân, ông Thọ, ông Cỏn, là hai chủ nhà chứa Cha Ngân và Cha Thịnh, hai mươi người làng Kẻ Báng, còn bao nhiêu đàn ông phải trói, quan tha hết, rồi kéo quân về tỉnh ngay tối hôm ấy.

Tuổi tác già nua nhưng không thua lòng dũng cảm

Cha Mát-ti-nô Tạ Đức Thịnh bị bắt ngày 1-5, Cha phải giam ở Trại Lá cũng gọi là trại quan Thượng Nam Định. Cha Thịnh mắc bệnh hôi hám phải giam riêng một nơi, tuy Cha già 80 tuổi mà ban ngày mang gông nặng, tối phải giam vào cũi cực khổ mọi đàng. Một tháng sau, ngày 1-6 quan mới đòi Cha lên công đường cùng với Cha Nghi và Cha Ngân, hôm ấy, chỉ hỏi qua loa mấy điều. Đến ngày 3-6, chính quan Trịnh Quang Khanh hỏi cung Cha. Cha Nghi thay mặt hai cha trả lời quan. Cha Thịnh không nói gì, nhưng sáng suốt minh mẫn, tỏ ra đồng ý với các lời Cha Nghi nói, Cha coi thường các hình khổ như lò than hồng, kìm kẹp quan bày ra trước mắt để doạ nạt. Tuy già cả bệnh tật quan cũng bắt Cha già hiệu một lần nửa ngày, một lần cả ngày. Lần khác quan truyền lính đánh Cha 60 roi, trong khi Cha Nghi và Cha Ngân chỉ phải 40 roi, quan tưởng Cha già ốm bị đòn nhiều sẽ ngã lòng khóa quá, nhưng Cha Thịnh phải bấy nhiêu roi không kêu một tiếng, lại tỏ vẻ mặt tươi vui hơn mọi khi. Cha phải đòn một lần, về sau quan thấy Cha tuổi tác thì tha không đánh, nhưng lần nào quan Trịnh Quang Khanh nói đến Cha cũng riếc mắng gọi Cha là thằng cụ thối tha gàn dở.

Không lung lạc được lòng tin sắt đá của Cha, các quan khép án Cha phải trảm quyết rồi đệ án vào kinh. Đến ngày 14-10, án từ kinh gửi ra Nam Định, vua châu phê y án. Cha biết tin vui mừng, xưng tội sốt sắng, chuẩn bị vào trận chiến cuối cùng.

Ngày 15-10 quan Giám sát cỡi voi cùng với 500 lính điệu Cha Nghi, Cha Ngân và Cha Thịnh ra pháp trường Bảy Mẫu. Cha Thịnh cầu nguyện một lúc rồi lính chém Cha, có lẽ Chúa muốn triều thiên Cha được vinh hiển hơn nên lính phải chém ba bốn nhát gươm đầu Cha mới rơi xuống. Linh hồn Cha bay về nơi vĩnh phúc đầy dư công nghiệp sau những chuỗi ngày dài chịu tử vì đạo âm thầm vì bệnh tật đau đớn và kết thúc bằng cuộc tử đạo đổ máu để làm chứng đức tin Kitô.

Xác và đầu Cha Mát-ti-nô Tạ Đức Thịnh, Thày Sự giao cho giáo hữu họ Vũ Điện đem về táng ở nhà thờ họ. Sau Cha Ích đem về làng Kẻ Sét, quê Cha.

Đức Thánh Cha Lê-ô XIII phong chân phúc cho Cha Mác-ti-nô Tạ Đức Thịnh ngày 27-5-1900. Ta phải sùng kính Cha cách riêng và trông cậy vào công nghiệp Cha cầu bầu cho ta trước mặt Chúa, xin cho ta can đảm giữ đạo và vui lòng chịu ốm đau bệnh tật Chúa gửi đến cho ta để đền tội ở đời này, sau được hưởng hạnh phúc vô cùng trên Nước Trời.

Cha Mát-ti-nô Tạ Đức Thịnh chịu tử đạo ngày 15-10 1840, thọ 80 tuổi, được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.  


[1] Jacques Longer

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top