Ngày 30/11: Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Thừa Sai (1803-1835)

Trải qua 300 năm cấm cách, Giáo Hội Việt Nam đã hiến dâng lên Thiên Chúa 100000 vị tử đạo, 117 vị đã được tôn phong lên bậc hiển thánh. Đấng tử đạo nào cũng đòi phải có lòng cam đảm đến bậc anh hùng, nhưng có lẽ không đấng nào chịu cực hình dã man, chịu cái chết ghê rợn như Cha Mác-săng, linh mục hội thừa sai Pa-ri Địa phận Đàng Trong. Một khuôn mặt hiền từ thảm thương nổi bật lên với đôi mắt lộ vẻ đau đớn dữ dằn luôn ngước lên trời van xin ơn sức mạnh, một thân xác tả tơi với 100 vết thương bị cắt xẻo trước khi phải chặt làm bốn mảnh, đầu bị nghiền nát ném xuống biển. Với con người, thật quá sức chịu đựng, nhưng ơn thánh đã đạt được kết quả rực rỡ nơi môn đệ trung kiên của Chúa Ki-tô với Đức Tin sắt đá mà không cực hình nào ở trần gian có thể lay chuyển được.

Bền vững theo tiếng gọi truyền giáo

Cậu Giu-se Mác-săng sinh ngày 17-8-1803 ở Pát-sa-văng (Passavant) thuộc hạt Đúp (Doubs) nước Pháp, trong một gia đình nông dân nghèo. Từ bé các nghi lễ phụng vụ đã hấp dẫn cậu, cậu thường tụ tập các bạn bày bàn thờ trang trí hoa nến rồi bắt chước làm các nghi lễ thánh. Sau khi rước lễ lần đầu, tiếng gọi truyền giáo bắt đầu chớm nở trong tâm hồn cậu. Cậu xin cha mẹ dâng mình cho Chúa. Nhưng cha mẹ cậu từ chối vì nhà nghèo không đủ tiền để cậu theo học chủng viện, hơn nữa gia đình lại cần cậu giúp đỡ. Đến năm 18 tuổi, cậu vẫn còn giữ ý nguyện ấy, cha mẹ không dám ngăn cản nữa. Cậu Mác-săng vào chủng viện Bơ-săng-xông (Besançon) và năm 1826, thày phó tế Mác-săng vào đại chủng viện Hội Truyền Giáo Pari. Năm tháng sau chịu chức linh mục và được cử sang truyền giáo ở Việt Nam.

Quyết tâm ở lại chiến trường

Đầu tháng 3-1830, Cha Mác-săng đặt chân tới địa phận Đàng Trong, ở đây đang bao trùm bầu khí nặng nề với sắc chỉ của vua Minh Mệnh cấm các giáo sĩ ngoại quốc nhập cảnh. Để sống hoà mình với dân Việt, từ đây cha mang một tên Việt gọi là cố Du, Cha bắt đầu học tiếng Việt ở chủng viện Lái Thiêu và học các phong tục địa phương. Sau mấy tháng Cha được cử đi Nông Pênh coi sóc các giáo hữu Việt kiều ở Cao Mên. Ít lâu sau Cha về dạy chủng viện Lái Thiêu và trông coi mấy xứ chung quanh. Kỳ này đang xảy ra vụ án Cha Giắc-ca (Phan) và họ Dương Sơn với dân làng Cổ Lão báo hiệu cơn giông tố sắp xảy đến cho các thừa sai. Cha Du gặp một dịp may có thể thoát khỏi, Đức Cha Ta-be (Từ) cử Cha về làm giám đốc đại chủng viện Hội Thừa sai Pa-ri, nhưng Cha từ chối vinh dự này, quyết ở lại chiến trường của tông đồ truyền giáo.

Nhà truyền giáo có trái tim lửa

Thay vì cuộc sống bình an, Cha Mác-săng được cử coi hạt Bình Thuận. Trong một bức thư viết về cho Cha xứ ở quê nhà, Cha đã bộc lộ một tâm hồn nóng nảy luôn tận tụy lo lắng kéo nhiều chiên lạc về cùng Thiên Chúa. Tạ hãy nghe Cha tâm sự: “Khu vực truyền giáo của con có hơn bảy nghìn giáo dân rải rác trong 25 xứ ở cách xa nhau. Muốn chu toàn bổn phận đầy đủ như lòng con ước nguyện, con phải lợi dụng mọi giây phút, từ 5 giờ sáng đến 9, 10 giờ đêm, không lúc nào rỗi rãi. Con chỉ dành được chút thời giờ lo phần rỗi linh hồn mình, còn luôn luôn phải làm việc thánh hoá kẻ khác. Nhưng xét cho cùng, đó là mục đích của đời con, con đã chấp nhận bao nhiêu hy sinh để đến đất nước này và ở đây con đã thực hiện được lòng mong ước của con, con thật có phúc, con chỉ phàn nàn là không thể tận tuy hơn được nữa để giúp các linh hồn, con không thể đến mọi nơi để rao giảng Nước Chúa cho lương dân vì con thường phải đi bằng thuyền”.

Nhà truyền giáo có trái tim lửa này mới rảo qua khu vực của mình được hai lần thì phong ba nổi dậy. Ngày 6-1-1838, vua Minh Mệnh ra sắc truy nã các giáo sĩ ngoại quốc. Cha Mác-săng phải bỏ Bình Thuận, sống lén lút ở vùng Lục Tỉnh qua các họ Cái Nhum, Cái Mơn, Bèn San, Giồng Rum, Mặc Bắc, sau cùng sợ giáo dân phải liên lụy, Cha trốn ẩn trong rừng.

Từ rừng Mặc Bắc đến thành Phiên An (Sài Gòn)

Đêm ngày 18-5, năm vua Minh Mệnh thứ 14 (1833), Phó Vệ Úy Lê Văn Khôi ở Gia Định nổi lên chống triều đình, đột nhập thành Phiên An, giết quan Bố chánh Bạch Xuân Nguyên và Tổng Đốc Nguyễn Văn Quế, chiếm giữ thành, tấn công chiếm hai tỉnh Biên Hoà và Định Tường, ba ngày sau chiếm nốt các tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long.

Ông Lê Văn Khôi muốn lợi dụng các giáo sĩ để gây thanh thế cho mình, sau khi dò la biết Cha Mác-săng đang trốn ở rừng Mặc Bắc, ông sai lính đến, ra lệnh Cha phải trở về Chợ Quán, rồi cho voi đến đón Cha đưa vào thành Phiên An. Ở đây, ông Khôi xin Cha ký các giấy tờ ông đã thảo sẵn gửi cho các xứ họ, kêu gọi giáo dân ủng hộ ông. Cha nhất định từ chối, ông Khôi cố nài, Cha cầm hết giấy tờ ném vào lửa. Ông tức giận, nhưng chưa làm hại được Cha vì ông chết ngay sau đó, khoảng đầu năm 1834. Cha phải giam lỏng trong thành 18 tháng, đọc kinh nguyện ngắm và giúp một số ít giáo dân trong thành. Hai năm sau, ngày 8-9-1835, thành thất thủ sau một thời gian dài bị vậy hãm, lính triều đình kéo quân vào tàn sát 1994 người dân thành trong đó chỉ có 66 giáo dân mà 40 người là đàn bà, trẻ em. Cha vừa dâng Thánh Lễ xong thì bị bắt, phải đánh đập và nhốt vào cũi. Cha bị liệt vào hàng đầu sỏ cùng với 5 người theo Lê Văn Khôi.

Ta hãy nghe cuộc đối đáp giữa quan Án và Cha Mác-săng trong phiên tòa đầu tiên theo các nhân chứng trong cuộc điều tra phong chân phúc. Quan hỏi:

– Ông đến xứ này từ bao giờ?

– Tôi đến đã lâu.

– Đến làm gì ?

– Tôi đến giảng đạo Thiên Chúa.

– Đến giảng đạo sao lại ở trong thành giặc?

– Họ bắt tôi về Chợ quán rồi đưa vào thành.

– Ông đã làm gì giúp giặc?

– Tôi chỉ lo việc giảng đạo.

– Ông có vợ con không?

– Không, tôi khấn ở độc thân.

– Giặc đưa ông vào thành, ông lại không giúp chúng ư?

– Tôi chỉ lo giảng đạo.

– Giảng đạo là thế nào?

– Là đọc kinh, dâng lễ, dạy giáo lý cho bổn đạo.

– Ông có biết làm bùa để dụ dỗ quân giặc không?

– Tôi chỉ lo việc giảng đạo:

Cha còn bị hỏi cung một lần nữa, rồi bị giải về Huế cùng với 5 người đứng đầu cuộc khởi loạn.

Kìm chín

Tới Huế ngày 15-8-1835, Cha bị giam trong ngục Võ Loan, gần tòa Tam Pháp. Hôm sau Cha phải ra tòa ngay.

Các quan cố ép Cha nhận tội theo giặc, Cha cương quyết không nhận, còn sự có mặt ở trong thành Thiên An là do giặc bắt đưa vào và Cha đưa đầy đủ bằng cớ để chứng minh.

Các quan truyền lính tra tấn Cha bằng kìm nung đỏ. Một tên lính lấy kìm kẹp vào đùi trái của Cha, mùi thịt khét bốc lên, lính phải quay mặt đi để thở. Cha ngước mắt lên trời, kêu lên một tiếng rồi bất tỉnh. Nửa giờ sau, kẹp đùi bên phải, Cha lại ngất lịm. Quan truyền để Cha vào cũi khiêng về ngục.

Các quan cố tạo ra chứng gian để khép tội phản loạn, họ dụ dỗ đứa con 7 tuổi của ông Lê Văn Khôi cùng bị bắt trong nhóm này, hứa sẽ tha nó nếu nó khai ‘ông tây kia đã giúp Cha nó làm loạn. Nhưng các quan thất bại, đứa bé thành thật nói: Cha không dính líu gì đến việc này và nó còn kể thêm bố nó đã hứa hẹn nhiều điều để dụ dỗ Cha nhưng vô hiệu.

Gán ghép tội phiến loạn không xong, các quan xoay sang tội giảng đạo. Quan án bảo Cha: “Ông chối không nhận tham gia vào việc làm loạn chống lại triều đình, ta sẽ xếp việc đó sang một bên. Vậy ông đã nhận đến đây giảng đạo dù ông biết rõ vua đã cấm. Ông sẽ phải trừng phạt nghiêm khắc vì tội ấy, nhưng ông còn có thể cứu vãn nổi nếu ông bỏ đạo và đạp ảnh”. Cha cương quyết từ chối và thà chịu mọi thứ cực hình còn hơn bỏ Chúa”.

Sau đó Cha Du lại phải giam ở trại Võ Loan, bị nhốt trong cũi có lính canh đêm ngày rất ngặt, nhưng ông đề lao cho phép ai muốn vào thăm cũng được. Có nhiều người mang thức đến biếu Cha, họ thấy lúc nào Cha cũng vui vẻ và thường đọc sách luôn. Cha phải giam hơn sáu tuần các quan mới làm án. Bản án vẫn nêu tội làm loạn và vu cáo thêm cả việc viết thư cầu viện với Xiêm và Hồng Mao cho ngụy Lê Văn Khôi.

Bản án viết: “Tây dương đạo trưởng Mác-săng, quen gọi là Du, giảng đạo Gia-tô; theo ngụy Khôi, thú nhận đã viết thư cầu viện người Hồng Mao và Xiêm đến giúp quân Ngụy. Truyền xử bá đạo”.

Dù thế cũng không thể che giấu nổi lý do đích thực của bản án và lý do ấy được chứng minh rõ ràng trong cuộc tra tấn sau cùng.

Chỉ vì danh Chúa Ki-tô

Hồi 5 giờ sáng ngày 30-11-1835, 7 tiếng súng thần công phá tan cảnh tĩnh mịch của kinh thành Huế, đánh thức dân chúng và gọi họ đi xem xử vụ án mà triều đình cố mặc cho vẻ quan trọng nhất để rửa mối hận thù mất thành Phiên An hai năm. Cha Mác-săng cùng với bốn người bỉ xử (một người đã chết trong ngục) được ra khỏi cũi và phải giải về Hoàng Cung. Vua Minh Mệnh và triều đình đang chờ sẵn như để đích thân xử vụ án mà họ cho là vụ án phản quốc lớn. Hai sĩ quan kéo Cha Mác-săng đến trước mặt vua và bắt lạy năm lạy. Vua Minh Mệnh ném một lá cờ nhỏ xuống đất, đó là hiệu lệnh lên đường. Cha và bốn người phải dẫn vào công đường. Trong khi bốn người kia được nghỉ ngơi chờ giờ hành quyết thì một mình Cha Mác-săng còn bị tra tấn bằng kìm nung đỏ trước khi chịu án bá đạo.

Quan hỏi: “Tại sao trong đạo Gia-tô các ông lại móc mắt người chết?” Cha Mác-săng bình tĩnh đáp: “Đó là điều bịa đặt, không bao giờ có”.

Năm người lính cầm kìm nung đỏ chờ sẵn kẹp vào đùi Cha cho đến khi kìm nguội mới thôi. Trong khi chờ kìm đỏ để tra tấn lần thứ hai, quan lại hỏi: “Tại sao vợ chồng mới cưới phải đến trước mặt các ông?” Cha cố thu hết tàn lực đáp: “Để đạo trưởng chứng nhận và chúc phúc cho họ trước mặt toàn thể giáo dân”.

Rồi lại qua đợt tra tấn thứ ba. Quan hỏi: “Trong khi ăn uống tiệc tùng, người có đạo dã làm phù phép gì?”

– Chúng tôi không làm phù phép gì.

– Vậy tại sao các ông lại cho người xưng tội ăn bánh gì, để họ tin đạo thế.

Cha không còn hơi sức để trả lời. Các quan sợ Cha chết trước khi tới pháp trường nên thôi không tra tấn nữa. Chúa quan phòng cũng là Chúa sự thật đã cho phép xảy ra cuộc tra tấn này để cải chính bản án bịa đặt trên kia. Chính những người trực tiếp theo Lê Văn Khôi chống lại triều đình không phải chịu cuộc tra tấn cuối cùng, chỉ mình Cha phải chịu tra khảo mà chỉ tra khảo nguyên về vấn đề tôn giáo và một kết luận rõ ràng xác thực được đặt ra là Cha đã phải chết vì danh Chúa Ki-tô.

Xử bá đao

Để khủng bố dọa nạt tinh thần giáo dân, họ đạo Thợ Đúc, ở ngoại ô Huế được chỉ định làm pháp trường xử Cha. Ở đây, Cha Du phải trói chặt vào hình Thập Giá vây quanh Cha có bốn người: Một người cầm kim, một người cầm dao, người thứ ba ghi các vết thương, người thứ tư ghi con số.

Một hiệu lệnh nặng nề được ban hành, người lính cầm dao cắt da trán kéo xuống che lấp hai con mắt, rồi cứ sau một tiếng cồng họ lấy kìm kéo thịt, rồi lấy dao cắt thịt từ ngực cho đến bàn chân Cha cho đủ một trăm vết thương rùng rợn của bản án “bá đao. Như Chúa Giêsu trên Thánh giá, cha tuy bị trói chặt nhưng sau mỗi tiếng cồng, Cha không khỏi run rẩy và quằn quại, nhưng mặt Cha vẫn hướng về trời xin ơn hộ giúp, chờ đợi giây phút ca khúc khải hoàn. Cha không còn đủ sức để chịu nổi đủ trăm mảnh như bản án, vì ít giờ trước đây thân xác Cha đã tả tơi đầy những vết thương do kìm nung đỏ gây ra; khi lính cắt được khoảng chục miếng, vị tử đạo của Chúa gục đầu xuống và linh hồn đã được rửa bằng máu bay thẳng về trời lĩnh triều thiện chiến thắng. Cuối cùng Cha bị chặt đầu, thi thể phải xẻ ra làm bốn quăng xuống biển, đầu phải đem bêu ở mấy cửa thành lớn, sau đưa về kinh đô, nghiền nát đổ xuống biển.

Đến đây kết thúc cuộc tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử bách hại tôn giáo ở Việt Nam. Sau khi Hội Thánh đã tra xét cách kỹ lưỡng cẩn thận, ngày 27-5-1900, Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho Cha.

Cha Giu-se Mác-săng chịu tử đạo ngày 30-11-1835, đúng ngày lễ thánh An-rê tông đồ, hôm ấy trong các thánh lễ vang lên lời tiên tri I-sa-i-a rằng: “Đẹp thay bước chân những người đi rao giảng tin lành”.

Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã tôn phong Cha Giu-se Mác-săng lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top