Ngày 14/12: Thánh Gio-an Thánh Giá – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Lễ nhớ buộc

12907 St. Gioan thanh gia

I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Gioan Thánh Giá qua đời ngày 14 tháng 12 năm 1591, được phong chân phước năm 1675 và phong thánh năm 1726. Ngài được Đức Giáo Hoàng Piô XI tuyên phong tiến sĩ Hội Thánh năm 1926.

Thánh Gioan Thánh Giá tên thật là Juan de Yepes, sinh năm 1542 tại Fontiveros, miền Cổ-Castille (Tây Ban Nha), là con thứ ba của một gia đình quí tộc nghèo. Mẹ ngài là bà Catalina, người Do Thái, và cha ngài là ông Gonzales de Yepes, thuộc dòng dõi quí tộc.

Mồ côi cha từ năm lên 10, Juan học nghề dệt với mẹ, sau đó đi làm nghề săn sóc bệnh nhân ở Medina del Campo. Từ năm 1559 đến 1563, ngài học ở trường trung học của các cha Dòng Tên ở Medina, và năm 1563, khi 21 tuổi, ngài vào Dòng Carmel với tên gọi Gioan Thánh Máthias. Từ 1564 đến 1567, ngài theo học ở đại học Salamanque, là đại học quan trọng nhất của thế giới Kitô giáo thời bấy giờ. Ngài học Kinh Thánh, các Giáo Phụ và thần học kinh viện. Sau khi thụ phong linh mục (1567), ngài gặp Têrêxa Avila và cộng tác với thánh nữ trong việc cải cách dòng Carmel cho tới khi thánh nữ Têrêxa Avila qua đời năm 1582. Được thánh nữ dẫn đưa vào việc canh tân theo ý muốn của thánh nữ cho các nữ tu cũng như các thầy dòng, Thầy Gioan, từ đây gọi là Gioan Thánh Giá, lên đường đi Duruelo, tại đây khai sinh một cộng đoàn mới của các tu sĩ Carmel cải cách (sau này cũng gọi là các tu sĩ Carmel nguyên thuỷ, các tu sĩ không mang giày), khấn hứa tuân giữ luật dòng nguyên thuỷ. Đây là một sự trở về nguồn: suy niệm Kinh Thánh, cầu nguyện chiêm niệm, giữ thinh lặng, sống bác ái và phục vụ Giáo Hội. . .

Từ năm 1569 đến 1572, Gioan Thánh Giá dấn thân cho việc đào tạo các tu sĩ Carmel cải cách, và năm 1571, ngài theo thánh nữ Têrêxa đi lập nhà dòng Alba ở Torme. Từ 1572 đến 1577, ngài làm tuyên uý và cha giải tội cho tu viện Nhập Thể ở Avila, nơi thánh Têrêxa được chọn làm tu viện trưởng. Nhưng Dòng Carmel – phái theo luật rộng – âm mưu quyết liệt chống lại thánh Gioan Thánh Giá và các tu sĩ cải cách. Đêm ngày 2 tháng 12 năm 1577, Gioan bị cưỡng bức ra khỏi tu viện Nhập thể và bị nhốt vào xà lim trong tu viện của phái theo luật rộng ở Toledo.

Bị coi như kẻ phản loạn, bị nhục mạ và đánh đập, Thầy Gioan vẫn giữ được sự thanh thản tâm hồn và đã sáng tác những vần thơ thần bí có bề sâu và vẻ đẹp hiếm có: “Người Yêu tôi, Người ẩn ở đâu ?/ Nếu các bạn may phước gặp được Người / Người mà hồn tôi yêu mến / Hãy nói với Người rằng tôi đau khổ và hao mòn, rằng tôi đang chết. . .  “ Nhưng 9 tháng sau (tháng 8 năm 1578), Thầy Gioan trốn thoát được và hay tin cuộc cải cách đã được chấp nhận. Thực vậy, năm 1580, Đức giáo hoàng Grégoire XIII đã thiết lập các tu sĩ không mang giày thành một Tỉnh Dòng độc lập.

Từ 1578 đến 1588, Thầy Gioan làm bề trên ở Andalousie, tu viện phó của tu viện Calvario ở miền nam Tây Ban Nha, giám đốc trường đại học ở Baeza và năm 1581, ngài dự Tổng tu nghị ở Alcala, tại tu nghị này, các tu sĩ cải cách được thiết lập thành một tỉnh riêng, sau đó ngài trở về Avila (tháng 11, 1581), tại đây ngài được gặp Mẹ Têrêxa Avila lần cuối, vì ngày 4 tháng 10 năm 1582, Mẹ Têrêxa qua đời.

Từ 1588 đến 1591, Thầy Gioan Thánh Giá được bổ nhiệm làm thành viên Ban Tham Vấn, thuộc tòa án trọng tài trông coi việc thi hành cuộc cải cách, nhưng Tổng tu nghị Madrid (1591) không giao phó trách nhiệm nào cho ngài. Từ đó ngài bị gạt ra ngoài ngay trong nội bộ công cuộc cải cách mà ngài là người phát động. Ngài bị chính những người trong dòng bỏ rơi, thậm chí bị bách hại, vu khống. Từ Madrid, ngày 6 tháng 7 năm 1591, ngài viết cho Mẹ Marie Nhập thể, tu viện trưởng của các tu sĩ Carmel không mang giày ở Segovia: “Con không cần phải buồn vì những điều xảy đến cho cha, vì nó cũng chẳng gây đau buồn gì cho cha cả… con không cần nghĩ ngợi về điều gì khác, ngoài điều chính yếu này: chính Thiên Chúa sắp đặt mọi sự. Ở đâu không có tình yêu, con hãy mang tình yêu đến đó, và con sẽ đón nhận được tình yêu.” Ngày 10 tháng 8, ngài lui về ẩn dật trong cảnh cô tịch tại Penuela, và bị bệnh sốt kéo dài cho tới cuối đời. Người ta đưa ngài đến tu viện Ubeda để chữa trị, ngài tỏ ra kiệt lực, đau đớn nơi thể xác và tinh thần, nhưng luôn tràn đầy tình thương và an bình. Đêm 13 rạng 14 tháng 12, Thầy Gioan Thánh Giá qua đời thọ 49 tuổi. Ngài xin người ta đọc cho ngài sách Diễm Ca, rồi tắt thở với cây thánh giá trong tay, miệng thì thầm:

 “Trong tay Ngài, con phó thác linh hồn con.”

Thế là lời ước mà ngài diễn tả trong các bài thơ của ngài được thể hiện: “Ôi lửa tình yêu, lửa bừng cháy, /. . . Hoàn tất đi, nếu người muốn; / Cắt đứt đi đợt tấn công dịu dàng này!” (bài thơ Ngọn lửa bừng cháy). “Ôi đêm tối, ta thích mi hơn là bình minh ! / Ôi đêm tối có sức kết hợp / Người Yêu với người được yêu, / biến đổi người được yêu thành Người Yêu! / . . . Mặt cúi xuống trên Người, / tất cả tan biến hết, tôi trao hiến cho Người” (bài thơ Đêm Tối).

Sản phẩm văn chương của thánh Gioan Thánh Giá gồm những bài thơ và những khảo luận thần bí.

Các bài thơ phần lớn được Thầy Gioan sáng tác trong tù ở Toledo, diễn tả hành trình kinh nghiệm thần bí của ngài, trong đó ngài ca ngợi sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa bằng văn phong trữ tình siêu phàm. Những bài thơ này làm ngài trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Thế Kỷ vàng của Tây Ban Nha. Hãy nhớ lại câu thơ: “Giữa đêm tối, hỡi người yêu, Người ẩn nấp ở đâu ? Ôi lửa tình yêu, lửa bừng cháy!

Những tác phẩm thần bí lớn của thánh Gioan Thánh Giá chỉ là những bình luận về các bài thơ của ngài. Cả hai tác phẩm Lên Núi Carmel Đêm Tối đều bình luận về cùng một bài thơ: Giữa màn đêm tối. Quyển Ca Khúc Thiêng Liêng cắt nghĩa bài thơ: Hỡi người yêu, người ẩn nấp ở đâu? Và cuối cùng, cuốn Ngọn Lửa Tình Yêu Bừng Cháy bình luận bốn đoạn thơ của bài Ôi lửa tình yêu, lửa bừng cháy, “Bài ca của linh hồn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa”.

Nhờ những khảo luận tột đỉnh này của kho văn chương Kitô giáo, thánh Gioan Thánh Giá được coi là vị “Tiến sĩ thần bí” tuyệt hảo.

II. Thông điệp và tính thời sự  

Các lời nguyện của phụng vụ nhấn mạnh một đề tài trọng tâm của đời sống và của linh đạo thánh Gioan Thánh Giá: “lòng yêu mến thánh giá” (Lời Nguyện đầu lễ); “những mầu nhiệm cuộc khổ nạn đấng Cứu Thế” (Lời Nguyện trên lễ vật) và “mầu nhiệm thánh giá” (sau Hiệp lễ). Lời Nguyện đầu lễ cũng nhấn mạnh một khía cạnh đặc biệt của lòng yêu mến thánh giá: “sự bỏ mình hoàn toàn”.

– Chúng ta đọc trong quyển Lên Núi Carmel: “Để tâm hồn tới được sự biến đổi siêu nhiên, rõ ràng nó phải đi vào bóng tối (của đức tin) và gạt bỏ tất cả những gì thuộc bản tính cảm giác và lý trí của nó” (ch. IV, 2). Về tình yêu thập giá, vị Tiến sĩ thần bí diễn giải học thuyết của mình như sau trong cuốn Ca khúc Thiêng liêng (36, 35): “Tâm hồn nào thực sự khao khát khôn ngoan thì cũng thực sự khao khát đi vào sâu hơn nữa trong chiều sâu của thập giá, là đường sự sống; nhưng ít người vào được chỗ này. Mọi người đều muốn vào trong chiều sâu của sự khôn ngoan, sự giàu có và hoan lạc của Thiên Chúa, nhưng ít người muốn vào trong chiều sâu của đau khổ và những đớn đau mà Con Thiên Chúa đã phải chịu: có thể nói nhiều người muốn đạt tới đích mà không phải sử dụng con đường và phương tiện dẫn tới đó.”

– Lời Nguyện sau hiệp lễ kết thúc bằng lời cầu xin Chúa ban cho chúng ta “luôn luôn sống kết hợp với Đức Kitô, và hoạt động trong Hội Thánh vì phần rỗi anh chị em chúng ta.”

Về sự kết hợp thần linh hay kết hợp với Đức Kitô, thánh Gioan Thánh Giá giải thích ý tưởng ngài như sau: “Trạng thái kết hợp thần linh của linh hồn hệ tại sự biến đổi hoàn toàn ý riêng mình thành ý Chúa, sao cho trong ý riêng của mình không còn điều gì chống lại ý Chúa, nhưng mọi động cơ thúc đẩy ý muốn con người phải hoàn toàn và tuyệt đối là ý Chúa.” (Lên Núi Carmel I, II, 2). “Bởi đó linh hồn này được thanh tẩy, an bình, kiện cường, quân bình, khiến cho nó có thể tràn đầy sự kết hợp này một cách ổn định, mà sự kết hợp này không là gì khác hơn là cuộc hôn nhân giữa linh hồn với Con Thiên Chúa” (Đêm Tối 2, 24, 3). Sự lột xác tuyệt đối này vì thế là một phương tiện cần thiết để đạt tới tình trạng chiêm niệm, đạt tới sự kết hợp cá nhân với Chúa Kitô, Lang Quân của linh hồn. “Nhưng người ta không thể đạt một sự kết hợp như thế nếu không có một sự thanh tịnh to lớn, và sự thanh tịnh này chỉ có được khi có sự cởi bỏ mọi tạo vật và sự hãm mình sống động” (Đêm Tối 2, 24, 4). Điều này được thực hiện trong đức tin (đêm tối), là yếu tố đóng vai trò hàng đầu, nhưng tình yêu là động năng cơ bản và là mục tiêu của hành trình thần bí này.

Về việc cứu rỗi anh chị em mình, thánh Tiến sĩ thích trích dẫn câu của thánh Denis l’Aréopagite: “Công trình thần linh nhất trong các công trình thần linh chính là cộng tác với Thiên Chúa vì phần rỗi các linh hồn.” Và ngài cũng nói: “Lòng thương xót đối với tha nhân tăng trưởng trong linh hồn tỷ lệ với mức độ kết hợp bằng tình yêu của linh hồn với Thiên Chúa. Linh hồn càng yêu mến, nó càng ao ước cho Thiên Chúa được mọi người yêu mến và kính thờ; và lòng ao ước này càng nồng cháy, linh hồn càng làm hết sức mình vì mục đích này, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng những việc làm trong khả năng của mình.”

Enzo Lodi

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top