Ngày 6/12: Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy Giảng (1832-1861)

Thày Giu-se Nguyễn Duy Khang sinh năm 1832 ở làng Cao Mai, xã Trà Vi, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cha cậu Khang mất sớm, mẹ cậu là một phụ có một lòng đạo đức sâu xa, một đức tin sống động, tính tình cương nghị bất khuất, bà đã đào tạo con thành một người dũng cảm tận tụy.

Năm 13 tuổi cậu dâng mình vào Nhà Đức Chúa Trời và được Cha già Năng dòng Thánh Đa-minh coi sóc.

Đàn ong vỡ tổ

Sau mười năm sống cạnh Cha già thánh thiện, chú Khang không bao giờ sao nhãng việc tu thân tích đức. Chú được mặc áo dòng Thánh Đa-minh và được nhận vào chủng viện Kẻ Mốt để chuẩn bị tiến dần lên chức linh mục.

Nhưng cơn bách hại nổi lên phá tan mộng đẹp của người thanh niên 29 tuổi. Ngày 5-8-1861, vua Tự Đức công bố sắc chỉ phân sáp giáo dân vào các làng lương dân. Cùng chung số phận với bổn đạo, Chủng viện Kẻ Mốt phải giải tán.

Tối ngày 14-8-1861, Cha Khoa, đại diện Đức Cha Giê-tôm Héc-mô-di-la[1] (Liêm) đến giải tán trường và từ giã các học sinh như sau: “Đức Cha dạy tôi đến nói với anh em rằng: từ trước đến giờ phút này, người cố gắng bảo vệ trường để duy trì ơn kêu gọi, đào tạo các linh mục tương lai của địa phận, nhưng bây giờ tình thế bó buộc phải giải tán. Đức Cha dạy ai biết đầu thì đi đấy, cố gắng giữ phép tắc nết na chờ ngày trở về. Nếu Đức Cha có sẵn tiền, người cũng phát cho anh em mỗi người một ít để lấy tiền đi đường, nhưng lúc này người không còn đồng nào, người xin anh em cứ ra đi phó thác mọi sự cho Chúa, sau này nếu Cha con còn sống sẽ gặp lại nhau. Người cũng dặn tôi nói với anh em rằng: đừng ai lên chào người vì người sợ đau đớn quá mà không cầm được nước mắt.

Thày Giu-se Khang và các bạn bùi ngùi cảm động buồn sầu. Sáng sớm hôm sau Chủng viện phải phá bình địa theo lệnh vua. Học sinh trốn đi như đàn ong vỡ tổ, đau khổ đến dồn dập làm con tim mọi người héo hắt.

Hai cha con như hình với bóng

Ngay đêm hôm chia tay với học sinh Chủng viện, Đức Cha Héc-mô-di-la trốn khỏi làng Kẻ Mốt đến ẩn ở làng Thọ Ninh. Thày Khang được đi theo Đức Cha, thày từ giã các bạn rằng: “Anh em ở lại, tôi nhất định theo Đức Cha. Các quan bắt Đức Cha thì cũng chẳng tha tôi, Đức Cha có được chết vì đạo thì tôi cũng được phúc ấy, mất đầu còn chân”. Câu nói vui này sau hóa thành sự thực. Từ đây Đức Cha với thày như hình với bóng, hai cha con chia sẻ vui buồn, thày lo liệu mọi sự cho Đức Cha, từ cơm nước đến viết thư từ, liên lạc với giáo dân. Với tuổi trẻ đầy sức sống thày là người chu đáo bảo vệ Đức Cha trong mọi tai biến.

Bao gian lao nhọc nhằn vất vả, bao cảnh chết chóc thảm thương Thày Khang được chứng kiến hằng ngày không làm thày nao núng. Thày chỉ buồn khi Danh Thánh Chúa bị nhục mạ, khi nghe tin nhiều linh mục phải trảm quyết trong khi giáo đoàn bơ vơ thiếu người chăn dắt, các thày giảng, các giáo hữu phải giam cầm tra tấn dã man.

Cuối cùng Đức Cha và thày bị bắt, phải điệu về Hải Dương. Rồi Đức Cha Héc-mô-di-la bị trảm quyết, Thày Khang đau buồn vì không được chết bên cạnh người Cha kính mến.

Người chiến sĩ Đức Tin này còn phải chiến đấu thêm một tháng nữa. Thày phải giam với một số bổn đạo. Hằng ngày thày tổ chức đọc kinh chung và ăn năn tội ba lần. Thày ra trước công đường ba lần. Lần thứ nhất quan bắt khai Đức Cha đã ẩn ở đâu, thày nhất định không nói nên phải trận đòn dã man, hai bên mỏng mất hai miếng thịt, máu chảy lênh láng đau đớn, về đến ngục các bạn tù có đạo phải đem nước lá tre rửa bóp cho thày đỡ đau. Về sau thày viết thư kể lại cho các bạn đang trốn ở làng Bảo Bội rằng: “Các quan chỉ hỏi tôi nơi Đức Cha đã ẩn, tôi không thưa, bằng lòng chịu đòn, xin các thày cầu nguyện cho tôi”. Lần sau các quan lại hỏi nơi ở các Đấng, lý lịch quê quán và bắt khóa quá, vì thày Khang không chịu nói, không khóa quá nên phải tấn 180 roi, sau đó thày mới chịu khai rằng: “Năm nay tôi 29 tuổi, cha mẹ anh em quê quán ở đâu không rõ vì đi theo các đạo trưởng từ bé. Phải bắt với Đức Cha Héc-mô-di-la, không biết các đấng khác ẩn ở đâu, còn khóa quá thì không bao giờ”.

Cách ba ngày, các quan lại đòi thày lên tra hỏi thêm mấy điều nữa, nhưng như mọi lần trước, thày nhất định không nói gì. Sau cùng có quan bảo thày rằng: “Khoá quá, ta sẽ tha ngay”, thày Giu-se Khang mạnh bạo thưa: Quan thương tôi được nhờ, không tha thì thôi, xin đừng nói đến việc ấy nữa, đừng ép tôi khóa quá”. Nghe những lời ấy quan nổi giận vì cho là vô phép và truyền đánh thày 120 roi.

Thày thường viết thư cho các thày bạn kể lại những sự khốn khó mình phải chịu và xin các bạn cầu nguyện Chúa ban ơn sức mạnh cho mình được vững vàng, một lần thày nói thêm: “Xin gửi cho tôi một ít quần áo vì quần áo cũ bị đòn đã rách hết và xin gửi cho một cái chăn để liệm xác”.

Ngày 6-12-1861, Thày Giu-se Khang phải trảm quyết ở Năm Mẫu – Hải Dương. Xử xong chôn ngay cạnh pháp trường. Khi bổn đạo họ Thọ Ninh và họ Lai Tê đi lấy xác Đức Cha Héc-mô-di-la thì cũng định lấy cả xác thày, nhưng sợ lâu làm không kịp. Đến năm 1867, Thày Cai Hinh là anh ruột người, theo lệnh Đức Cha Hi-le[2] (Hy) đem về táng ở nhà nguyện họ Kẻ Mốt.

Khi làm án phong chân phúc cho Thày Giu-se Khang thì phải tìm cho được xác người, các cụ già trong làng Kẻ Mốt nói không hợp nhau nên các đấng làm lễ cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục, xin Chúa vì công nghiệp Thày Khang và các linh hồn này, giúp cho chóng tìm được mộ Thày.

Lễ xong người ta đào gian nhà bếp là gian xưa để bàn thờ ở nhà nguyện cũ, nửa tiếng sau thấy một tiểu sành có viên gạch đề chữ: “Xác Thày Giu-se Khang tử đạo”. Khi mở tiểu ra, lại có thẻ đồng đề chữ: “Xác Thày Giu-se Khang tử vì đạo ở Hải Dương, năm Tân Dậu, Tự Đức thập tứ niên cũng là năm 1861”. Hài cốt thày được đưa táng ở nhà thờ Kẻ Mốt.

Đức Thánh Cha Pi-ô X đã phong chân phúc cho thày Giu-se Nguyễn Duy Khang ngày 15-4-1906. Sau ngày ấy đầu thày được đưa về tôn kính ở nhà thờ tỉnh Hải Dương, xác thày vẫn để ở Kẻ Mốt, một ít xương thì để ở đền thánh Năm Mẫu là nơi thày chịu tử đạo.

Ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong thày lên bậc hiển thánh.

-o0o-


[1] Jérome Hermozilla.

[2] Hilaire.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top