Ngày 6/12: Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang – Thầy Giảng (1832-1861)

Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang sinh năm 1832 tại làng Cao Mại, xã Trà Vi, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

12908 GiuseNguyenDuyKhang

Cha mẹ là người Công giáo đạo hạnh. Mồ côi cha từ nhỏ nhưng được mẹ là người đạo đức, chăm lo cho con ăn học, và khi thấy con ngỏ ý muốn dâng mình vào Nhà Chúa thì bà vui mừng xin cho cậu con trai của mình được ở với cha Mathêu Năng để giúp lễ và thu dọn các việc trong nhà thờ. Cha Năng thấy cậu Khang ngoan ngoãn thì cho học chữ Nho và chữ la tinh. Sau một thời gian thử thách, thấy chú đạo hạnh lại sáng trí nên cha Năng gửi chú vào trường la tinh ở Kẻ Mốt, chuẩn bị cho sứ vụ linh mục tương lai, năm ấy chú đã 23 tuổi. Thời gian còn đang học tại trường la tinh, thầy Khang xin gia nhập dòng Đa Minh và được các anh em đồng lớp tín nhiệm bầu làm trưởng tràng, điều hành mọi công việc trong nhà. Mặc dù bận rộn với công việc trong nhà, thầy Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong việc học hành, tuân giữ kỷ luật và chu toàn bổn phận. Anh em trong trường đều nhìn nhận thầy rất đạo đức, tính cương trực nhưng lại luôn hoà hoãn vui vẻ với mọi người.

Đức Cha Hermosilla Liêm khi ấy cũng ở Kẻ Mốt, đã tín nhiệm thầy cách đặc biệt, chọn thầy làm người phụ giúp riêng của Đức Cha. Thầy tận tình phục vụ Đức Cha từ việc dọn bàn thờ, sắp xếp các giấy tờ, lưu giữ hồ sơ rồi đến những công việc cơm nước, liên lạc thư từ v.v. Tất cả các việc thầy Khang đều lo chu toàn một cách rất thánh thiện.

Thời gian thầy Giuse Nguyễn Duy Khang đang học tập cũng chính là thời kỳ đạo Công giáo đang trong tình trạng bị bách hại vô cùng khốc liệt của vua Tự Đức. Muốn tiêu diệt tới cùng, ngày 5 tháng 8 năm 1861 vua Tự Đức ban hành Sắc chỉ “Phân Sáp” người Công giáo. Phân sáp có nghĩa là các tín hữu Gia Tô già trẻ lớn bé đều phải khắc trên trán hai chữ “tả đạo” rồi cho phân tán vào các làng ngoại giáo: vợ cho ở một nơi, chồng ở một nơi, con cái ở một chỗ. Các nhà thờ, nhà chung, chủng viện và tài sản của Giáo hội cũng như của tư nhân đều bị tịch thu, bị phân chia hay phá hủy.

Trước hoàn cảnh đau đớn này, ngày 18 tháng 9 Đức Cha Hermosilla Liêm phải cấp tốc giải tán chủng viện Kẻ Mốt. Cha Khoa đại diện Đức Cha tuyên bố đóng cửa Chủng viện. Cha nói với các thầy:

– “Các thầy phải giải tán ngay kéo quan quân kéo tới vây bắt. Các thầy không phải chào Đức Cha, vì Ngài không cầm được nước mắt.”

Sau mấy lời tuyên bố, mọi người vội vã ngậm ngùi ra đi! Riêng thầy Giuse Nguyễn Duy Khang nhất quyết xin ở lại để giúp Đức Cha. Khi chào tạm biệt anh em, thầy Khang vui vẻ nói: “Tôi nhất quyết theo Đức Cha cho tới cùng. Các quan có bắt Ngài, chắc cũng không tha tôi. Đức Cha chết vì đạo, tôi cũng xin chết vì đạo với Đức Cha”. Ngay từ đêm hôm đó, hai cha con bắt đầu sống phiêu lưu, nay đây mai đó. Tương lai mù mịt, chưa biết ý Chúa định liệu ra sao. Nhưng thầy Khang vẫn tin tưởng theo Đức Cha và theo Chúa, phó thác cuộc đời cho Chúa.

Những tuần lễ đầu Đức Cha và thầy Khang sống trong hang hầm trú ẩn ở Thọ Ninh. Nhưng chỉ vài ba tuần sau, các quan phát hiện nơi ẩn trú đó, hai cha con phải cấp tốc bỏ đất liền, xuống một chiếc thuyền đánh cá của một giáo dân. Thầy Khang chèo thuyền qua thị xã Hải Dương tới ẩn trong một chiếc thuyền đánh cá khác của ông Trương  Bính cũng là một giáo dân tốt lành. Ở trên chiếc thuyền này, Đức Cha và thầy Khang cảm thấy được an toàn. Vài tuần lễ sau, hai cha con lại may mắn gặp được Đức Cha Valentinô Vinh và cha Almatô Bình đi thuyền từ Kẻ Nê tới. Các đấng cảm động và rất vui mừng tạ ơn Chúa vì được gặp gỡ nhau trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn này. Các Ngài trao đổi tin tức và cầu nguyện chung với nhau cho Giáo Hội Việt Nam và xin Chúa ban thêm sức mạnh để luôn can trường rao giảng danh thánh Chúa. Đến sáng, các Ngài ngậm ngùi phải chia tay nhau, mỗi người đi một hướng.

Thế rồi một chuyện không may xẩy ra trong gia đình ông Trương Bính. Hai bố con gay gắt cãi nhau, đưa tới cái chết của Đức Cha Hermosilla Liêm và thầy Giuse Nguyễn Duy Khang. Câu truyện như thế này: Hai cha con ông Trương Bính cái lộn, gây gỗ nhau kịch liệt. Người con ấm ức thù hận ông bố. Thế là ngày  21 tháng 10, người con trai của ông bực tức nên âm thầm đi tố cáo bố đang chứa chấp Đức Cha và thầy Khang. Được tin tố cáo, đội Bảng liền kéo quân đến bắt Đức Cha và thầy Khang. Khi biết tin, thầy Khang và ông Trương Bính cùng mấy người giáo dân khác vội chèo thuyền thật nhanh chạy trốn tới làng Gộc gần đó. Nhưng không kịp, thầy Khang nhảy ra đánh võ với những người đến bắt nhưng vì họ đông nên đã đánh thầy bị thương nặng và ngã gục. Đức Cha bình tĩnh đưa hai tay ra cho họ trói và nói:

– Tôi ở trong tay quan. Nhưng xin đừng làm hại những người trên thuyền vô tội. Xin làm ơn làm phúc tha cho họ về.

Nghe Đức Cha nói, ông đội Bảng bằng lòng tha. Nhưng thầy Nguyễn Duy Khang lên tiếng:

– Không. Tôi không muốn tự do. Các ông đã bắt Đức Cha của tôi, tôi xin đi theo. Nếu Ngài phải chết thì tôi cũng xin chết theo với Ngài.

Nói xong, thầy đưa tay ra cho họ trói. Sau đó, họ áp giải hai cha con về tỉnh Hải Dương. Khi tới cổng thành Hải Dương, họ đặt một cây Thánh Giá lớn nằm ngay lối vào, Đức Cha Hermosilla Liêm và thầy Giuse Nguyễn Duy Khang nhất định không bước vào, yêu cầu phải cất Thánh Giá đi thì hai cha con mới bước vào. Sau cùng các quan phải nhượng bộ, cất cây Thánh Giá đi thì hai cha con mới chịu bước vào.Vào tới nội thành, các quan biệt giam Đức Cha tại pháo đài Trang Thu, còn thầy Khang thì bị nhốt vào cũi giam trong nhà tù. Trong những ngày đầu, ba lần thầy Khang bị tra tấn, điều tra về những nơi Đức Cha đã trốn và làm việc. Thầy Khang nhất định không khai. Thầy bị đánh nát thịt hai bên mông rồi bị khiêng về ngục. Được giam chung với nhiều người tín hữu, thầy sốt sắng tổ chức cho cả nhà giam đọc kinh chung mỗi ngày ba lần. Mỗi tối thầy làm việc thống hối ăn năn tội, khuyến khích mọi người sốt sắng, giữ vững đức tin để được phúc tử vì đạo. Những lần thầy bị đánh đập, nứt thịt, gẫy xương, anh em trong tù đều thương mến, nấu nước rửa và xoa bóp những vết thương cho thầy. Mặc dù bị đau đớn và khổ cực nhưng thầy vẫn cố gắng viết thư cho các bạn học đang lưu lạc ở làng Hảo Hội. Một trong những thư thầy viết: “Các quan mới tra tấn tôi rất tàn nhẫn để hỏi về Đức Cha đã ở những nơi nào và làm việc với ai. Tôi nhất định không khai và sẵn lòng chịu đòn vọt đau đớn. Xin anh em cầu nguyện cho tôi”. Lần khác thầy lại viết: “Anh em gửi cho tôi một cái quần, vì quần tôi bị đòn nhiều nên đã rách nát. Cũng xin gửi cho tôi một cái chăn để khi tôi chết, có cái mà liệm xác đem chôn”.

Sau nhiều lần tra khảo thầy về Đức Cha Hermosilla Liêm không thành công, lần này các quan lại gọi thầy ra toà, các quan tra hỏi về quê quán và những người liên hệ với thầy. Quan đốc hỏi:

–  Quê quán và cha mẹ ngươi ở đâu?

Thầy Giuse Nguyễn Duy Khang bình tĩnh thưa:

– Bẩm quan lớn, tôi sinh ra ở Macao, 29 tuổi. Cha mẹ ở đâu tôi không biết.

– Thế ngươi phải biết các đạo trưởng ở đâu chứ?

– Tôi biết các đạo trưởng, nhưng không biết ở đâu. Tôi ở với Đức Cha và cùng bị bắt với Ngài.

– Vậy ngươi theo đạo từ bao giờ?

– Tôi theo đạo từ nhỏ?

–  Ai đã dụ dỗ ngươi theo tà đạo này?

–  Đạo tôi theo là đạo thật, không phải là tà đạo.

–  Nhưng vua cấm đạo này, luật nhà nước cấm.

–  Luật của con người không được đi ngược lại với luật Thiên Chúa. Phải vâng lời Thiên Chúa trước khi vâng lời loài người.

–  Ngươi nói thế là khinh mạn quốc gia và coi khinh đức vua.

–  Tôi kính vua và hết lòng yêu mến quốc gia, nhưng trước hết phải tôn kính và yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ luật của Thiên Chúa.

Nói tới đây các quan không hỏi thêm nữa. Nhưng ra lệnh trói tay chân thầy vào cột và đánh 120 roi. Máu chảy ra lai láng. Sau đó thầy bị đeo gông, mang xiềng xích và cùm trong xà lim chờ án triều đình gửi về. Trong khi đó thì ngày 1 tháng 11 Đức Cha Hermosilla Liêm, Đức Cha Ochoa Vinh và cha Almato Bình đã được phúc tử vì đạo.

Thầy Giuse Nguyễn Duy Khang phải chờ đợi mãi tới ngày 6 tháng 12 cùng năm, tức năm 1861 các quan mới đem thầy ra xử án trảm quyết tại pháp trường Năm Mẫu, ngoài tỉnh Hải Dương. Sau khi  bị chém đầu, dân chúng tại địa phương tới xin phép an táng thầy ngay tại bờ ruộng gần nơi bị xử.

Năm năm 1867, giáo dân cùng thầy Hinh là anh ruột của thầy Khang đến cải táng, lấy xác về chôn ở nhà thờ Kẻ Mốt. Ngày nay thủ cấp của Ngài được lưu giữ tại đền thánh Hải Dương, còn hài cốt thì vẫn lưu giữ tại nhà thờ Kẻ Mốt.

Ngày 20 tháng 5 năm 1906, Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn thầy Giuse Nguyễn Duy Khang lên bậc Chân Phước Tử Đạo. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top