Ngày 31/7: Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng -Trùm Chánh (1796-1859)

Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng sinh năm 1796 tại họ Đầu Nước, xứ Cù Lao Giêng, quân Chợ Mới tỉnh An Giang, thuộc trấn Châu Đốc. Theo cha chính Borelle viết thì “ông là gia trưởng một gia đình đông con và giầu có. Ít học nhưng rất thông minh. Tính tình cả quyết, vóc dáng cao ráo, vạm vỡ, mạnh khoẻ, trông giống như ông tướng chỉ huy.

Nhờ lòng đạo đức và đức tin sâu xa nên ông đã trở nên hiền hoà, dịu dàng, được mọi người kính yêu. Ông là một hiệp sĩ không biết sợ hãi và tin cậy vào Chúa quan phòng nên ông cho xây nhà thờ ngay trên phần đất của mình. Bên cạnh nhà thờ là Tu viện con cái Đức Mẹ Maria, rồi Nhà xứ, Chủng viện.

Ông có lòng yêu quí các linh mục cách đặc biệt nên trong thời cấm đạo, ông đã chứa chấp nhiều vị Thừa Sai, giấu ẩn các linh mục. Ông rất sốt sắng việc nhà thờ nhà thánh, luôn luôn đi tìm kiếm để có linh mục về giúp cho xứ đạo sinh hoạt đạo đức đều hoà. Ông lại có lòng thương người, ông giúp đỡ rất nhiều người nghèo túng trong xứ đạo, và giúp ngay cả những người lương khó nghèo trong vùng. Đặc biệt là ông đã giúp đỡ tiền bạc rất nhiều cho nhà trẻ mô côi.Ông thật là một người Công giáo đầy lòng kính yêu Chúa và thương giúp mọi người. Vì là một người có rất nhiều uy tín và thánh thiện nên giáo dân đã bầu ông làm “ông Câu” xứ đạo (tức ông Trùm Chánh) của xứ đạo Cù Lao Giêng.”.

Trên đây là những lời cha chính Borelle viết ca ngợi về vị thánh tử đạo của họ Đầu Nước xứ Cù Lao Giêng của chúng ta. Vì tha thiết với việc đào tạo các linh mục nên từ năm 1855 ông đã mời linh mục Thừa Sai Pernot Định về ẩn tại nhà ông với ý nguyện chuẩn bị mở học viện dạy các chủng sinh làm linh mục.

Một buổi tối nọ, cha Pernot sơ ý đi bách bộ trong vườn, hai anh người lương tên là Trần văn Miêu và Trần Văn Nên trông thấy. Hai anh này là hai anh em chuyên cờ bạc, trai gái và hút xái, nổi tiếng trong vùng. Đang lúc túng tiền lại nhớ tới số tiền thưởng của nhà vua quá lớn, hai anh này đã vội vã bí mật đi tố cáo với quan đầu tỉnh nhà ông Câu Lê Văn Phụng có đạo trưởng tây dương trú ẩn.

Được báo cáo và chỉ điểm chắc chắn như thế, quan đầu tỉnh liền ra lệnh mở một cuộc hành quân cấp tốc. Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1859, cha Pernot Định và cha Phêrô Đoàn Công Quý, cha sở mới của họ Đầu Nước dâng lễ vừa xong thì có người hối hả chạy tới:

– “Này ông Câu Phụng ơi! Không biết có chuyện gì mà quan quân từ Châu Đốc đi thuyền và đi bộ đông lắm, đang tiến về phía nhà ông. Ông xem chuyện gì vậy?”

Ông Câu Phụng vội cho người con trai tên Tam dẫn hai cha đi trốn ngay. Có vẻ hốt hoảng ông nói:

– “Xin hai cha đi ngay theo con của con

Cha Quý từ chối:

– “Xin cha Pernot Định đi ngay thôi. Tôi không cần đi. Tôi là người bản xứ, tôi có thể trà trộn với dân. Nếu cần tôi sẽ đi sau”

Cha Quý nói chưa xong thì cha Pernot Định đã biến đi mất. Cha Quý vội vã thu dọn đồ lễ, các đồ thờ rồi nhanh chân chui xuống sàn nhà trú ẩn.

Quan tỉnh Châu Đốc cho 300 lính với 15 chiến thuyền đến họ Đầu Nước, mục đính chính là vây nhà ông Câu Phụng, bắt đạo trưởng tây dương. Quan oai vệ bước vào nhà, kêu lớn tiếng:

– “Chủ nhà này đâu?”

Ông bà Lê Văn Phụng bước ra, lễ phép chào:

– “Kính bẩm lạy quan lớn. Tôi là Lê Văn Phụng chủ này này”.

Bà Phụng đứng khép nép run rẩy bên chồng, miệng ấp úng nói không ra lời. Quan nhìn ông tướng mạo cao ráo từ đầu tới chân, rồi nhìn bà vợ. Quan hỏi:

– “Nhà này chứa chấp đạo trưởng tây dương phải không?

Ông Phụng trả lời:

– “Bẩm lạy quan lớn. Nhà tôi không có đạo trưởng tây dương nào ạ. Chỉ có tôi là Lê Văn Phụng thôi ạ”.

Quan quay nhìn bà Phụng quát lớn tiếng:

– “Còn chị này nữa? Giấu đạo trưởng ở đâu?”

Bà Phụng run rẩy đáp:

– “Bẩm lạy quan lớn! Ông nhà con nói đúng đấy ạ.

Nhìn hai ông bà một lượt, quan lại lớn tiếng:

– “Ta biết chắc các người chứa chấp đạo trưởng tây dương ở trong nhà này. Hãy đem ngay ra đây nộp cho ta”.

Cả hai ông bà đều lắc đầu chối là không có.

Quan tỏ vẻ bực tức cho lệnh lục soát tìm cho bằng được đạo trưởng tây dương.trong nhà. Quân lính ào ạt xông vào tìm kiếm khắp nơi mà không thấy có đạo trượng. Chờ đợi một hồi lâu không có kết quả. Quan nóng nảy quát tháo:

– “Tên Phụng! Người hãy thành thật nộp đạo trưởng cho ta, thì ta tha cho cả hai vợ chồng, bằng không ta sẽ cho đánh nát thịt các người ra”.

Nằm ẩn dưới sàn nhà, nghe quan nói sẽ đánh nát thịt hai ông bà Phụng, cha Quý quá xúc động, bèn chui ra tự thú:

– “Thưa quan lớn! Chính tôi là đạo trưởng đây”.

Quan lớn ngơ ngác nhìn cha Quý, vì quá bất ngờ. Quan nói:

– “Tên này nói láo! Ngươi còn trẻ như thế này mà là đạo trưởng sao được?

Cha Quý mạnh dạn thưa lại:

– “Thưa quan lớn! Tôi chính là đạo trưởng. Tôi xin quan tha cho ông bà này”.

Không bắt được đạo trưởng tây dương, quan ra lệnh bắt trói cha Quý, ông trùm Lê Văn Phụng và 32 người nữa trong gia đình và họ Đạo, tất cả bị giải về tỉnh giam trong ngục thất.

Sau vài ngày bị giam đói khát trong nhà tù, quan cho điệu ông Lê Văn Phụng ra tra khảo. Đầu tiên quan hỏi:

– “Ông có phải là người theo đạo Gia Tô không?

Ông mạnh dạn trả lời:

– “Thưa phải. Tôi là người theo đạo Gia Tô”

Quan hỏi tiếp:

– “Ông có muốn theo lệnh vua mà bỏ đạo ấy để được về với gia đình không?”

Ông trả lời:

– “Tôi giữ đạo này từ nhỏ. Nếu quan thương cho tôi về thì tôi về, còn việc bỏ đạo thì chắc chắn không bao giờ tôi bỏ đạo”.

Quan Tổng đốc nghe ông nói thế thì không hỏi thêm gì nữa, nhưng ra lệnh đóng gông, xiềng xích tay chân rồi tống giam trong ngục.

Các quan đều biết gia đình ông Lê Văn Phụng là một gia đình giầu có, lại rộng rãi giúp đỡ rất nhiều người, không phân biệt lương giáo, nhất là những trẻ mồ côi, bệnh tật. Vì vậy các quan cũng muốn tìm cách tha ông. Nhiều lần các quan đã khuyên dụ ông bước qua Thánh Giá để được về với gia đình, nhưng lòng ông cứng như đá, nhất quyết dù có phải chết và chịu trăm ngàn khổ hình khác nữa thì cũng không bao giờ bỏ đạo. Sau 6 tháng bị giam các quan đã khuyên dụ hết lời mà không được, các quan cũng rất buồn. Vì theo lệnh triều đình, các quan họp làm bản án gửi về kinh xin xử giảo (giây thắt cổ).  Ngày 30 tháng 7 năm 1859 bản án được vua Tự Đức châu phê và ngày 31 tháng 7 cùng năm thì bản án được thi hành.

Sáng sớm trong lúc mọi người còn ngái ngủ thì quan Giám sát cùng với đội quân đông đảo áp giải cha Phêrô Đoàn Công Quý và ông Emmanuel Lê Văn Phụng tiến ra pháp trường trong tiếng la hét của đoàn quân lý hình.

Mặc dầu trời còn sớm nhưng biết tin, nên đã có rất nhiều người chạy theo hai vị anh hùng tử đạo của Chúa. Trông thấy anh Tam người con trai yêu quí tới gần, ông nói với con:

– “Con hãy chạy về báo tin cho mẹ con biết!

Với đoàn con cháu đông đảo vây quanh, vừa khóc vừa đọc kinh, ông bình tĩnh khuyên nhủ:

– “Các con phải trung thành với Chúa. Hãy noi gương cha con đây, đừng thù oán hay kiện cáo những người tố giác cha. Hãy tha thứ cho kẻ làm hại ta. Hãy mang xác cha về chôn ở Đầu Nước cùng với xác của cha Quý”.

Nói xong, người cháu gái tên Anna Nhiệm tiến lại sát bên ông, ông lấy giây thánh giá đang đeo, hôn kính rồi đưa cho cháu gái. Ông nói:

– “Cháu hãy nhận kỷ vật này của ông. Đây là ảnh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Ảnh này quí hơn vàng bạc bội phần. Cháu hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sáng tối”.

Ông vừa dứt lời thì bọn lính đẩy ông đi. Đoàn con cháu và những người chạy theo đứng lại vòng ngoài.

Đi tới chỗ xử, cha Phêrô Qúy và Emmanuel Lê Văn Phụng xin mấy phút quì cầu nguyện sốt sắng. Cha Quý giơ tay làm phép giải tội và ban phép lành cho ông Phụng. Sau đó, đoàn lính xô ngã sấp mặt ông Phụng xuống đất, cột tay chân vào các cọc. Sáu người lý hình tiến lại gần sát, hai người giữ đầu và giữ lưng cho khỏi nhúc nhích. Mỗi đầu giây hai người, giây vòng quanh cổ, chờ lệnh thi hành án lệnh. Chiêng trống vang lên, sau tiếng chiêng thứ ba thì bốn người ở hai đầu giây lấy sức mạnh kéo cho xiết cổ tới khi người chiến sĩ anh hùng tắt thở thì buông giây ra. Người tôi tớ kiên trung của Chúa chấm dứt cuộc đời lúc 63 tuổi, bầu trời trở nên u ám.

Từ 9 giờ sáng phải đợi cho tới 4 giờ chiều các quan mới cho gia đình nhận xác đem về an táng tại nền nhà thờ Đầu Nước, nơi chính Ngài đã xây cất để thờ phượng Chúa.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1909. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo cùng vớI 116 vị thánh Tử đạo khác tại Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top