Thánh Phê-rô Nguyễn Đích

15 ĐẤNG THÁNH

TỬ VÌ ĐẠO

QUÊ HƯƠNG TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI

Năm Thánh 2010

Thánh Phê-rô Nguyễn Đích*

Giáo Dân

Mẫu gương ông Trùm

Quê hương Chi Long, Xưa và Nay

Chi Long hiện nay có khoảng 600 giáo dân, là một họ đạo nghèo, nhỏ bé, thuộc xứ Đồng Phú (Nguyên Lý, Lý Nhân, Hà Nam). Đây là một làng quê yên bình nằm ở hữu ngạn Sông Hồng, được đón nhận Tin Mừng từ lâu.

Nếu ai đã đến Chi Long vào ngày 12-8, hẳn sẽ không quên được không khí tưng bừng, hân hoan rước kiệu mừng ngày giỗ tổ, tôn kính ông thánh Phê-rô Nguyễn Đích.

Lòng tin, sự sùng kính ông Thánh đã thôi thúc giáo họ Chi Long vượt lên trên sự nghèo nàn, vất vả chung tay đóng góp tài trí khởi công xây dựng ngôi Đền thánh rộng lớn, khang trang dâng kính thánh Phê-rô Nguyễn Đích vào ngày 12-08-2007. Ngày 24-11-2008, nhằm ngày Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội đã dâng Thánh Lễ làm phép khuôn viên và đặt viên đá góc cho đền thánh thánh Phê-rô Nguyễn Đích, biểu tượng đức tin của làng Chi Long nhỏ bé, giàu truyền thống.

Nhưng làng Chi Long xưa khác nhiều lắm. Chi Long xưa là một làng rộng lớn ở ngoài đê, ven sông Hồng đối diện với làng Phù Phượng (bên kia sông) cách Phố Hiến (Hưng Yên) chừng 2km, cách xứ Nam Xang khoảng 10km.

Theo thời gian, làng Chi Long bị dòng nước sông Hồng chảy xiết cuốn trôi([1]), dân Chi Long chuyển vào trong đê chia thành 3 xóm. Người lương dân tụ họp thành xóm: Long Đức, Long Hưng. Người có đạo được Cha Lộc mua đất, cho lập trại ở Thứ Lâu (gọi làTrại Mới, Trại Đạo hay xóm Long Lâu, toàn tòng)([2]). Vào năm 1895 người Long Đức, Long Hưng và năm1972, người Đức Thông (Long Hồng) từ Bãi Non chuyển vào sinh sống, xóm đạo Long Lâu trở nên xôi đỗ.

Vết tích địa dư làng Chi Long xưa, hiện còn Gồ Chi Long (cạnh Hồ Guối) và bến đò Lẻ (Bến Chi Long). Bãi Cựu sát đê. Bãi Non dưới Bãi Cựu chừng 3km, đã bị lở và chuyển thành bãi Váu bên kia sông.

Rời quê hương, bảo vệ đức tin.

Theo lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, năm 1753, ngoài Bắc có hai địa phận: Đông và Tây Đàng Ngoài. Nam Xang thuộc địa phận Tây, cả huyện có một xứ duy nhất là xứ Nam Xang (Công Xá) với 4.183 giáo dân rải khắp 81 xã. Phú Đa (Kẻ Sào) có 183 giáo dân. Họ đạo Chi Long thuộc xứ Nam Xang, số giáo dân khoảng 50-60([3])

Năm 1719, Kẻ Vĩnh đã được chọn làm thủ phủ của Địa phận Tây Đàng Ngoài thời Đức Cha Guisain. Dần dần nơi đây có nhà chung, có chủng viện, có Đức Cha, các cha thường xuyên dâng lễ. Để bảo vệ đức tin, khoảng năm 1770 – 1780, cha mẹ ông Phê-rô Nguyễn Đích đã chấp nhận bỏ quê hương xa nhà thờ, để đến Vĩnh Trị thủ phủ của Giáo phận sinh sống. Sống ở nơi đất khách quê người, các ngài phải ăn chịu những luật lệ của làng. Như vậy, đủ thấy đức tin của gia đình ông vững chắc đến chừng nào.

Ông Đích sinh năm 1769. Khi trưởng thành, ông đã xây dựng gia đình với người Vĩnh Trị. Theo bà Maria Mến (Miều) goá phụ của Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ cung khai trước toà điều tra phong chân phước: “Lúc đầu bố tôi tên là Khiêm, khi sinh con đầu lòng đặt tên là Hiếu, người ta gọi bố tôi là Hiếu, đến khi có cháu nội đặt tên là Đích([4]), bố tôi lại mang tên là Đích và giữ tên đó mãi”.

Với gia đình, tha nhân và giáo sĩ

Cũng theo lời khai của bà Maria Mến (Miều) : “…Gia đình chúng tôi làm nghề nông rất cần cù, nhưng không vì thế mà sao nhãng việc đạo đức, trái lại vẫn siêng năng xưng tội, rước lễ. Bố tôi luôn quan tâm đến đời sống đạo đức của 10 người con và của những gia nhân giúp việc. Mỗi ngày ông chỉ định một hay hai người coi nhà, còn những người khác đi lễ. Tôi thấy bố tôi làm tròn các nghĩa vụ trong đạo. Ngài rất chăm sóc việc giáo dục con cái, mời thày đồ đến nhà dạy chữ nho cho con trai, từ chối gả con gái cho những thanh niên gia đình giàu có mà không giữ đạo sốt sáng…”

Ông Đích là người mực thước, chăm chú làm ăn, dù gia đình đông con mà vẫn phong lưu. Ông có lòng thương người, đặc biệt người nghèo khó. Ông hay vào trại phong thăm hỏi những người bệnh, họ mến ông, cậy nhờ ông lo liệu mọi sự. Họ là những người đầu tiên gọi ông là ông Trùm, sau có người gọi theo dần dần thành tên thật. Dù ông mới gia nhập làng Kẻ Vĩnh, nhưng rất uy tín. Ông được xếp vào hàng huynh thứ trong làng. Con trai là Thi, con rể là Mỹ, cả hai làm lý trưởng. Ông Lý Thi tử đạo dưới thời Tự Đức năm thứ 11 tại Nam Định. Ông Phó Nhậm, không quá khoá cũng bị đày lên Cao Bằng năm đó và chết rũ tù trên ấy. Ông Lý Mỹ cùng tử đạo một ngày với ông. Một gia đình có 4 vị Thánh Tử đạo không gì sung sướng và hạnh phúc bằng.

Ông trùm Đích rất yêu mến các giáo sĩ và chủng sinh. Có một năm, làng Vĩnh Trị phải ôn dịch, trong chủng viện chết mất nhiều người. Các giáo hữu khá giả ở ngoài làng xin đón các chú, các thày về nhà mình để khỏi lây và chạy chữa thuốc men. Ông trùm Đích mời 8 thày về săn sóc thuốc thang cho đến khi khỏi hẳn. Đức Cha Havard (Du) muốn bù ít phí tổn, nhưng ông không chịu nhận. 

Khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ ngày 06-01-1833 (nhằm ngày Lễ Hiển Linh) chính thức cấm đạo toàn quốc, giáo dân địa phận Tây cũng như Đông kinh hoàng, run sợ. Nhiều người mất nhuệ khí, nhiều họ đạo đã vội tháo gỡ nhà thờ, nhà chung.

Đức Cha Havard Du chia chủng sinh Vĩnh Trị thành từng nhóm 12 người, có một thày đi với họ di tản vào làng mạc tùy tiện. Ông trùm Đích đã chứa tất cả các thày tràng nhất (lớp 12) trong nhà mình và lo cho họ ăn uống đầy đủ suốt hai năm. Đức cha Havard Du cũng đến ẩn trú tại nhà ông một tháng, sau đó Ngài đã phải leo lên núi vào rừng sống cảnh nghèo nàn đói rách, ăn trái cây, lao động đan lát giống như các thày tu hành trên rừng xưa. Và cũng tại đây Ngài lèo lái con thuyền giáo phận qua cơn bão tố. Ngài qua đời vì kiệt sức ngày 05-07-1838. Trước khi mất, Đức cha chọn thừa sai Borie Cas làm Giám mục phó kế vị.

Bị bắt giam và tra tấn

Liền sau chiếu chỉ 06-01-1833 là chiếu chỉ 25-01-1836 (nhằm ngày mồng 6 tết nguyên đán). Với chiếu chỉ này Minh Mạng truyền xử tử tất cả các đạo trưởng Tây cũng như Nam. Ai chứa chấp kế cả các quan trong địa hạt mình có các đạo trưởng ẩn núp, không tìm cách để bắt lấy cũng phải xử tử như vậy.

Một cuộc bách hại đạo khốc liệt chưa từng có trong lịch sử Giáo hội Việt Nam. Các quan tìm đủ mọi cách lùng bắt, các cha phải lẩn chốn khắp nơi. Cha Mai Năm, cha giáo chủng viện (từ năm 1830) đang ở Vĩnh Trị thường lui tới nhà ông Trùm Đích như anh em ruột, đã ẩn trú trong nhà ông.

Khi đó tướng Lê Văn Đức là tướng có nhiều công dẹp các cuộc phiến loạn, được nhà vua cử từ kinh ra tạm thay thế Trịnh Quang Khanh ở chức Tổng đốc Nam Định([5]).

Để thực hiện ý đồ bắt các giáo sĩ ở Vĩnh Trị quan Tổng đốc Lê Văn Đức đã cho hai người tên là Tý ở Đông Mạc và Xuân ở Tức Mạc, thuộc huyện Mỹ Lộc giả là người làm thuê để do thám. Ở được nhà ông Trùm Đích ít lâu, khi có đủ bằng chứng cha Năm đang ở nhà ông Trùm, họ liền trở về báo cho quan.

Ngày 02-07-1838, tướng Đức chỉ huy cuộc bủa vây làng Kẻ Vĩnh, ông chia quân lính làm hai ngả: đường bộ và đường thủy. Ông trực tiếp chỉ huy cánh quân thuỷ. Khi mặt trời vừa mới mọc, quân lính đã vây kín bốn mặt làng Kẻ Vĩnh. Vừa nghe tin, cha Giacôbê Mai Năm đang ẩn trú trong nhà ông Trùm Đích vội thắt lưng, xắn quần, định trà trộn với đám dân chúng làm cơm cho quan Tổng đốc, nhưng chưa kịp ra khỏi nhà, quân lính ập đến. Thấy ông cụ đạo mạo, trắng trẻo, râu dài, quân lính chặn lại hỏi:

– Ông là ai?

– Cha Năm vui vẻ trả lời: “Tôi là người nhà này”.

Ngay lúc đó hai người tên Tý và Xuân được quan thuê đi do thám nơi ở của các đạo trưởng, liền chỉ vào cha và kêu:

– Đúng đạo trưởng nhà này đây.

 – Cha Năm khẳng khái trả lời: “Phải chính tôi đây”.

 Thế là cha Năm bị bắt cùng với ông Trùm Đích, người chủ nhà chứa chấp. Lúc đó, ông Lý Mỹ đã nói với nhạc phụ:

– Cha con ta đồng tử với nhau, việc Chúa quan phòng đã đến xin cha đừng lo sợ.

 Nói xong ông ra đón quan Tổng đốc tại đình làng. Quan Tổng đốc đang ngồi trên đình chờ ông. Quan truyền cho trai tráng trong làng từ 18 tuổi trở lên phải ra trình diện và bắt ông Lý Mỹ làm tờ cam đoan nếu bắt được các đồ đạo và đạo trưởng trong làng, lý trưởng phải chịu trách nhiệm. Ông Lý Mỹ viết: “Lý trưởng Lý Mỹ làm tờ cam đoan: làng chúng tôi không có đạo trưởng cùng các đồ quốc cấm. Nếu khai man tôi xin nộp mạng cả gia đình tôi”.

Tờ cam đoan chưa ráo mực, quân lính dẫn linh mục Giacôbê Mai Năm đến. Quan nhìn ông lý trưởng hỏi:

– Phải xử thế nào?.

– Ông lý Mỹ thưa: “Bẩm quan lớn, quan thương thì chúng tôi được nhờ, bằng không tôi xin nộp đầu chịu tội”.

Bấy giờ quan truyền đánh ông lý Mỹ 40 roi, rồi quay sang hỏi ông Đích:

– Ông có bỏ đạo không? 

– Ông Đích trả lời:  Tôi không thể.

 Quan liền truyền đóng gông ông Đích và giải ra tỉnh cùng với cha Giacôbê Mai Năm và ông Lý Mỹ([6]).

Đang khi ông bị giam ở tỉnh, ông Trùm Đích nghĩ đến những khổ hình mình sẽ phải chịu thì sợ hãi, dường như sờn lòng. Tuy nhiên cha Năm, ông Lý Thi, ông Lý Mỹ và các con cái an ủi và khuyên ông đừng quá khóa. Ông Lý Mỹ đã nói với ông:

– Cha đã tuổi cao sức yếu, chẳng sống được bao lâu nữa, nếu không chết vì đạo, cũng chết vì bệnh, nhưng nếu tử đạo sẽ làm vinh Chúa và được hạnh phúc thiên đàng. Cha đừng luyến tiếc sống thêm ít ngày. Con đây còn khỏe mạnh, đời còn dài, vợ trẻ với đàn con thơ dại thật đáng yêu, đáng quý, nhưng con tin Thiên Chúa sẽ lo liệu thật tốt đẹp cho chúng. Hơn nữa, khi cha con ta được lên thiên đàng sẽ cầu bầu trước nhan Thiên Chúa thì có ích hơn cho cả gia đình, dòng tộc, cha đừng lo về những hình khổ phải chịu, con sẽ chịu đòn thay cha hết thảy. Cha hãy can đảm làm chứng nhân và sẵn lòng chết vì yêu mến Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết vì chúng ta,…([7]).

Với những lời khuyên bảo của Cha Năm và các con, ông Đích đã vững lòng. Ông đã bị quan gọi ra hầu toà bốn năm lần, dụ dỗ bỏ đạo. Quan nói:

– Ông đã cao niên, các con đã trưởng thành, các cháu đông đúc, có nhà cửa phong lưu, ông hãy quá khóa để vui hưởng tuổi già với đàn con cháu có hơn không.

– Ông Đích vững vàng đáp: “Bẩm quan, con cháu thì mặc con cháu, tôi đã lo liệu cho chúng, còn về Đức Chúa Trời lẽ tự nhiên bắt tôi phải thờ lạy Người, lẽ nào tôi dám bỏ Người, quan tha hoặc kết tội tôi thì tùy chứ đừng ép tôi bỏ đạo”.

Có một lần quan truyền khiêng ông qua ảnh chuộc tội. Hai tên lính khiêng hai đầu gông, còn hai tên khác kéo chân ông đạp vào ảnh nhưng ông Đích co chân lên, nên chân ông không chạm ảnh. Quan truyền đánh ông ba lần. Mỗi lần quan toan đánh, ông Lý Mỹ đứng lên thưa:

– Cha tôi đã già, xin tha cho, tôi xin chịu đòn thay.

Quan thấy lý trưởng Mỹ có hiếu và ông Đích già nên chấp thuận, ông Trùm Đích chịu đòn một lần và đeo gông nhẹ. Ông Lý Mỹ chịu đòn gấp hai lần, y phục rách nát, thân mình đầm đìa máu. Có lần thấy con rể bị quan đánh dữ quá, khi ông Lý Mỹ từ công đường về tới nhà giam. Ông Đích nói:

– Các quan đánh dữ thế này, con chết mất, sống sao được đến ngày xử.

Những ngày trong tù, cha con ông Đích động viên, an ủi nhau siêng năng đọc kinh cầu nguyện, kiên vững đức tin, chờ ngày chịu án.

Lãnh án trảm quyết, đón nhận triều thiên

Hơn một tháng phải giam, ông trùm Đích siêng năng cầu nguyện. Không kể việc đọc kinh sớm tối cùng các bạn tù, ông còn đọc kinh riêng. Trong tù, cha Năm cùng ông và các bạn tù đọc kinh to như ở ngoài, các lính canh ngục vẫn làm ngơ. Ông xưng tội hai, ba lần; chịu lễ một lần. Những đồ ăn con cháu gửi, ông chia sẻ cho các bạn tù. Các bạn tù ngoại giáo rất cảm phục ông. Không còn cách nào khuyên bảo, dụ dỗ ông Trùm Đích quá khoá, các quan lập án, sớ vào kinh. Trong đó, án ông Trùm Đích các quan viết tâu vua như sau:

 “Tên Nguyễn Khiêm xưng rằng: Tôi 69 tuổi, quê làng Vĩnh Trị, có cửa nhà, đầy tớ ở đấy, vốn theo đạo Gia Tô và quen biết đạo trưởng Mai Năm khi còn học trò theo Tây dương đạo trưởng Giacôbê. Khi có chỉ ra cấm ngặt đạo Gia Tô, đạo trưởng Mai Năm ở đâu tôi không biết. Song đến tháng 3 âm lịch năm nay, đạo trưởng ấy xin trú nhà tôi. Tôi nghĩ tình quen thuộc nghĩa thiết xưa nay thì cho trú đến ngày 11 – 05 (âm lịch), các quan đến vây làng Kẻ Vĩnh bắt được đạo trưởng Mai Năm ở nhà tôi”.

“Tên Khiêm xin trị tội chẳng dám phàn nàn. Chúng tôi đã đòi nó ra công đường, ra sức dỗ dành khuyên bảo và bắt quá khóa nhiều lần nhưng tên ấy nói rằng: “Tôi theo đạo đã lâu, thà chết chẳng thà bỏ đạo”. Vì vậy, chúng tôi xét tên Khiêm tin theo đạo Gia Tô, dù triều đình đã nghiêm cấm đạo ấy, nó cũng chẳng chịu bỏ. Chẳng những nó không bắt đạo trưởng Mai Năm đem nộp cho quan, lại còn chứa giấu trong nhà mình. Dù chúng tôi khuyên bảo quá khoá nhiều lần, nó cũng không chịu xuất giáo. Vậy tên ấy cố tình bất tuân quốc pháp đã rõ, cho nên chúng tôi luận cho nó phải xử trảm quyết để kẻ khác biết mà sợ”.

Án ông được gửi về triều đình ngày 11-08-1838 vua Minh Mạng châu phê y án. Ngày hôm sau, ông Đích, cha Năm, ông Lý Mỹ bị xử trảm. Trên đường đi đến pháp trường Bảy Mẫu, ngoại thành Nam Định, ông Trùm bình tĩnh bước đi, nét mặt vui tươi. Nhưng vì tuổi già lại phải giam tù nên yếu lắm. Các quan cho hai lính nâng đỡ hai đầu gông. Đến nơi xử, ông Trùm cùng với cha Mai Năm, ông Lý Mỹ quỳ xuống chiếu ông Lý Thi con trai ông Trùm đã trải sẵn. Ba Đấng cầu nguyện một lúc, sau đó quan giám sát dịch loa tuyên án. Quan truyền xử cha Năm trước, ông Trùm Đích sau, cuối cùng đến ông Lý Mỹ. Lý hình chém một nhát đầu ông Trùm đứt ngay. Các con ông Trùm Đích đã mang sẵn quan tài gắn sơn. Họ đặt xác và đầu ông vào đó khiêng về làng Kẻ Vĩnh. Dân làng ra đón. Rước xác ba Đấng, họ đốt đuốc, đốt đóm nghênh đón các Ngài. Xác ông Trùm được đem về nhà năm sáu ngày. Sau đó mời cha đến dâng lễ qui lăng và làm phép xác. Dân làng Kẻ Vĩnh, bổn đạo các họ gần đấy đến rất đông rước xác quanh làng rất trọng thể, rồi đưa về an táng trong vườn trước cửa nhà ông. Ít lâu sau con cái xây mộ ông ngay ở đây. Đến năm thứ 11 đời vua Tự Đức các quan vây phá làng Kẻ Vĩnh thấy mộ xây ngỡ là nơi dấu của, truyền đào lên. Khi mở tấm ván thiên, thấy có xác người, họ bỏ đi. Sau này khi sang tiểu, con cháu kể lại họ thấy nước trong quan tài ông trong vắt như nước mưa.

Cùng với cha Năm, ông Lý Mỹ, ông Trùm Đích được Đức Thánh Cha Lêô XIII phong chân phước ngày 17-05-1900. Và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong Hiển thánh ngày 19-06-1988.

([1]) Truyện kể, một hôm vua Gia Long trên thuyền rồng từ Huế đi kinh lý dọc sông Hồng lên Thăng Long (Hà Nội) đi qua một làng ven sông, vua hỏi triều thần: “Làng nào đây?”. Triều thần thưa: “Làng Chi Long”. Một giờ sau vua lại hỏi:  “Làng nào đây?”. Triều thần lại đáp: “Làng Chi Long”. Bực mình thấy làng Chi Long rộng lớn, đi mãi không hết, vua buông lời nguyền: “Long long lở lở phượng rồng bay”. Làng Chi Long bắt đầu lở từ đó.

([2]) Theo Vè Chi Long, thửa đất làng Chi Long chuyển đến lập Trại do cha Lộc mua của Thứ Lâu  có hai mẫu mốt, được chia đều cho 38 gia đình, mỗi gia đình được 3 miếng ba than. Đất còn lại xây dựng thánh đường, cạnh làng xây Đền Thánh Giá.

([3]) Họ đạo Chi Long có lẽ cũng được đón nhận Tin Mừng cùng thời với Phú Đa, Công Xá (Nam Xang), vì Chi Long ở ven sông Hồng gần Phố Hiến thủ phủ của hai giáo phận Đông và Tây Đàng Ngoài. Tính đến năm 1895, khi làng Chi Long bị lở, họ đạo chuyển vào trong đê lập Trại (Chi Long hiện nay) có khoảng 38-40 gia đình theo đạo, số giáo dân khoảng 150-200.

([4])  Theo gia phả (Linh mục Nguyễn Tiến Ninh, cháu 05 đời của ông Thánh Đích sưu tầm 12-08-1992), ông Đích là người con thứ hai.

([5])  Trịnh Quang Khanh đã bị cách chức hồi cuối tháng 06-1838 sau vụ bắt được sáu bức thư Kẻ Rèm (Thái Bình lúc đó thuộc tỉnh Nam Định) ngày 17-04-1838, là những bức thư của cha Viên gửi cho hai Đức cha và 4 cha. Với sáu bức thư ấy, Minh Mạng cho rằng, Trịnh Quang Khanh chưa triệt để lùng bắt các đạo trưởng nên đã cắt chức ông.

([6])  117 Thánh Tử đạo, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển III1, tr 85.

([7])  117 Thánh Tử đạo, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Quyển III1, tr 90.

—————-

* Đính chính: Lúc 8h22, ngày 15/3/2024

“Thánh An-tôn Nguyễn Đích” SỬA THÀNH “Phê-rô Nguyễn Đích”. Căn cứ theo danh sách 117 Thánh Tử đạo Việt Nam ghi trong Sắc phong thánh, ký ngày 11/02/1991 tại Vatican.

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top