Ngày 23/10: Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Giáo hữu (1773-1833)

Ông Phao-lô Tống Viết Bường quen gọi là ông Đội Bường được phúc đổ máu ra vì Chúa Ki-tô sau Cha Ga giơ-lanh[1] (Kính) sáu ngày. Ông sinh ở Phủ Cam, gần Huế trong một gia đình danh tiếng, có đạo từ lâu đời. Ông nội và ông thân sinh ra ông đều làm quan trong triều. Bản thân ông ở trong quân đội, sau nhờ tài đức được giữ chức đội trưởng, ông có thẻ ngà và làm quan thị vệ trong đền vua. Vua Minh Mệnh biết và quý trọng ông. Vua thường khen ông rằng: “Ông Đội Bường rất hăng hái và tận tâm chu toàn việc bổn phận”.

Nhưng chức tước không làm sao nhãng bổn phận người có đạo. Ông chăm chỉ xưng tội rước lễ, siêng năng giúp các việc trong họ, trong xứ.

Bị cách chức vì Chúa Ki-tô

Hồi ấy vùng dân tộc ít người Đa Vách ở tỉnh Quảng Ngãi nổi lên chống lại triều đình, vua sai ông đi thanh tra công cuộc dẹp loạn. Ông thi hành mệnh lệnh ngay và trở về tường trình lên vua mọi việc.

Vua hỏi ông: “Ông có đến viếng chùa Non được không?” Ông thưa: “Tâu đức vua, không, vì đức vua không sai tôi đến đấy”. Vua bảo: “Đi thanh tra cuộc hành quân phải đi xem xét mọi nơi, tại sao ông lại không đến chùa Non được?”

– Thưa đức vua vì tôi có đạo.

Câu trả lời này làm vua Minh Mệnh nổi giận, vua trách mắng ông thậm tệ và ra lệnh trảm quyết ông ngay.

Một quan trong số bạn hữu ông Đội Bường can gián nhà vua, khoan hồng tha chết nhưng phạt ông phải 80 roi và cách chức xuống làm lính thường. Ông Đội Bường lấy tiền mua chuộc các quan và được về quê làm ăn.

Lệnh mới của vua Minh Mệnh

Ông Đội Bường về quê được hơn một năm thì vua ra lệnh phải khai tên những người lính có đạo trong đội thị vệ. Người ta nộp danh sách ấy lên vua. Vua hỏi: “Đội trưởng chỉ huy đâu?” Quan Thượng Thư Bộ Hình thưa: “Tâu đức vua, ông đã bị cách chức làm lính thường”. Vua ra lệnh: “Phải bắt nó ngay”

Ông Đội Bường bị bắt giam ở ngục Trấn Phủ chừng 5, 6 tháng, trong một phòng chật chội hôi hám. Ông phải mang gông nặng 7, 8 cân, sau lại bị xiềng xích, các mắt xích xiết chặt vào chân làm da thịt thối ra.

Quan cai ngục thương muốn thay xích nhẹ hơn, nhưng ông Đội Bường bảo: “Không cần, cho tôi xích khác nặng hơn thì càng tốt. Xích nhẹ chả có lợi gì”.

Khi thân xác chết, linh hồn sẽ bay về trời

Mười ngày đầu ông bị hỏi cung liên tục, lần nào cũng chỉ hỏi về việc đạo. Quan án hỏi ông: “Ông có khóa quá không?” Ông Đội Bường mạnh dạn thưa: “Không, Chúa tôi là Chúa dựng nên trời đất, mọi loài mọi vật, tôi phải thờ phượng, làm sao tôi có thể bỏ Chúa tôi được?” Và lần nào, đáp lại câu trả lời dũng cảm này là trận đòn khủng khiếp, thường phải 20 roi, có khi nhiều hơn, thịt nát, máu chảy, nhưng ông Phao-lô Bường không phàn nàn một tiếng. Bốn lần lính lôi ông qua thập giá là bốn lần ông chống cự.

Một lần quan ăn sai lính cầm chân ông đạp lên Thánh Giá, ông phản đối kêu to: “Tôi không bằng lòng, đây là việc quan làm”. Quan án tức giận quát: “Tên ngỗ nghịch, dám chống lại ta, quân đâu, đánh cho nó chết”. Trận đòn hôm ấy dữ tợn hơn thường lệ.

 Ý quan muốn cho ông khóa quá công khai để làm gương cho mọi người bắt chước, nhưng ông cựu Đội trưởng thị vệ này kiên cường trước mọi thử thách. Đôi khi ông ngất đi sau những trận đòn dã man; thân xác gục ngã, nhưng tinh thần không chút nao núng.

Hai, ba lần ở trước công đường quan Thượng Thư Bộ Hình Võ Xuân Cần dùng lời ngọt ngào thương xót mà quan đã làm bao người có đạo phải nao núng, quan nổi với ông Đội Bường rằng: “Bạn ơi, hãy vâng lời vua, hãy chối đạo đi. Vua đang thịnh nộ, bạn hãy theo ý vua, còn việc đạo sẽ liệu sau”. Vị tuyên xưng đức tin chân thành đáp lại: “Cảm ơn quan có lòng thương khuyên tôi. Tôi xin quan chuyển lên đức vua lời thỉnh cầu của tôi là tôi nguyện trung thành với Chúa tôi cho đến cùng”.

Hôm ấy trở về ngục, ông Đội Bường khẽ thở dài mấy cái, nhưng ngay lập tức ông lại vui vẻ như thường, nói chuyện với các bạn và khuyến khích họ rằng: “Hãy bằng lòng chịu đau khổ cho đến khi Chúa muốn cách khác và để cho các quan đánh chúng ta thỏa thích theo ý họ”. Rồi ông nói tiếp: “Khi thân xác chết, linh hồn sẽ về trời. Hãy mặc cho họ xử khắc nghiệt với chúng ta. Người ta đánh đập chúng ta nhưng chúng ta vác Thánh giá theo chân Chúa và nếu đau đớn quá, hãy xin Đức Mẹ giúp đỡ để chúng ta kiến tâm chịu khó đến cùng”.

Các quan bạn ông đến thăm khuyên ông rằng: “Sao ông cứ cam lòng chịu khốn khó làm gì? Phải biết thức thời một tí, khốn khó quá đi, sẽ liệu sau”.

Ông Đội Bương đáp: “Các ông đến thăm tôi khuyên những lời lẽ ấy thật không phải, tôi không muốn nghe.”

Với các bạn tù khuyên ông, ông tỏ vẻ không bằng lòng và bảo họ: “Không thể được”, rồi ông giải thích cho họ giáo lý chân thật và vẻ đẹp của đạo Chúa.

Một quan Văn cũng phải giam ở đấy khuyên các người có đạo bị bắt rằng: “Về ông Đội Bường, tôi không dám khuyên vì ông đã già, nhưng với các ông còn trẻ, các ông xem có đạo nào tốt mà lại dạy người ta bỏ cha mẹ già yếu, bỏ vợ con, của cải là những gì đáng tiếc xót? Vậy hãy khóa quá để được trở về với gia đình”. Ông Đội Bường giải thích: “Trong đạo chúng tôi, ai chết trẻ là đi đường ngắn, ai chết già là đi đường dài hơn, nhưng dù đi đường nào, chúng tôi cũng tới thiên đàng là quê hương thật”.

Đối với các lính canh, ông ôn tồn bảo họ: “Các anh hãy thử chịu đựng như chúng tôi, chúng tôi bị giam ở đây là do ý triều đình, không phải tại chúng tôi.

Chớ gì tôi được nêu gương cho hậu thế

Ở trong tù, ông Đội Bường viết cho Cha An một bài thơ ngắn đại ý như sau:

“Tôi vui mừng vì đây là những bằng chứng Chúa gửi đến cho tôi. Cổ tôi đeo xiềng, người ta canh giữ tôi rất ngặt không cho tôi được một phút tự do. Người ta đánh đập hành hạ tôi không lúc nào yên. Thân xác tôi rách nát, xương tôi bị dập gẫy, nhưng tất cả những sự đó vẫn chưa đủ để trả nợ Chúa. Sức tôi đã kiệt, tôi sắp chết, tôi không phàn nàn. Tôi chỉ cầu xin Chúa giúp tôi luôn vững vàng. Chớ gì tôi nêu gương cho hậu thế”.

Sự kiên cường dũng cảm này xuất phát từ lòng đạo đức sốt sắng. Mỗi ngày ông để nhiều thời giờ cầu nguyện suy ngắm, lần hạt. Tháng nào Cha An hay Cha Vựng cũng vào ngục giải tội và cho ông rước lễ. Đức Cha Giắc-ca[2] viết nhiều thư khuyến khích ông.

Thấy dọa nạt, tra tấn, khuyên bảo cũng không thắng nổi đức tin sắt đá này, quan Thượng Thư Bộ Hình Võ Xuân Cần xin vua tuyên án cho ông Đội Bường và các lính có đạo. Vua Minh Mệnh nổi giận truyền: “Hãy đánh cho đến khi chúng khóa quá. Chúng còn ngoan cố thì còn đánh cho đến chết rồi vất xác ra ngoài tường thành, không cần phải kết án”

Song lần khác quan Võ Xuân Cần tâu lại rằng: “Thưa đức vua, những người này bướng bỉnh lắm, không gì lay chuyển nổi, chúng đã bị đánh quá số roi quy định, bị đổi xử tàn tệ hơn bọn phản loạn, đã chết đi sống lại nhiều lần, chúng chỉ còn da bọc xương, xin vua lấy lòng nhân từ ban cho chúng một bản án cuối cùng là trảm quyết”.

Vua Minh Mệnh bằng lòng. Ông Đội Bường phải trảm quyết, bêu đầu nhiều ngày. Đối với dân Việt, hình phạt này làm cho án nặng hơn, các người có đạo chỉ phải trảm quyết.

Bản án ghi rằng: “Ngoan cố không bỏ đạo”.

Thời ấy dù án đã tuyên bố cũng để lại một thời gian, sau mới duyệt cho thi hành.

Ông Đội Bường phải đổi sang ngục Khám đường. Ở đây ông không bị tra tấn nữa, nhưng luôn luôn có người đến quấy rầy khuyên ông bỏ đạo. Một quan khuyên ông Đội Bường và các người có đạo rằng: “Vua tức giận đã ra lệnh tra tấn đánh đập các người. Nếu các người suy nghĩ mà bỏ đạo vua sẽ tha cho về nhà làm ăn, sao các người không theo lại bằng lòng chịu đau đớn thế này”. Ông Đội Bường thưa thay rằng: “Chúng tôi cám ơn vua, nếu vua ban ơn, chúng tôi xin đội ơn, nếu vua chém chết, chúng tôi bằng lòng, còn bỏ Chúa thì không thể được”.

Ước ao được đổ máu trên nền nhà thờ bị tàn phá

Ông Phao-lô Tống Viết Bường không được hưởng đặc ân xét duyệt lại án. Vua truyền xử ông ngay. Đầu tiên ông biết tin sắp có cuộc hành quyết nhưng không biết ai là nạn nhân, rồi ông được biết người ấy chính là ông, ông vội vàng gọi các bạn tù bảo rằng: “Ngày trọng đại sắp tới rồi, hãy ăn năn tội, xin Chúa giúp chúng ta.”

Hôm ấy là ngày 23-10-1833, vào quãng 5 giờ chiều, sau 15 tháng tù đầy, người ta đến giải ông đi xử. Ông phải xử ở Thợ Đúc cách kinh đô một quãng. Ông bình tĩnh từ giã mọi người rằng: “Xin anh em cầu nguyện cho tôi để tôi được theo thánh ý Chúa, đừng lo cho số phận tôi, hãy trung thành với Chúa đến cùng”.

Một người lính cầm thẻ án đi trước đọc to: “Rao cho hàng phố và xóm làng được biết: “Tống Viết Bường, theo đạo Gia-tô, không chịu khóa quá, nên vua truyền trảm quyết”.

Đoàn hành quyết tới đường Thợ Đúc thì một quan được lệnh vua phái đến gặp ông Đội Bường nói: “Vua truyền rằng: Dù người ta dẫn ông đi xử, nhưng nếu ông khóa quá, vua sẽ khoan hồng ngay”.

Ông Đội Bường trả lời: “Xin quan dẫn tôi đến nơi xử ngay để tôi được chết về cùng Chúa tôi. Còn khóa quá, không bao giờ”.

Ông lại tiếp tục đi, vui tươi dâng của lễ cao trọng.

Nghe tin ông phải xử, con gái ông chạy theo. Đây là lời bà kể lại: “Tôi trông thấy cha tôi, người nhìn tôi không nói lời nào. Tâm hồn tôi xúc động rối bời, tôi vừa khóc vừa đi theo đoàn lính. Gần đến nơi xử thì tối, quan truyền dân hàng phố phải đốt đuốc, họ làm ngay. Cha tôi xin quan Giám sát được xử ở nền cũ nhà thờ họ Thợ Đúc, quan bằng lòng, nhưng vì lính cưỡi ngựa không thể đi qua cầu được vì cầu ọp ẹp sắp gẫy. Thấy thế, quan Giám sát bảo: nếu vậy xử ngay ở đây. Chỗ này ở giữa đường, gần cạnh nhà tôi. Tôi thấy ông Thục ở Phủ Cam đưa chiếu cho lính, họ giải chiếu xuống đất và cha tôi quỳ vào đấy, đọc kinh dọn mình chết. Cha tôi cầu nguyện xong, lính trói người và chém đầu ngay. Lúc đó khoảng 8 đến 9 giờ tối ngày 23-10-1833”.

Đầu ông Phao-lô Tống Viết Bường phải bêu lên cao 3 ngày trên đống gạch đổ nát của nền nhà thờ họ Thợ Đúc, nêu lên một bằng chứng đức tin dũng cảm hiên ngang và như muốn nói với mọi người rằng: “Dù mọi sự bên ngoài có sụp đổ, tan hoang, thì niềm tin vào Chúa Ki-tô vẫn sáng chói vượt thắng tất cả.”

Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho ông Phao-lô Tống Viết Bường ngày 27-5-1900, về sau, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II lại phong hiển thánh cho ông ngày 19-6-1988.


[1] Gagelin

[2] Jaccard.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top