Ngày 24/11: Thánh Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm – Linh mục (1761-1838)

Thánh Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm sinh năm 1761 tại làng An Do, gần Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Ngay từ nhỏ cậu Vinhsơn Điểm đã có lòng ao ước được dâng mình cho Chúa, do đó cậu chuyên cần học hành để khi có hoàn cảnh thì xin đi tu. Ý nguyện ấy Chúa đã chấp nhận và khi học xong bậc trung học thì cậu đã được nhận về trường Kẻ Vĩnh, Nam Định thuộc điạ phận Tây Đàng Ngoài để theo học làm linh mục.

Tại trường Kẻ Vĩnh thầy Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm học xong triết và thần học, bề trên thấy thầy là một chủng sinh đạo đức, tư cách chững chạc lại học hành rất khá nên đã được Đức Giám mục điạ phận Tây Đàng Ngoài truyền chức linh mục cho thầy.

Sau khi lãnh nhận chức linh mục, cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm được bổ nhiệm làm chánh xứ Cồn Nam kiêm nhiệm coi sóc các tín hữu thuộc vùng lân cận hạt Bố Chính. Với trọng trách này, cha Vinh Sơn Điểm đã nhiệt tình phục vụ và nêu gương sáng của một vị mục tử đạo đức, nhân từ, nhất là đối với người nghèo khổ, cha tỏ ra yêu thương và giúp đỡ họ tận tình. Lúc nào cha cũng hết lòng và chuyên cần rao giảng Lời Chúa và sốt sắng ban phát các bí tích cho giáo dân và loan báo Tin Mừng cho mọi giới, mọi người trong hoàn cảnh có thể được.

Ngoài bổn phận rao giảng Tin Mừng cho mọi người, cha còn đặc biệt chú tâm tới việc huấn luyện và đào tạo các Thầy Giảng vì cha đã biết rõ vai trò các Thầy Giảng rất hữu hiệu và cần thiết để có thể quảng đại rao giảng Tin Mừng trong quần chúng. Để công việc tông đồ được kết quả tốt, cha thiết tha cầu nguyện với Đức Maria và ăn chay một tuần hai ngày, thứ Tư và thứ Bảy. Ngài nói, lời cầu nguyện phải đi đôi với việc hy sinh hãm mình, có như thế thì công việc tông đồ mới mong có kết quả tốt và mới được Chúa và Đức Mẹ chúc phúc.

Năm 1838, vua Minh Mạng ra sắc chỉ quyết tâm tiêu diệt đạo Công Giáo. Các cuộc bách hại đạo bắt đầu bùng nổ! Qua sắc dụ kinh hoàng ấy của vua Minh Mạng, các quan từ tỉnh đến huyện khắp nơi ra công ra sức lập công với triều đình nên  kéo nhau đi tầm nã bắt các đạo trưởng và tín hữu. Ngày 2 tháng 7 năm 1838, quan quân kéo nhau về tầm nã vùng Bố Chính để bắt vị Thừa Sai Candalh Kim. Không bắt được cha Candalh Kim vì ngài đã trốn thoát thì họ bắt đuợc cha Vũ Đăng Khoa, trước kia là cha phó của cha Nguyễn Thế Điểm cùng với hai Thầy Giảng là thầy Đức và thầy Khang tại làng Lệ Sơn, rồi giải về nộp cho quan tỉnh Đồng Hới.

Sau đó, quan quân lại tiếp tục  truy nã khắp vùng Bố Chính, quan quân không bắt được vị Thừa Sai nào, nhưng khi bao vây tới gần làng Đơn Sa, họ bắt được cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm và một chú học sinh đi theo Cha. Sở dĩ họ bắt được cha Điểm là khi ấy cha nghe tin cha Vũ Đăng Khoa bị bắt, cha Điểm sai chú học sinh tên Sang đến làng An Bì dò hỏi xem các tín hữu ở đó có ai dám đón nhận Cha tới ẩn trú không. Các tín hữu  thấy mình không đủ bảo đảm an ninh cho Cha nên không dám nhận lời. Lúc ấy cha còn đang lén lút trú ẩn ngoài đồng ruộng thì bị bắt rồi cũng bị giải về Đồng Hới. Về tới Đồng Hới bị tống giam vào nhà tù thì thật là một hồng ân vô cùng lớn lao, Ngài gặp lại được Cha Khoa, cha Borie Cao, thầy Giảng Nguyễn Khắc Tự, ông trùm Nguyễn Hữu Quỳnh. Tất cả các chứng nhân này sau đã được phúc tử vì Đạo và nay đã được cùng nhan tôn vinh lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Khi bị giải về tới Đồng Hới, cha còn đang mệt nhọc và vì quá sợ hãi nên khi bị tra tấn, bị đánh đòn quá đau đớn, cha Vinh Sơn Điểm đã lỡ miệng khai một vài tên nhà tín hữu cha hay lui tới. Nhưng khi bắt cha bước lên ảnh tượng thì cha lại rất cương quyết và mạnh bạo, nhất quyết không bước qua. Khi họ đã đánh cha ngất xỉu thì họ đưa cha về nhà giam. Khi tỉnh lại, cha vô cùng ân hận vì đã lỡ miệng khai một vài nhà người tín hữu, cha tìm cách để cải chính với các quan. Sau ít ngày, quan lại gọi cha tới công đường, cha đã nhanh nhẹn thưa ngay với quan:

– Thưa quan lớn, tôi già nua lẩm cẩm và vì trong lúc quá sợ hãi nên tôi đã khai lung tung không đúng, có khi gây hiểu lầm và  oan ức cho những người khác. Xin quan lớn bỏ qua những lời khai của tôi lần trước.

Quan thấy cha già 77 tuổi rồi lại ốm yếu thì không tra tấn thêm, đàng khác theo luật pháp lúc ấy cấm tra tấn tù nhân cao niên. Nhưng vẫn cho lệnh bắt cha phải đeo gông và xiềng xích, đêm ngủ thì hai chân bị cùm trong xà lim. Những lần bị  tra khảo sau thì bao giờ cũng được đi theo cha Võ Đăng Khoa và cha Borie Cao nên mỗi khi bị tra vấn thì bao giờ hai cha trẻ cũng trả lời thay cho cha già. Cha già Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm cứ giữ thinh lặng. Ngài chỉ lên tiếng khi phải tuyên xưng đức tin của mình. Có lần quan hỏi cha:

Này đạo trưởng Điểm Hoàng Thượng đã ra lệnh cấm đạo rất nghiêm khắc. Vậy nếu ông bước qua Thánh Giá thì tôi sẽ cho ông về tự do. Ông già rồi, tôi cũng không muốn hành hạ và giết ông.

Cha nghe quan nói, cha đứng thẳng người và bằng một thái độ rất khẳng khai, cha nói:

– Thưa quan lớn, tôi thà chết một trăm lần, chứ bước qua Thánh Giá thì trăm ngàn lần cũng cương quyết là không. 

Trong thời giam bị giam tù chung với các linh mục, thầy Giảng và giáo dân, cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm chứng tỏ được tư cách của một linh mục niên trưởng: Ngài luôn sốt sắng nhắc nhở mọi người đọc kinh, cầu nguyện. Ngài khuyến khích mọi người phải luôn trung thành với Chúa, dầu có phải chết thì cũng phải can đảm chấp nhận. Ngài luôn vui vẻ với mọi người, chia sẻ cơm bánh cho cả những bạn tù không phải là Công giáo. Ngài vui mừng chia sẻ niềm vui với cha Borie Cao khi được tin Toà Thánh  đặt Ngài làm Giám mục địa phận Tây Đàng Ngoài. Trước những tin vui mừng đó, các cha cảm thấy phấn khởi và thêm lòng cậy trông vào ơn thánh Chúa, nhất là được thêm ơn Chúa Thánh Thần. Cha Khoa, cha Điểm sung sướng đến xin phép lành của Đức Tân Giám Mục Borie Cao ngay trong nhà tù. Mọi người vững vàng và sốt sắng cầu xin được phúc đổ máu mình ra tử vì đạo để làm chứng cho đạo thánh Chúa. Tuy bị giam cầm trong nhà tù, nhưng các môn đệ của Chúa Kitô luôn vui vẻ và sống an bình trong tình thương của Chúa.

Sau nhiều ngày các quan đã tìm mọi cách để thuyết phục các ngài bước qua Thánh Giá và bỏ đạo, nhưng các quan đều thất bại nên các quan đã bàn luân và đồng thuận làm bạn án gửi về triều đình in vua Minh Mạng phê chuẩn.

Ngày 24 tháng 11 năm 1838, bán án được vua Minh Mạng phê chuẩn gửi về tới Đồng Hới. Ước mong của cha già Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm đã được. Cha bị án xử giảo, nghĩa là bị thắt cổ cho tới khi chết.

Đức cha Borie Cao và cha Phêrô Võ Đăng Khoa cũng bị xử cùng ngày. Cả ba vị chiến sĩ kiên cường của Chúa cùng bị điệu ra pháp trường. Đi trước mỗi cha là một anh lính đi trước cầm tấm thẻ ghi chữ Hán cho mọi người biết đây là đạo trưởng của tà đạo Gia Tô đã ngoan cố bất chấp lệnh của vua nên phải chết.

Tất cả đi tới nơi xử, cha già Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm quì xuống cầu nguyện rồi đội lý hình tới tháo gông, cởi xiềng xích rồi trói chân tay cha vào cột, đoạn cuốn giây thừng vào cổ cha, mỗi đầu giây có hai anh lính cầm đầu giây sẵn sàng, đợi hiệu lệnh thì các anh lính kéo hai đầu giây thậy mạnh cho tới khi vị chứng nhận Đức Tin tắt thở. Cha Phêrô Võ Đăng Khoa cũng bị xử cùng một hình thức như cha Vinh Sơn Điểm, còn Đức Cha Borie Cao là người ngoại quốc thì bị trảm quuyết, chém đầu.

Sau đó, giáo dân tới xin thi hài ba vị tử đạo và theo lệnh chỉ được chôn táng ngày nơi xử, nghĩa là ngay tại pháp trường Đồng Hới. Về sau cha Tự đã cải táng rước về nhà thờ họ Hướng Phương. Tại đây đã xẩy ra một sự kiện lạ lùng là có một chú học sinh lén tới lấy trộm một khúc xương đốt ngón tay trỏ của cha. Anh này liền bị đau bụng hãi hùng, cha Tự thấy thế nghi chú này đã làm điều gì bậy bạ. Cha hỏi thì chú thú nhận là đã lấy khúc xương ngón tay của cha thánh. Chú đem trả lại và đến quì cầu nguyện trước linh hài cha thánh thì được khỏi ngay. Một chuyện khác là năm 1867, một chủ điền nuôi nhiều bò, một hôm ông tha bò tới ăn cỏ và dặm lên mộ của cha. Mấy con bò ăn cỏ xong và dẵm lên mộ của cha, bò liền bị liệt luôn hai chân, không sao đi nổi. Ông điền chủ biết tội liền tới quì bên mộ khấn xin cha thánh tha tội. Sau đó đàn bò liền khỏi và đi lại một cách bình thường. Nhiều người đau ốm đã tới khấn xin với Ngài và được khỏi bệnh như lòng tin cậy.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong cha già Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top