Ngày 09/5: Thánh Giuse Đỗ Quang Hiển – Linh mục (1775-1840)

14326 St. GiuseDoQuangHien

Thánh Giuse Đỗ Quang Hiển sinh quán tại làng Quần Anh Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nay thuộc giáo phận Bùi Chu.

14326 St. GiuseDoQuangHien

Ngay từ bé, cậu đã được Đức Cha  Delgado Y nhận cho vào sống trong Nhà Đức Chúa Trời. Đức Cha  cho ăn học xong thần học thì khấn trong dòng Đa Minh ngày 13 tháng 10 năm 1812 rồi lãnh chức linh mục và được gửi đi du học tại Manila, Phi Luật Tân. Trở về Việt Nam, cha Giuse Đỗ Quang Hiển được sai đi giúp mục vụ tại nhiều nơi khác nhau, sau thì được bổ nhiệm về coi xứ Cao Mộc.

Là cha xứ của một giáo xứ lớn, Cha Giuse Đỗ Quang Hiển đã hết lòng lo lắng cho con chiên bổn đạo học hỏi giáo lý, nhất là cổ động cho mọi người yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và siêng năng lần hạt Mân Côi sáng tối. Cha cũng luôn luôn thúc giục con chiên phải năng xưng tội rước lễ và tham dự thánh lễ hằng ngày. Các ngày thứ Sáu hằng tuần cha ăn chay để đền tội và cầu nguyện cho con chiên bổn đạo trong giáo xứ của cha. Nhiều người đã ca tụng và khen rằng cha có biệt tài khuyên giải những bất hoà, những nghi kỵ giữa người này với người khác cũng như những khó khăn của giáo dân thường xẩy ra trong cuộc sống hằng ngày. Mỗi khi gặp những khó khăn và phải giúp giải quyết những trường hợp như vậy, bao giờ cha cũng khuyên họ đọc kinh Mân Côi và cầu nguyện, rồi sau đó mới ngồi lại với nhau để nghe cha phân giải. Nhờ sự cầu nguyện và sự khôn ngoan Chúa ban mà cha đã rất thành công trong sứ vụ là Cha Xứ. Giáo dân rất thương mến cha, coi cha như người cha trong gia đình.

Khi vua Minh Mạng ra sắc lệnh cấm đạo, cha đã khôn khéo trốn lánh nhiều nơi để có thể tiếp xúc với giáo dân thường xuyên. Năm 1818 cha trở về Đất Vượt làng Quần Anh ẩn ở nhà người em gái tên là Thìn một thời gian ngắn, rồi lại trốn sang nhà bà trùm Hảo ở Hưng Nghĩa không lâu thì bị bại lộ, Cha lại phải bí mật trốn về Trung Thành xã Kiên Lao ở trong hầm nhà bếp của ông Mai Văn Mới một thời gian khá lâu,  khoảng 9 tháng thì một hôm có một người tên là đội Nhật ở làng bên cạnh đã bỏ xưng tội rước lễ khá lâu nay bệnh nặng có thể chết nên đã nhờ cậy nhiều người tìm mọi cách liên lạc xin rước cha tới để được xưng tội rước lễ trước khi chết.

Khi biết tin có người bệnh gần chết muốn gặp cha để xưng tội thì cha vui mừng, tìm mọi cách để tới thăm bệnh nhân và giải tội cho bệnh nhân. Ngày 7 tháng 11 năm 1839 cha tìm cách lén lút tới giải tội và xức dầu cho người bệnh nhân này. Không ngờ, một người ngoại giáo phát giác liền tức tốc đi tố cáo với quan tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh..Quan tổng đốc cấp tốc cho quân lính tới vây kín làng Trung Thành và đi khám xét từng nhà. Cha Giuse Hiển và chủ nhà là ông Mai Văn Mới nghĩ rằng hầm bí mật này chắc chắn lắm, không có ai biết nên cha cứ bình tĩnh dâng lễ và đọc kinh. Nhưng không ngờ vì đã có người theo dõi biết chỗ ở của cha nên họ đã chỉ điểm quân lính tới bắt cha ngay trong hầm trú, tịch thu đồ lễ và bắt luôn ông Mai Văn Mới là chủ nhà một cách dễ dàng. Hôm ấy là ngày 20 tháng 12 năm 1839.

Cha bị bắt rồi họ giải cha về Nam Định nộp cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Quan tra hỏi lý lịch của cha và những nơi cha đã phục vụ rồi bắt bước qua Thập Giá, cha chối, không chịu đạp lên Thập Giá, quan bực tức ra lệnh đánh 40 roi giữa lúc trời mùa đông buốt lạnh. Đánh rồi quan lại truyền lấy nước lạnh đổ từ đầu tới chân, làm cho các vết máu trên người cha càng thêm nhức nhối. Sau đó, quan truyền lệnh đeo gông cùm, xiềng xích tay chân nặng nề rồi tống vào ngục. Trước những khổ hình đau đớn ấy, cha vẫn vui vẻ chấp nhận vì yêu mến Chúa, để làm chứng cho Chúa. Ở trong tù, cha vẫn giảng đạo, dạy giáo lý và Rửa Tội cho một số bạn tù. Những bạn tù không phải là người Công giáo cũng thương mến cha. Thấy cha hiền lành, hay giúp đỡ  những người chung quanh, nhất là thấy cha bị đòn đau đớn, bị tra tấn tàn nhẫn quá sức mà cha vẫn kiên trì chịu đựng, không một lời ca  thán, nên nhiều người muốn cha nói về đạo, về Chúa để họ hiểu biết rồi xin trở lại đạo.

Trong thời gian bị giam tù, rất nhiều lần cha phải đối diện với các quan, đối chất với các quan về đạo và lần nào cha cũng thắng lý lẽ các quan. Có lần ra toà, các quan hỏi cha

– Đạo Gia Tô là đạo của Tây, tại sao ông lại nghe theo họ cách dễ dàng như thế?

– Đạo Gia Tô dạy thờ phượng Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng trời đất muôn loài muôn vật. Tây hay ta đều là con người được Thiên Chúa dựng nên. Người Tây thờ phượng Thiên Chúa, người ta cũng thờ phượng Thên Chúa. Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người Đạo Thiên Chúa, không phải là đạo Tây hay đạo ta. Xin các quan suy nghĩ kỹ mà xem.

– Nhưng lệnh vua đã cấm  truyền đạo Gia Tô. Ông phải vâng lênh vua chứ?

– Vua không có quyền cấm chúng tôi theo đạo Thiên Chúa. Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa trước khi phải vâng lời vua. Điều gì vua dậy mà trái với Thiên Chúa thì chúng ta không buộc phải theo, vì chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa trước đã.

Rất nhiều lần cha bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn, khi thì các quan lại giả tình giả nghĩa nói những lời thân thiện, quí mến, khuyên dụ cha bỏ Đạo, bước lên ảnh tượng. Nhưng với lời khiêm tốn, cha cám ơn các quan và xác quyết rằng dầu có phải chết thì cha cũng vui mừng đón nhận chết, chứ dứt khoát là sẽ không bao giờ cha chối bỏ Thiên Chúa, không bao giờ chà đạp trên Thánh Giá và ảnh tượng Chúa.

Sau cùng, biết rằng không thể thuyết phục được cha quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã đệ án tử hình và ngày đầu tháng 5 năm 1840 vua Minh Mạng đã chuẩn y án. Quan Trịnh Quang Khanh đã cho thi hành án lệnh tử hình cha Giuse Đỗ Quang Hiển.

Ngày 9 tháng 5 năm 1840, cha đã phải đeo gông rất nặng theo toán quân đông đảo tiến ra pháp trường. Tới nơi, cha quì xuống sốt sắng cầu nguyện, mắt hướng về Trời, nét mặt tươi sáng như muốn bay bổng về trời. Một tên lý hình vung cao gươm rồi chém đầu cha. Giáo dân đứng chung quanh xô nhau tới lấy vải thấm máu cha, lấy còng tay và những dụng cụ của cha. Xác cha được chôn ngay tại pháp trường. Sau ít tháng thì anh Phêrô Dậu là người trước kia cũng bị bắt vì theo đạo và bị giam chung với cha, anh đã cải táng và đưa về an táng tại Chủng viện Lục Thủy, giáo phận Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn Ngài lên hàng HIển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top