Ngày 18/12: Thầy Phêrô Trương Văn Đường – Thầy Giảng (1808-1838)

Thánh Phêrô Trương Văn Đường sinh năm 1808 tại làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

12911 Phero Truong Van Duong

Gia đình tuy rất nghèo khó nhưng lại rất nổi tiếng là đạo đức, tốt lành. Ngay từ nhỏ, cậu Phêrô Trương Văn Đường đã được người chú ruột là linh mục Trương Văn Thi, phụ trách xứ Sông Chảy cũng được phúc là thánh tử đạo, đỡ đầu lúc cậu lên 9 tuổi. Cậu Đường ở với cha chú Phêrô Trương Văn Thi được ít lâu thì cha Thi lại gửi cậu tới ở với cha Phượng là cha xứ An Tập học la tinh trong thời gian 6 năm rồi sau đó cha Phượng lại gửi chú Phêrô Trương Văn Đường tới giúp cha Trạch xứ Bầu Nọ. Năm 26 tuổi thì thầy Phêrô Đường được Đức Cha Havard Du ban sắc cho làm Thầy Giảng và chính thức thi hành chức vụ Thầy Giảng tại giáo xứ Bầu Nọ dưới quyền cha Cornay Tân là chánh xứ.

Nhờ tính tình  vui vẻ, cởi mở, hiền lành, lại chăm chỉ chu toàn chức vụ và sốt sắng đọc kinh lần hạt Mân Côi nên giáo dân từ già tới trẻ, ai ai cũng quí mến và khen Thầy là “thánh sống”.

Tới thời kỳ đạo Chúa bị cấm cách, các vị Thừa Sai bị truy nã gắt gao, cha chánh xứ Bầu Nọ là cha Cornay Tân phải ẩn lánh thì trong nhà xứ chỉ còn Thầy Phaolô Mỹ, Thầy Phêrô Đường, Thầy Phêrô Truật. Thầy Phêrô Đường mau mắn vâng lời bề trên và cần mẫn làm tràng hạt phân phát cho các tín hữu. Tới khi có người ngoại giáo theo dõi rồi đi tố cáo với quan huyện là tại Bầu Nọ có cố Tây tên là Cornay Tân nên quan huyện vội vã cho đoàn quân binh lính đông đảo đổ về vây kín làng Bầu Nọ để bắt cố Tây đạo trưởng. Từ sáng tới chiều, đoàn quân xục xạo, khám xét khắp nơi nhưng không bắt được đạo trưởng nào. Sau cùng lúc kiểm kê nhân đinh tại đình làng khi ấy các thầy Mỹ, Đường, Truật đều phải có mặt tại đó nên đã có người nhận diện và tố cáo cả ba Thầy là những người cộng tác đắc lực với cố Tây đạo trưởng trong làng này. Vì vậy quan đã ra lệnh bắt trói luôn cả ba Thầy và các Thầy bị tra khảo nơi ở của cố Tây đạo trưởng, các Thầy nhất định không khai báo nên bị đánh đòn, máu chảy ra đầm đìa ướt hết cả quần áo.

Sau khi ba Thầy bị tra tấn rất tàn ác và bị trói chân tay, đặt nằm dưới sân đình làng . Lúc trời đã gần tối thì bọn lính lại reo hò vui mừng vì đã bắt được cố Tây đạo trưởng Cornay Tân! Cha Cornay Tân bị họ bắt được và trói rồi nhốt trong chiếc cũi đem về để bên cạnh ba Thầy. Khi nhìn thấy các Thầy bị đánh quá tàn nhẫn, máu me chảy đầm đìa ướt cả quần áo thì cha Cornay Tân đã lớn tiếng la lên:

– Bên nước chúng tôi không có việc tra tấn dã man như thế!

Thầy Phêrô Trương Văn Đường bị đánh 90 roi. Thầy bị đau đớn lắm, nhưng thầy luôn tỏ ra vững vàng tin cậy Chúa, luôn kiên trì trung thành với đạo Chúa.

Trong những lần bị tra tấn, phần nhiều Thầy Phaolô Mỹ trả lời thay cho cả ba Thầy. Nhưng khi tra tấn và quan bực bội quát hỏi Thầy Đường thì Thầy chỉ vắn tắt trả lời cách dứt khoá rằng:

– Bẩm quan lớn! quan lớn muốn tha thì nhờ ơn quan lớn. Nếu quan lớn bắt chúng tôi và chém đầu hay phải chết cách nào thì tôi sẵn lòng chấp nhận. Còn việc bắt tôi bước lên ảnh tượng Chúa tôi và bỏ đạo thì dứt khoát là không bao giờ tôi bước lên Chúa tôi và bỏ đạo. Quan lớn nên biết rằng, bỏ đạo dể sống thêm ít ngày ở thế gian này mà chết mất linh hồn và xác đời đời thì vô phúc đời đời.

Biết là không còn cách nào để thuyết phục được nữa nên các quan đã đồng quyết làm án xử giảo trình lên triều đình. Nhưng khi gửi án lệnh xuống thì vua Minh Mạng đã sửa lại là Giảo Giam Hậu.

Biết chắc chắn mình sẽ phải chết nên Thầy đã biên cho cha  Marette Phan lá thư để nói lên lòng trung thành với Chúa và Giáo Hội, đồng thời xin cha cầu nguyện cho Thầy. Trong bài tường thuật về cuộc tử đạo của Thầy, Cha Marette Phan đã nhắc lại những lời Thầy Phêrô Đường đã viết cho Ngài như sau: “Con mọn là Đường lạy Cố ngàn lạy. Con có nhiều tội không đáng viết thơ cám ơn và cầu chúc Cố, song tin vào lòng nhân lành của Chúa Giêsu Kitô, con xin Người gìn giữ Cố hồn an xác mạnh để Giáo Hội Bắc Việt được tồn tại lâu dài nhờ các việc lành của Cố. Từ khi con được diễm phúc chịu khổ vì Đức Tin, con vẫn nương nhờ Thầy Phaolô Mỹ viết thay. Nhưng hôm nay trước khi sắp lìa bỏ trần gian này con tự nghĩ đến công ơn nhiều vô vàn của Cố, như là cây trên rừng, cát dưới biển. Con sợ là vô ơn nếu không ít nhất một lần bày tỏ lòng biết ơn của con. Con chọn ngày hôm nay là ngày con được rước Mình Thánh Chúa. Sau khi con tạ ơn Chúa đã tới thăm viếng con trong nhà tù này, con nhớ tới công ơn của Cố. Con cám ơn Cố muôn ngàn lần. Con cũng xin Cố nói lại với hai Cha chú của con là Cha Thi và Cha Đệ mỗi Cha làm cho con ba lễ theo ý chỉ sau đây:

– Lễ thứ nhất cầu cho tất cả những người làm việc truyền giáo đã qua đời, là những người đã vất vả vì giáo dân và đang chia sẻ nghĩa vụ.

– Lễ thứ hai cầu cho tất cả ân nhân của con từ bé đến lớn, nhất là những người đã coi sóc con trong nhà giam này.

– Lễ thứ ba cầu cho cha mẹ con và tất cả các linh hồn đang phải giam trong luyện ngục.

Về phần con, con không xin gì vì tin chắc rằng Cố sẽ không quên con sau khi con chết, cũng như trong suốt cuộc đời của con”.

Năm Minh Mạng thứ 19, năm 1838 các quan triều đình duyệt xét các án, rồi truyền lệnh phải xử giảo cả ba Thầy. Ngày 7 tháng 12 quan cai ngục báo tin cho các Thầy biết.

Các Thầy nhắn tin cho Cha Triệu đến chứng kiến giữa đám đông trong ngày hành quyết để ban phép giải tội sau cùng và chúc lành cho ba Thầy.

Ngày hôm sau, vào khoảng 12 giờ trưa, ngày 18 tháng 12 năm 1838 một đoàn quân hùng hậu tới 300 binh lính xếp hàng hai áp giải các Thầy ra pháp trường. Mỗi thầy có 4 lý hình đi theo sát, hai bên 2 lý hình giữ gông, xiềng xích, 1 tên lý hình đi trước mang bản án viết trên gỗ, 1 tên lý hình đi theo sau mang chiếc gươm to sáng loáng. Bản án của Thầy Phêrô Trương Văn Đường ghi như sau: “Trương Văn Đường sinh quán ở làng Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, có tội theo đạo Gia Tô. Án mùa Thu năm nay truyền cho nó phải xử. Minh Mạng năm 19, ngày 2 tháng 11 âm lịch”

Đoàn quân đi tới phố Nhi thì dừng lại. Theo thông lệ của nhà nước trước khi bị hành quyết thì dọn cho các tử tội một mâm cơm. Các Thầy đều từ chối nhất định không ăn. Các Thầy nói là đã có của ăn trên Trời rồi, không cần của ăn ở dưới thế gian này nữa. Các Thầy mời đội lý hình ăn thay cho các Thầy. Thầy Phêrô Đường bị đội lính ép mãi thì Thầy nói:

–  Chúng tôi kiêng không ăn uống rượu là dấu chứng tỏ chúng tôi từ bỏ mọi sự vui sướng xác thịt và không thông đồng với giặc như các quan đã cố tình buộc tội cho chúng tôi.

Sau một ít phút dừng chân ở phố Nhi, đoàn quân lại tiếp tục tiến tới pháp trường là Gò Sỏi ở Bến Mới tức Mông Phụ. Cha Triệu đã nhanh chân nhập vào đám quần chúng đông đảo. Cha cố tình len tới gần để các Thầy nhìn thấy để giải tội lần sau hết cho các Thầy. Các Thầy bị trói hai tay rồi kéo thẳng ra trói chặt vào hai cột, hai chân cũng bị trói rất chắc vào cột, cổ thì bị cuốn giây thừng, đợi lệnh cuối cùng thì đội lý hình kéo hai đầu giây thật mạnh cho tới khi tử tội tắt thở. Đội lý hình xử Thầy Đường vì đã không chuẩn bị đúng mức nên khi vừa nghe tiếng chiêng trống lệnh cuối cùng thì lý hình kéo giây mà không thắt cổ đúng mức nên làm cho Thầy Đường phải vật vã hồi lâu, đầu mới nằm xuống đất. Sau đó, lý hình phải đốt ngón chân cái để xem tội nhân đã chết thật chưa. Nhưng tên lý hình cẩu thả đốt luôn cả bàn chân Thầy Đường, khiến dân chúng đứng chứng kiến chung quanh la lối lớn tiếng cho là tàn ác quá. Thấy thế, quan giám sát liền phạt tên lý hình ba cái cán gươm.

Sau đó, đông đảo giáo dân và thân quyến đã tới xin nhận xác ba Thầy rước về Kẻ Máy, Cao Mại, nơi đó có Cố Marette Phan, cha Triệu, cha Trình làm lễ tiễn đưa rồi an táng trong nhà bà Tín, một giáo dân ngoan đạo. Một thời gian sau, Cha Phương xin cải táng rước về đặt ở gian thứ hai tại nhà thờ Kẻ Máy.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã suy tôn Thầy Phêrô Trương Văn Đường lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top