Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân (1795-1939)

14384 St. AugustinoPhanVietHuy

Thánh Augustinô Phan Viết Huy sinh năm 1795 tại làng Hạ Linh, thuộc xứ Liên Thủy, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu, trong một gia đình Công giáo ngoan đạo. Ngài đã lập gia đình và khi bị bắt vì đạo Chúa Ngài đã 44 tuổi.

14384 St. AugustinoPhanVietHuy

Ở tuổi thiếu niên Ngài đã dâng mình vào Nhà Đức Chúa Trời để xin học làm Thầy Giảng sau này. Trong thời gian tu trì, Ngài đã được học rất nhiều về thần học và tu đức nên khi phải nói về đạo Ngài trình bày rất mạch lạc và rất giỏi về giáo lý, về Đức Tin. Sau khi học, Ngài cảm thấy đời tu trì không hợp với ơn gọi của mình nên Ngài đã xin ra, trở về với cha mẹ rồi sau đó ít lâu đã lập gia đình. Sau khi lập gia đình Ngài xin gia nhập quân ngũ và phục vụ trong quân ngũ được mười năm thì bị bắt vì đạo theo chiếu chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng.

Hồi đó là năm 1838 Tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh. Vị quan này đã bị triệu về kinh và bị vua khiển trách là lơ là không tích cực trong việc thi hành lệnh cấm đạo của vua. Ông run sợ trở về dinh Tổng đốc Nam Định quyết chí lập công để đền tội, ông đã hăng say tích cực bằng mọi cách ra tay bắt bớ hết từ giám mục, linh mục, nữ tu, giáo dân, quân nhân, công chức v.v. mọi người phải bước lên Thánh Giá và bỏ đạo. Ai không tuân lệnh thì chém đầu hết, không dung thứ cho bất cứ một ai. Ông đã thề thốt một cách mạnh bạo rằng: “Ta thề quyết không đội trời chung với Gia Tô tả Đạo, ta truyền cho quân lính trong tỉnh này phải diệt hết bọn tả đạo..”

Riêng trong hàng ngũ quân nhân của tỉnh, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã bày kế tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi tất cả các quân nhân Công giáo thuộc tỉnh Nam Định. Số người tham dự bữa tiệc hôm ấy có tới 500 quân nhân Công giáo. Mọi người ngồi vào bàn tiệc rồi, quan Tổng đốc vui vẻ nói lời chào mừng và nói chủ đích là khuyên mọi người phải tuân theo lệnh vua, bước qua Thánh Giá, bỏ đạo thì quan sẽ trọng thưởng tiền bạc cũng như sẽ thăng quan tiến chức cho một cách xứng đáng. Nếu không tuân theo lệnh vua thì sẽ bị hình phạt nặng nề. Sau bữa tiệc, quan Tổng đốc đưa mọi người vào dinh, đi qua cửa, quan đã để sẵn một bên là tượng Chúa Chịu Nạn bị đóng đinh trên Thánh Giá, một bên là xiềng xích, roi, kìm, gông cùm, những dụng cụ để tra tấn tội nhân. Quan Tổng đốc nói: bây giờ mọi người được tự do lựa chọn. Bước qua tượng Thánh Giá thì được tự do và được thưởng, không bước qua thì hình phạt đã sẵn sàng đang chờ đợi đó. Sau lời tuyên bố của quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh, thật là đau đớn và tủi nhục! Đám quân nhân Công giáo đông đảo ấy đã lần lượt bước lên tượng Chúa! Quay đi quay lại chỉ còn 15 người vững vàng chấp nhận hình khổ, nhất định không chịu bước lên tượng Chúa. Quan Tổng đốc bực bội với những người “gan lì” này, liền ra lệnh tống giam và đánh đòn cho tới khi bỏ đạo.

Bị giam trong ngục tối, bị xiềng xích, gông cùm và bị đánh đến bắn máu, nát thịt nhưng 15 chiến sĩ trung kiên vẫn một lòng cương quyết không bước lên tượng Chúa. Ngày hôm sau, 15 người anh hùng Đức Tin bị đưa ra công đường, quan lại dọa nạt, ra lệnh đánh đập đến mềm cả người. Sáu người vì đau đớn quá và cũng vì những lời dụ dỗ của quan Tổng đốc nên đã mềm lòng, dại dột bỏ cuộc, bước lên Thánh Giá. Còn lại chín người, tiếp tục bị những trận đòn chí tử rồi lại đưa về ngục để hành hạ tiếp. Trong số chín người còn lại này có ông Augustinô Phan Viết Huy, ông Nicôlao Bùi Đức Thể và ông Đa Minh Đinh Đạt. Ông Phan Viết Huy tuy có học và đã có vợ con ở nhà quê, nhưng khi đi lính trên tỉnh ông lại tằng tịu với một thiếu nữ trên tỉnh, ông cưới làm vợ lẽ. Trong hoàn cảnh này lương tâm của ông bị cắn dứt nên ban đêm ông đã hối lộ cho bọn lính canh rồi  âm thầm trốn ra ngoài, tìm đến gặp cha Năng cũng gọi là Thiều đang làm phúc ở họ Phúc Đường bên cạnh nhà ông để xưng tội và làm tờ cam kết bỏ cô vợ nhỏ trên tỉnh. Sau đó, ông trở lại nhà tù chịu mọi khổ nhục với các bạn cùng chung một niềm tin.

Thế rồi chín người chiến sĩ kiên trung này lại bị điệu ra công đường, quan Tổng đốc vui vẻ hứa hẹn, khuyên dụ hãy bỏ đạo quan sẽ trọng thưởng. Tất cả chín người đều một lòng cương quyết không tuân lệnh vua đề bỏ đạo. Quan Tổng đốc tức giận ra lệnh đánh đòn chí tử. Đánh nát xương thịt, đánh trên các đầu ngón tay mỗi người. Bị đau đớn quá, nhất là đau buốt trên các đầu ngón tay quá, lại thêm bốn người nản chí, bỏ cuộc, bước lên Thánh Giá! Còn lại năm người vẫn vững tin, quyết một lòng chết vì Chúa.

Để tăng cường áp lực tiêu diệt Đạo, vua Minh Mạng gửi thêm tướng Lê Văn Đức cùng với hai ngàn quân tăng viện về Nam Định hợp tác với Trịnh Quang Khanh tận lực tiêu diệt cho bằng hết bọn Gia Tô Tả Đạo.

Ngày 25 tháng 6 năm 1838 thi hành án lệnh trảm quyết Đức Cha Henares Minh và Thầy Giảng Phanxicô Đỗ Văn Chiểu tại Nam Định, tướng Lê Văn Đức cho dẫn năm binh sĩ gan dạ, vững lòng này ra pháp trường, chủ ý để các Ngài chứng kiến cuộc chém đầu đổ máu thì sợ hãi và bỏ đạo. Nhưng phản ứng ngược lại, các Ngài không sợ hãi mà còn hân hoan tưởng mình cùng được chết như hai vị anh hùng tử đạo kia. Bực mình, quan lại cho giải về nhốt trong ngục ngục, đánh thêm rồi bắt đeo gông, xiềng xích tay chân để chờ đợi những lần tra tấn tiếp.

Sau đó ít ngày, quan truyền đưa năm người chiến sĩ can trường này ra công đường. Quan tỏ lòng thương xót, khuyên dụ ngọt ngào và hứa sẽ trọng thưởng nếu vâng lời vua bước lên Thánh Giá. Các Ngài vẫn cương quyết một lòng, nhất định không bỏ đạo, không bước lên Thánh Giá. Không thành công, quan bực bội, truyền cho lính khiêng hai đầu gông kéo lê từng người trên Thánh Giá. Các Ngài co chân lại, nhất định không chịu. Bọn lính dùng roi sắt đánh đau đớn quá. Lại thêm hai chiễn sĩ nữa thối chí, bỏ cuộc! Thế là chỉ còn ba người, đó là ông Huy, ông Thể và ông Đạt. Trả lại trong nhà giam, các Ngài lại bị đánh đòn chí tử, khi thì 25, lúc thì 150 roi. Khi bị quan tra hỏi, ông Phan viết Huy vì trước đã đi tu học hành nhiều về đạo nên ông đã thay anh em trong tù trả lời cho quan lý lẽ rất minh bạch và giảng đạo cho quan nữa. Biết mình đuối lý, quan bỏ cuộc rồi lệnh cho giam chung ba vị này với cha Giacôbê Năm, ông Lý Micae Nguyễn Huy Mỹ và ông Trùm Antôn Nguyễn Đích.

Quan Tổng đốc làm án tử hình gửi về triều đình, nhưng vua không châu phê. Vua truyền phải ép buộc các ông bỏ đạo, bước qua Thánh Giá. Nhận được lệnh của triều đình, các quan cho lệnh đóng gông thật nặng rồi đưa ba người chiến sĩ kiên trung của Chúa ra nơi công cộng phơi nắng hè nóng như cháy suốt 21 ngày liên tiếp, ông Huy và ông Thể ở cửa Đông, còn ông Đạt ở cửa Nam. Những người đi qua lại trông thấy, kẻ thì thương xót an ủi, người thì hành hạ xỉ nhục. Sau 21 ngày phải phơi nắng cháy da cháy thịt, bọn lính lại đưa các Ngài trở lại nhà tù. Lần này thì các quan gọi thân hữu, bạn bè, vợ con tới dinh trách móc, dọa nạt, rồi hứa hẹn sẽ trọng thưởng, phải khuyên dụ ép buộc các Ngài bỏ đạo. Quan cho phép vào nhà tù dùng những lời lẽ tình cảm để khuyên dụ các Ngài. Nhưng tất cả đã trở thành vô ích, các Ngài cương quyết theo Chúa. Sau cùng, quan gọi các viên chức trong làng Hạ Linh, Kiên Trung và Phú Nhai tới, ra lệnh trong một tháng phải thuyết phục ba ông bỏ đạo, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng nề. Các ông run sợ nên đã tìm mọi lời lẽ ngọt ngào, tình cảm để ra sức thuyết phục các ông bỏ đạo. Không thành công, các quan truyền bắt các viên chức đánh đòn rất đau đớn trước mặt các ông. Nhìn thấy vị bô lão làng Kiên Trung vì mình mà phải đòn đau đớn quá sức thì động lòng thương xót nên ông Bùi Đức Thể xin tha cho cụ già và bằng lòng bước lên tượng Thánh Giá. Sau đó ông Đa Minh Đinh Đạt cũng bước qua, chỉ còn lại người chiến sĩ kiên trung duy nhất không chiụ khuất phục là ông Augustinô Phan Viết Huy. Thế rồi ngay đêm hôm ấy, quan cho người vào tỉ tể khuyên dụ ngon ngọt. Hai người bạn đã khuất phục rồi, còn gan lì làm gì nữa.Thôi, hãy bước qua tương Thánh Giá một lần thôi, quan sẽ tha và trong thưởng cho để trở về với vợ con, gan lì quá làm gì. Nghe những lời dụ ngọt ông xiêu lòng. Sáng hôm sau ông cũng theo chân hai bạn bước qua Thánh Giá. Ba người binh sĩ được thưởng nhiều tiền bạc và trả tự do trở về với gia đình. Nhưng lại bị lương tâm cắn dứt dày vò, chịu không nổi. Ba ông gặp nhau đi xưng tội rồi âm thầm bàn nhau, quyết định cùng nhau lên tỉnh cương quyết xưng đạo tiếp.

Tới tỉnh, ba ông vào thẳng gặp qun Tổng đốc Trịnh Quang Khanh xin tiếp tục xưng đạo, không bỏ đạo. Quan bực tức chửi măng thậm tệ rồi lệnh giam ngục. Vì quan đã báo cáo triều đình là các ông đã bỏ đạo nên bây giờ quan chỉ giam ít ngày rồi cho về, còn tiền các ông trả lại thì quan trao cho các viên chức trong làng của ba ông.

Lần này quan cho về, các ông đau khổ, ăn chay đền tội, cầu nguyện xin Chúa tha tội đã chối Chúa.rồi bàn tính với nhau quyết định làm đơn tuyên xưng Đức Tin, không bỏ đạo, đem vào tận kinh đô dâng lên vua. Đơn viết xong, cả ba cùng ký. Tới ngày vào kinh đô thì ông Đinh Đạt phải theo đội binh đi công tác, chỉ có ông Huy, ông Thể và người con của ông Huy mới 16 tuổi cùng đi để thăm dò tin tức. Đi bộ mất 20 ngày mới tới kinh đô Huế. Hai ông nghe ngóng biết hôm đó vua Minh Mạng ngự giá đi dạo trong thành phố, hai ông liều mạng đón đường để dâng đơn trực tiếp lên vua. Vua nhận đơn và đọc xong, vua nóng mặt, bừng bừng nổi giận, lệnh tống giam ngay hai ông vào ngục.

Sau đó vua trao cho quan Bộ Hình xét xử. Quan khuyên dụ và hứa hẹn rất nhiều điều. Thấy không xuôi, quan ra lệnh dùng đòn vọt, khổ nhục. Một lần khác vua, quan bày trước mặt hai ông 10 nén vàng, một tượng Thánh Giá và một thanh gươm rồi phán: 

– “Ta cho lựa chọn, bước qua tượng thì được vàng, không thì thanh gươm sẽ chặt đầu tụi bay, xác sẽ chặt đôi ném xuống biển”.

Hai Ngài đều chọn thanh gươm. Vua Minh Mạng nổi giận liền viết bản án:

Tội phạm Phan Viết Huy và Bùi Đức Thể phải cho lính đem ra biển lấy rìu lớn chặt ngang lưng rồi bỏ xác xuống biển, để ai nấy biết rõ điều răn cấm.

Ngày 12 tháng 8 năm 1839 quân lính giải hai Ngài ra cửa Thuận An thi hành bản án vua Minh Mạng đã truyền. Đội lính đưa hai Ngài xuống thuyền, chèo ra biển, đặt một Thánh Giá ngay giữa thuyền để hy vọng vào giờ thứ hai mươi lăm các Ngài sẽ đổi ý mà bước qua. Nhưng lòng tin sắt đá của các Ngài không hề lay chuyển. Đội lính thất vọng liền trói hai Ngài vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng như bản án thì đội lính chặt đầu trước sau đó bổ thân ra làm bốn. Tất cả buông xuống biển theo giòng nước cuốn trôi dạt trên mặt nước biển. Xác các Ngài được  trôi dạt trên biển nhưng hồn các Ngài đã bay bổng về Trời lãnh nhận cành lá tử đạo chiến thắng, để lại cho hậu thế tấm gương anh hùng muôn đời tuyệt vời, đáng chúc tụng.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong các Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng các Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top