Ngày 11/10: Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục (1773 – 1833)

Hằng năm, đến ngày 11-10, giáo dân Hà Nội và các xứ lân cận kéo nhau rất đông về làng Bằng Sở để mừng lễ Cha Thánh Tùy. Bầu không khí sốt sắng tưng bừng, đây là ngày hội lớn của làng, cả làng nghỉ việc mừng lễ và đón tiếp khách các nơi về dự lễ.

Cha Thánh Lê Tùy là ai? Cha là người mở đầu thế hệ chứng nhân anh hùng của Chúa Kitô thế kỷ XIX.

Sinh trong thời cấm cách

Cha sinh năm 1773, trong một gia đình trung nông bình thường ở làng Bằng Sở, trước kia làng này thuộc xứ Yên Duyên nay thuộc giáo xứ Bằng Sở, Tổng Giáo phận Hà Nội.

Năm ấy là năm hai chân phúc Cát-ta-nê-đa[1] (Gia) và Vi-xen-tê Liêm nhận triều thiên tử đạo ở thành Thăng Long đời Chúa Trịnh Sâm. Dù thế, khi người còn nhỏ, cha mẹ người đã cho con vào nhà Đức Chúa Trời, dâng mình cho Chúa, sẵn sàng đón nhận mọi hy sinh trong sứ mệnh tông đồ.

Sau nhiều năm học tập ở Chủng viện Kẻ Vĩnh tỉnh Nam Định, thày Tùy được phong chức phó tế và được cử đi giúp Đức Cha Lơ-mốt[2] (Hậu), phó Giám mục địa phận Tây Đàng Ngoài. Thày hoạt động truyền giáo trong tỉnh Nghệ An.

Thày đạo đức khôn ngoan, thông thái, thông thạo tiếng La-tinh và chữ Nho. Ít lâu sau, Thày được phong chức linh mục và được cử đi làm cha phó xứ Đông Thành (Chân Lộc) rồi làm chính xứ Nam Đường thuộc tỉnh Nghệ An. Cha là một linh mục rất nhiệt thành hăng hái, đạo đức vững chắc, tính tình hiền hòa.

Đức Cha Lơ-mốt đã có lần nói rằng: “Không ai là không bằng lòng với Cha Tùy”, đó là lời chứng nhận và khen ngợi nhân đức hiền từ của một linh mục Việt Nam.

Không sợ chết

Năm thứ 14 đời vua Minh Mệnh có chiếu chỉ cấm đạo ngặt, các quan Nghệ An sai một số tay chân là những người ghét đạo đi do thám, rình mò, bắt bớ các linh mục.

Ngày đầu tháng 8 năm 1833, Cha Tùy đi xức dầu cho một bệnh nhân gần chết ở họ Thành Trai, một họ đạo nhỏ nằm giữa các làng ngoại giáo, Cha bị bắt và người ta giải Cha nộp cho quan huyện sở tại để lĩnh tiền thưởng. Giáo dân biết tin đến quan huyện xin nộp tiền chuộc Cha, quan Huyện Thanh Phong bằng lòng nhưng với điều kiện Cha phải nhận mình là thày thuốc đi thăm bệnh nhân.

Cha Tùy cương quyết từ chối lời khai man ấy và bị giải về tỉnh Nghệ An.

Dù Cha đã 60 tuổi, người ta cũng đóng gông và giam Cha trong ngục.

Mấy ngày sau, quan án đòi Cha ra công đường. Quan hỏi: “Ông có phải là đạo trưởng Gia-tô không?

– Phải, tôi là đạo trưởng đạo Thiên Chúa.

Quan liền nói: “Này, ông hãy nghe tôi. Ông đã già rồi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng thương hại ông. Không ai muốn ông phải kết án tử hình. Tôi cũng không muốn thế, nhưng phép nước rất ngặt, vậy ông hãy làm giấy khai mình là thày thuốc, như thế tôi sẽ cứu ông khỏi chết nhục hình. Ông không sợ chết sao?”

Cha Tùy điềm đạm trả lời: “Cám ơn quan đã muốn cứu tôi, nhưng lương tâm một vị đạo trưởng Thiên Chúa không cho phép tôi làm theo ý quan. Phần tôi, tôi không sợ chết và chết cách nào tôi cũng không ngại. Vì ai cũng phải chết, dù chết trên giường đệm êm ấm chung quanh có các người thân thuộc, hay chết cô đơn một mình trong rừng vắng, trong tù ngục, dù bị án voi dày, giáo gươm đâm chém, dù bị tùng xẻo lột da cũng là chết, cho nên tôi không sợ chết”.

Quan trọng kính tuổi già không nỡ tra tấn đánh đập, truyền giải Cha về ngục. Trong ba tháng rưỡi bị giam giữ, Cha được mọi người yêu mến. Các tù nhân thường nói với nhau rằng: “Một người hiền lành đức độ như vậy mà phải gông cùm giam giữ như một tên gian ác, thật là bất công”.

Cha còn bị tra hỏi và dụ dỗ nhiều lần, nhưng Cha vẫn một mực nhận mình là đạo trưởng đạo Thiên Chúa.

Các quan làm sớ về kinh không buộc tội gắt gao, hy vọng tội nhân chỉ phải nộp tiền phạt vì luật nước cấm không được xử tử những người từ 60 tuổi trở lên.

Vua ở trên luật

Nhưng vua Minh Mệnh ghét đạo, bất chấp những điều luật nhân đạo là truyền thống của dân tộc

Ngày 10-10-1833, các quan tỉnh Nghệ An nhận được lệnh vua: “Tên Lê Tùy đã xưng là đạo trưởng và truyền tả đạo cho dân, phải trảm quyết”.

Một thư ký báo tin ấy cho một giáo hữu. Người này chạy đến nhà giam cho Cha Tùy biết: “Thưa cụ, con đến lạy cụ, xin cụ dọn mình vì đã đến giờ Chúa gọi Cụ”.

Cha Tùy lộ vẻ vui mừng và nói: “Thật tôi không dám trông đợi được ơn cao trọng này, Chúa đã ban cho tôi, tôi cảm tạ ngợi khen Chúa”.

Cha dùng bữa tối như thường lệ, rồi ở lặng một mình cầu nguyện, không tiếp ai để dọn mình về với Chúa.

Sáng hôm sau ngày 11-10, ngày lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Cha phải điệu ra pháp trường ở chợ Quân Ban để chịu xử. Cha vui vẻ hớn hở như người đi dự hội đến nỗi quan quân và dân chúng đều nói: “Chưa bao giờ họ thấy ai đi chịu xử mà can đảm như thế”.

Đến pháp trường, Cha quỳ vào chiếu một giáo hữu đã trải sẵn. Gần chỗ Cha quỳ, lính đóng một thẻ gỗ viết bằng chữ Hán, nghĩa như sau: “Tên Tùy, Lê Tùy quê ở xã Bằng Sở, tổng Ninh Xã, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Tỉnh Hà Nội. Can phạm là người bản quốc, từ lâu theo thói dị đoan, xưng mình là đạo trưởng, lẩn trốn trong dân chúng để truyền tả đạo. Bị bắt và tra xét kỹ càng, tên này bất khẳng khóa quá, vi phạm luật nước. Lệnh vua phải xử chém ngay để răn kẻ khác”.

(Minh Mệnh năm thứ 14, tháng 8 ngày 28).

Đây chính là chứng chỉ tử đạo của Cha Thánh Tùy. Cha phải xử chém ngày 11-10-1833.

Các dấu lạ

Cha quỳ trên chiếu cầm trí cầu nguyện. Ông Bê-na đô Thu là một giáo hữu thân cận với Cha đến xin quan cho phép Cha tiếp tục cầu nguyện thêm. Quan bảo: “Được, khi xong, phải báo cho tôi ngay”. Rồi quan đưa cho Cha mấy quan tiền mà theo tục lệ vua ban cho các tội nhân mua thức ăn hay uống rượu trước khi bị xử. Cha không nhận và tiếp tục cầu nguyện một lúc nữa.

Khi Cha đã dọn mình xong, ông Thu đến lạy Cha bốn lạy và nói: “Bây giờ Cụ sắp được về nơi vĩnh phúc, nơi Cụ đã trông đợi bấy lâu, phần con, còn phải ở lại nơi đây, xin Cụ nhớ đến con”. Đấng tử đạo đáp: “Con hãy vững lòng bền chí, rồi con cũng được phần thưởng muôn đời”.

Cha cũng lạy ông bốn lạy để đáp lễ, mọi người trông thấy cảnh tượng ấy đều bùi ngùi cảm động. Rồi Cha nói: “Tôi đã sẵn sàng”.

Tiếng thanh la, tiếng trống nổi lên. Một người lính vung gươm, đầu vị tử đạo rơi xuống và linh hồn Cha bay về trời hưởng phúc vô cùng. Các giáo hữu xin xác Cha đem về an táng tại nhà nguyện Tràng Nua.

Một chứng nhân trong hồ sơ phong chân phúc đã thuật lại rằng: lúc ấy trời đang quang đãng bỗng mây đen kéo đến, bầu trời u ám, mọi người lấy làm lạ nói với nhau rằng: “Ông này linh thiêng làm sao mà trời tối sầm lại”.

Khi Cha bị bắt giam trong ngục, Cha thường cầu xin Chúa và Đức Mẹ cho nhà quê Cha biết tin, nhưng vì đường xá xa xôi, lại đang thời kỳ cấm cách ngặt nên bổn đạo phải trốn tránh không dám đi lại.

Khi Cha được phúc tử đạo rồi, Cha hay làm phép lạ. Chính hôm Cha bị xử, ở làng Bằng Sở quê Cha, động đất dữ dội, ao hồ, nước sông nổi sóng như vũ bão, còn các làng chung quanh bình an yên ổn. Mọi người trong làng sợ hãi không hiểu điềm gì.

Cách ba hôm sau, một lái buôn ở Nghệ An ra, ngủ trọ ở làng Bằng Sở kể truyện rằng: Hồi này trong tỉnh Nghệ An các quan bắt đạo dữ tợn lắm và đang tầm nã các đạo trưởng Tây và đạo trưởng Nam, cách đây mấy hôm có đạo trưởng Tùy phải trảm quyết, lúc ấy quê Cha mới biết tin, mọi người khóc lóc thảm thiết.

Đến sau đưa xác Cha về Nam Khê để các giáo hữu toàn quốc đến kính viếng. Sau lại đem xác Cha về xứ Yên Duyên, cả làng Bằng Sở lên rước xác Cha về chính quê là Bằng Sở.

Mấy năm sau khi cải táng Cha, có sự lạ này là xác Cha nằm trong nước trong vắt, xông hương thơm ngào ngạt.

Kẻ ốm đau bệnh tật hay gặp sự gian nan khốn khó chạy đến xin Cha giúp đỡ đều được như ý. Chính Đức Cha Mát-xông[3] đã làm chứng điều đó và ông Bê-na-đô là người thân cận của Cha (đã kể ở trên) cũng quả quyết nhiều bệnh nhân tuyệt vọng được khỏi bệnh nhờ ơn Cha.

Về sau tin tức đồn thổi khắp nơi là Cha hay làm phép lạ, nên người ta đến khấn đông lắm; cha xứ và dân làng Bằng Sở chạm trổ một toà bằng gỗ, sơn son thiếp vàng rất đẹp, đặt trên bàn thờ cạnh và để xương người lên tòa ấy. Từ đó, lại không có mấy người đến xin khấn như trước nữa, và nếu có ai đến xin khấn sự gì mà thắp nến, nến liền tắt.

Sau cha xứ và dân làng Bằng Sở cho rằng: có lẽ Cha không ưng để xương thánh Cha ở nhà tòa đặt ngang với cung thánh, nên cha xứ và dân làng lại cho xương thánh xuống gầm bàn thờ như trước. Từ ngày ấy người ta lại nô nức đến kêu xin Cha phù hộ và khi thắp nến không còn bị tắt nữa.

Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho người ngày 27-5-1900.

Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong người lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.

Ở làng Bằng Sở quê Cha mừng lễ Cha ngày 24-11 là ngày rước hài cốt Cha về quê nhà. Dân làng đã làm một bài vãn gọi là vãn Cha Thánh Tùy kể lại công Đức cha, cái chết anh hùng xưng đạo của Cha và hằng năm đọc lại cho con cháu nghe để noi gương sáng của Cha.

Vãn Thánh Phê-rô Tùy

Kính mừng Cha Thánh Tùy danh thánh

Đức nghiệp dường sánh với non cao

Công phu tày bể rộng biết bao

Trí ngu kiện lường sao cho xiết

Từ sơ sinh giữ mình trinh khiết

Ơn Chúa thương cho biết ý Người

Nên khấn mình trinh khiết trọn đời

Lại đi giảng mọi nơi ngoại đạo

Đức tính người khôn ngoan mạnh bạo

Dẫu gặp thời cấm đạo Chúa Thiên

Dốc một lòng chăn giữ con chiên

Lại đi giảng trong miền tỉnh Nghệ

Nỗi biệt ly sa di xiết kể

Cũng vâng theo thánh ý mọi bề

Lại đành lòng ly biệt quán quê

Khuyên kẻ ngoại trở về đạo chính

Cụ giáo hóa cương thường nghiêm chỉnh

Dủ khuyên răn dĩ tính trừ mê

Để mọi người thờ Chúa một bề

Sau hưởng phúc chính quê chầu Chúa

Lời giảng giải sánh cùng thợ rũa

Ơn tác thành ngọc rũa lò chai

Lòng Thánh Nhân vàng đã chùi mài

Ơn vũ lộ hoa mai thơm phức

Người thêm tuổi càng thêm phúc đức

Vì đạo lành ra sức giảng khuyên

Kẻ lầm lỗi nên sạch vẹn tuyền

Kẻ cơ cận bằng yên hỷ lạc

Đức vũ hóa đượm nhuần lưu loát

Đoàn chiên lành bóng mát tựa nương

Trông ơn người che chở một đường

Cho khỏi phải giò dương lưới mắc

Được êm ấm đôi đường vững chắc

Dẫu gặp thời gió giật sương sa

Nương cây cao bóng cả rườm rà

Lại được thưởng biết bao hoa quả

Lũ sói rừng lòng ghen chẳng thỏa

Chước quỷ ma quấy phá đoàn chiên

Từ năm Minh Mệnh thập tứ niên

———————————————————

Bắt trưởng đạo giáo đồ lưu lạc

Bắt kẻ chăn đoàn chiên nhao nhác

Bắt mọi người phân xáp các nơi

Lại gia hình giết hết mọi người

Cùng cấm cốc chết tươi xiết kể

Cụ Thánh Tùy giảng trong tỉnh Nghệ

Phải một khi đi kẻ liệt về.

Lũ quân do đủ mọi tính mê.

Liền bắt lấy đem về sỉ nhục

Các con chiên xin người cho thục

Người chối rằng là phúc cho cha

Hỡi chúng con hãy ở thuận hoà

Cha về hưởng trên toà thiên quốc

Các quan tưởng người là thầy thuốc

Người xưng mình chẳng thuộc lương y

Chính tôi là trưởng đạo Bắc Kỳ

Hà Nội tỉnh Thanh Trì Bằng Sở

———————————————————

Ở trong ngục gông cùm canh giữ

Vẫn tươi cười xử sự nghiêm hoà

Các lính canh tôn kính là cha

Lại khen người là quân tử

Ba tháng rưỡi quan tâu án xử

Sớ vua ra truyền xử danh Tuỳ

Dám xưng mình trưởng đạo Bắc Kỳ

Trẫm truyền xử y như án cứ

Năm dương lịnh 11 tháng tám

Nên hội này là thảm sầu bi

Thảm thiết thay thương cụ Thánh Tuỳ

Sáu mươi tuổi phải đi chịu xử

Đương khi ấy phải ra chịu xử

Vẫn cam công coi giữ đoàn chiên

Dốc một lòng theo ý Chúa Thiên

Song chỉ những sầu phiền than thở

Bởi quê hương cách trở xa xôi

Nỗi biệt ly than thở cùng ai

Những âm thầm cầu khẩn thiên thai

Hằng xin Chúa cho ngoài quê biết

Các quân quan đem người đi giết

Nó lấy cưa mà xiết gông xiềng

Rồi người quỳ cúi cổ nghiêng nghiêng

Dứt ba tiếng cồng gươm liền thoát

Những mạch máu chảy ra lưu loát

Các con chiên xin xác đem về

Xếp những đồ xiềng tói nặng nề

Liệm xác đoạn đem về Trang Lửa

Cùng ngày ấy trong làng Bằng Sở

Đường xa xôi cách trở biệt ly

Thật bản hương quê cụ Thánh Tuỳ

Liền động đất như kỳ tận thế

Nước các ao vũ như sóng bể

Chẳng khác gì như thể phong ba

Thật trong làng khắp hết trẻ già

Vì chẳng hiểu đều là sợ hãi

Cách mấy ngày gặp người thương mại

Nó xưng mình quán tại Nghệ An

Vua mới truyền cấm đạo rõ ràng

Những tầm nã Tây Nam đạo trưởng

Bắt được ai thì vua liền thưởng

Độ vừa rồi có trưởng đạo Tuỳ

Nó bắt người giam chấp một khi

Ba tháng rưỡi đủ kỳ luận giết

Hỡi cha ơi thật là thảm thiết

Tình cha con ly biệt dường này

Cha khuyên răn những sự thảo ngay

Giảng đạo chính sao rầy nên thế

Ngắm xác thánh táng trong tỉnh Nghệ

Nỗi biệt ly cách bể cùng sông

Khúc nhôi này lục bát thành tâm

 Lòng đơn bạc âm thầm thảm thiết

Ngắm xác thánh dâng mình trinh khiết

Phép lạ người kể xiết là bao

Kẻ âu sầu bệnh tật liệt lào

Công đức ấy non cao đáng thánh

Rầy Toà Thánh lại phong chức thánh

Rước xác người về cảnh Nam Khê

 Khắp nước Nam tôn kính mọi bề

 Rồi mới rước người về Bằng Sở

Khắp trẻ già đều là hớn hở

Biết lấy gì mừng rỡ cho đang

Sức vội vàng chưa kịp sửa sang

Lời quê kịch hai hàng chúc tụng

Giọng nôm na ngâm nga vài phút

 Chúc mừng rằng vạn phúc liên liên

Rước mừng người từ dưới Yên Duyên

Khắp cả xã rước lên Bằng Sở

Hết mọi người trẻ già nấc nở

Biết lấy gì mừng rỡ xiết bao

Ngắm xác người cao trọng dường nào

Ấy mới biết thánh danh thanh thánh Rầy

 Toà Thánh lại phong chức thánh

 Thảm sầu này nên cảnh rất vui

Đã sáu mươi tám năm rõ ràng

Còn nhớ đến những người công chính

Ấy mới biết đạo nào tà chính

Khắp nước nam tôn kính mừng người

Nhưng nay mừng khắp hết mọi nơi

Đến mừng lễ mọi người chúc kính

Lạy Thánh Cha chung thiêng đức tính

Cảnh trâu hiền đức tính quang trân

Phần con mọn cải xác thành tâm

 Lạy Thánh Cha cao đại vĩnh phúc

Xin tưởng về những lúc gian nan

Lại xin về những lúc lầm than

Cần đạo chính tìm đàn chiên lạc

Đức nghiệp cha lưu loát khôn lừng

Xin tưởng về đến chốn bần hương

Được trường cửu phú cường khảng khái.


[1] Jacinto Castaneda.

[2] Lemothe.

[3] Masson

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top