Ngày 22/1: Thánh Phanxicô Gil de Federich (Tế) – Linh Mục (1702-1745)

Từ khi đất nước Việt Nam được nhận ánh sáng Đức Tin và trong suốt 100 năm truyền giáo, bao máu đào đã đổ ra tô điểm Giáo Hội Việt Nam. Nhưng phải đợi đến giữa thế kỷ 18 thời Cảnh Hưng Nhà Lê, mới có hai vị từ đạo được vào danh sách 117 chân phúc, được Giáo Hội tồn phong đầu thế kỷ 20. Đó là Cha Phan-xi-có Gin Phê-đê-tích và Cha Mát-thê-ô Li-xi-ni-a-na[1] (Đậu), người Tây Ban Nha thuộc dòng thánh Đa-minh đã đổ máu vì Chúa Kitô ở Thăng Long (Hà Nội) ngày 22-1-1745. Cha Phan-xi-cô Phê-đê-rích bị bắt trước, nên được kể là vị tử đạo thứ nhất được phong chân phúc.

Chân phúc thi sĩ.

Cha Phan-xi-cô sinh năm 1702 ở Toóc-tô-sa (Tor-tô-sa) bên bờ sông E-bơ-rơ (Ebre), Tây Ban Nha. Cha dâng mình cho Chúa từ bé. Năm 16 tuổi, Cha đã được tuyên khấn dòng Thánh Đa-minh ở Tu viện thánh nữ Ca-ta-ri-na tỉnh Ba-xơ-lon (Barcelone) Tây Ban Nha, rồi trở thành giáo sư Triết, sau làm giám đốc. Nhưng Cha vẫn mơ ước được đi truyền giáo phương xa và ý nguyện này hằng thôi thúc Cha.

Vì thế Cha xin đổi sang tỉnh dòng Đức Mẹ Mân Côi Ma-ni-la là tỉnh dòng chuyên lo việc truyền giáo cho các dân Đông phương.

Cha từ giã quê hương đi Phi Luật Tân. Ở đây Cha Giám tỉnh Đi-ê-gơ Sa-en (Diego Saeng) cảm phục các đức tính của vị thừa sai tình nguyện này, coi Cha như bạn nghĩa thiết và chọn làm thư ký cho mình.

Từ năm 1733-1735, nhiều lần người ta gặp thấy Cha quỳ cầu nguyện lâu giờ trước tượng Đức Mẹ Mân Côi, không nghe thấy Cha nói gì, chỉ thấy vị linh mục sốt sắng, yêu mến Mẹ Maria. Nhưng rồi người ta được biết rõ tâm tư Cha qua những lời lẽ tha thiết bộc lộ trong một bài thơ đại ý như sau:

Lạy Mẹ xin xót thương,

Đứa con điên, mồ côi và tội nghiệp này,

Đã hoạt động quá ít cho tình yêu của Mẹ,

Mặc dầu nó có tham vọng lớn lao.

Con là người, trong trí tưởng tượng,

Thấy mình đến Đông phương,

Gieo vãi hạt giống mới và thánh thiện.

Nhưng còn ở lại

Để đổ thêm dầu vào đèn của Mẹ.

Ở đây người ta gặp một chân phúc thi sĩ mở đường cho các chân phúc thi sĩ Tê-ô-phan Vê-na[2] (Ven), Phê-rô Đoàn Công Quý sau này.

Vượt biển Đông tới miền đất ước mơ

Sau hai năm chờ đợi mong mỏi, cũng là hai năm tha thiết khấn Mẹ Maria, được diễn tả trong câu thơ; “Con còn ở lại để đổ thêm dầu vào đèn Mẹ”, Cha Phan xi-cô vượt biển Đông, giương buồm nhằm đúng hướng đất Bắc, mảnh đất Cha hằng ước mơ. Đó là năm 1735 dưới thời Uy Nam Vương Trịnh Giang (1729-1740), đời hậu Lê, năm Vĩnh Hưng thứ 1.

Hai năm Cha hoạt động truyền giáo ở các huyện Trực Ninh (Nam Đị Vũ Tiên (Thái Bình), coi xứ Mèn và xứ Bắc Trạch rồi sang huyện Giao Thủy coi xứ Lục Thủy. Hồi ấy miền Bắc đang có cuộc bắt đạo của Chúa Trịnh. Trong sử liệu cũ có ghi một chuyện sau đây mà người thời ấy quen gọi là phép lạ: Một hôm Cha Phan-xi-cô mở tuần đại phúc ở họ Quất Lâm, hôm ấy Cha đang giải tội thì một giáo dân đến cấp báo xin Cha trốn ngay vì có người đến tìm bắt Cha, Cha không sợ hãi, ngửa mặt lên trời cầu nguyện, rồi lại tiếp tục giải tội cho đến khi hết. Các người đến bắt không hiểu tại sao lại đổi ý bỏ đi.

Việc phải đến đã đến hay câu chuyện nhà sư Tình

Ngày 3-6-1737 Cha Phan-xi-cô bị bắt ở trong nhà thờ Lục Thủy khi Cha vừa dâng lễ xong. Theo các sử liệu ghi lại thì chủ động việc bắt bớ này là do một nhà sư tên là Tình. Ông ác cảm với đạo mới, lại tham tiền. Khi biết họ đạo bị bao vây, Cha tự ý ra nộp mình để khỏi liên lụy đến giáo dân. Gặp địch thù Cha bình tĩnh hỏi: “Các ông tìm ai? Tôi là đạo trưởng mà các ông đang tìm bắt”. Ông sư truyền lệnh trói Cha. Cha bảo ông: “Đã bắt được tôi thì tha cho bổn đạo”. Họ tha cho mọi người, chỉ bắt mình Cha và giải sang huyện Thủy Nhai.

Giáo dân chạy tiền, đến nhà sư xin chuộc, nhưng sư Tình đòi nhiều tiền hơn nên chưa tha và giữ Cha 10 ngày trong nhà mình. Thấy thế giáo dân chạy lên quan trấn. Quan sai lính bắt cả Cha Phan-xi-cô và sư Tính, ông này chạy thoát lên Thăng Long và tố cáo các quan trấn Sơn Nam dung túng làng Lục Thủy chứa chấp Tây dương đạo trưởng. Vì thế quan phải giải Cha lên Thăng Long và tố cáo sư Tình đồng lõa với bổn đạo chứa đạo trưởng 10 ngày.

Lòng trắc ẩn của hai người phụ nữ ngoại giáo

Trên đường đi, Cha bị sốt rét nặng, đến Thăng Long phải đóng xiềng tống ngục. Mấy hôm sau thay xiềng và chuyển sang ngục khác. Cha khỏe lại dần. Cha Nghi, cải trang làm ông lang, hay ra vào ngục thăm giải tội và cho Cha chịu lễ.

Cha Phan-xi-cô phải lên công đường hai ngày liền, được các quan đối xử tử tế lịch sự vì trong số các quan tòa có một quan có đạo. Nhưng những người ngoại tiếc mắng Cha thậm tệ, họ lấy que làm hình Thánh Giá ném nào Cha. Cha thản nhiên sốt sắng nhặt lên hôn kính.

Xiềng xích quá nặng, hai chân Cha bị những vết thương sâu lở loét rất đau đớn, Cha phải nằm trong xó ngục 15 ngày không gượng dậy được. Lúc đó có hai người phụ nữ ngoại giáo là bà Gạo và chị bà động lòng trắc ẩn xin phép quan được đưa Cha về nhà, để bà săn sóc lấy phúc.

Trong sách lịch sử địa phận Trung và sách lịch sử của địa phận dòng Thánh Đa-minh của Cha Mát-cô Gít-pe (Marcos Jispert) ghi lại rằng: Bà chị hồi ấy mắc bệnh nan y không thuốc nào chữa khỏi. Bà hứa với Cha Phan-xi-cô rằng: nếu Cha làm cách nào để bà khỏi bệnh thì bà sẽ theo đạo. Cha cầu xin sốt sắng và Chúa đã nhận lời, ân nhân của Cha khỏi bệnh, bà giữ lời hứa, chịu phép Rửa tội. Bà cũng khuyên em trở về với Chúa. Bà Gạo từ chối. Cha Phan-xi-cô bảo: “Quả này chưa chín, ta hãy chờ đợi”. Đến sau này bà được ơn Chúa đã xin theo đạo, chính Cha Phan-xi-cô rửa tội cho bà và đặt tên thánh là Rô-sa. Hai chị em trung thành với Chúa đến cùng. Vì đức bác ái Chúa đã trả công cho hai bà rất bội hậu là được nhận lấy ánh sáng Đức Tin.

Bản án kéo dài

Sau một năm giam giữ, ngày 10-7-1738, các quan kết án trảm quyết Cha Phan-xi-cô vì tội giảng đạo Thiên Chúa, sư Tình phải kết án chăn voi chung thân vì tội chứa chấp đạo trưởng 10 ngày. Cha Phan-xi-cô vui mừng tưởng mình sắp được vễ cùng Chúa, nhưng nhà sư còn khiếu nại hết tòa án nọ đến tòa án kia, nên bản án chưa thi hành.

Đến năm 1739, trong một phiên tòa chống án, nhà sư Tình xin đạp ảnh để thanh minh mình không a tòng với người có đạo. Hôm ấy các quan muốn bắt Cha Phan-xi-cô đạp ảnh, Cha đáp: “Tôi không dám phạm tội ấy”. Vừa nói Cha vừa quỳ xuống hôn ảnh. Các quan lại hỏi: “Ảnh này chỉ gì?”- Ảnh này chỉ Con Thiên Chúa ra đời, chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho mọi người. Các quan vặn hỏi: “Nhưng luật nước cấm giảng đạo ấy”. Cha Phan-xi-cô thản nhiên đáp: “Không ai có quyền cấm giảng đạo. Chúa dạy phải giảng cho hết mọi người. Ai cấm là cướp quyền Thiên Chúa”.

Năm, tháng chờ đợi.

Rồi nhiều biến cố xảy đến dồn dập, bản án tử hình của Cha Phan-xi-cô bị bỏ quên. Năm 1740 Trịnh Doanh hạ anh là Trịnh Giang, tự xưng là Minh Đô Vương nhưng cũng đặt cho anh chức Thái Thượng Vương. Bên Triều Lê, vua Hiển Tông thay vua Y Tông, đặt hiệu là Cảnh Hưng, mời khâm sai Trung Quốc từ Bắc Kinh sang phong vương.

Bên ngoài ông Lê Duy Mật khởi binh từ Thanh Hóa nổi lên chống Chúa Trịnh, thanh thế lan rộng. Thêm vào đó nhiều cuộc nổi loạn ở trung châu, và dư đảng nhà Mạc ở miền thượng du.

Tất cả các biến cố trên làm các quan bận rộn.

Trong khi ấy, vị giáo sĩ hiền lành được đối xử rất tử tế. Dù là “tử tội”, các quan cũng cho phép đi thăm các bệnh nhân ngoài phố và các vùng chung quanh thủ đô. Đức Cha Hi-a-xanh Cát-ta-nơ-đa[3] (Gia), Giám mục địa phận Tây Đàng Ngoài định đặt Cha làm Cha Chính xứ Kẻ Chợ (Hà Nội). Cha khiêm nhường từ chối. Các giáo hữu được ra vào ngục tự do để lĩnh nhận các phép bí tích. Chỉ trong năm 1744, Cha giải tội được 1741 lần, rửa tội 32 người lớn, 41 trẻ em và xức dầu cho 11 bệnh nhân.

Bảy năm tù trôi qua, ngày 30-5-1744, Cha vui mừng gặp lại một bạn đồng hương, đồng tu để rồi 7 tháng sau, hai Cha cùng tiến ra pháp trường lĩnh triều thiên vinh quang tử đạo. Đó là Cha Ma-thê-ô Li-ci-ni a-na, phải giải từ Sơn Nam lên Kẻ Chợ với bản án tử hình giam hậu.

Không phải một, nhưng là hai

Cha Phan-xi-cô phải điệu đi xử ngày 22-1-1745. Cha Mát-thê-ô được ơn đặc biệt tiễn bạn ra tận pháp trường. Giáo dân và lương dân đi theo rất đông. Nhưng bất ngờ Chúa Trịnh đổi ý, truyền lệnh xử cả Mát-thê-ô, thế là Cha này cũng được phúc tử đạo cùng ngày với Cha Phan-xi-cô.

Khi đầu hai tông đồ của Chúa vừa rơi, bổn đạo òa lên khóc, xông vào thấm máu.

Xác Cha Phan-xi-cô được đưa về nhà Chung Lục Thủy. Đức Cha Hi-le (Hy) và hầu hết các linh mục trong địa phận đều có mặt. Các ngài dâng lễ, hát kinh Tạ ơn (Te Deum). Năm 1769, Đức Cha Héc-năng-đê[4] (Tuấn) lập bản án gửi về Toà Thánh, được Đức Thánh Cha Cơ-lê-men-tê 14 (Clément) vui mừng tiếp nhận. Nhưng sau đó xảy ra nhiều biến cố, nên bản án bị bỏ quên. Đến năm 1891, theo lời yêu cầu của Cha Bề Trên dòng Thánh Đa-minh, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 truyền xét lại. Ngày 15-4-1906, Đức Thánh Cha Pi-ô X đã tôn phong Cha Phan-xi-cô Gin Phê-đê-rích lên bậc chân phúc và ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II lại tôn phong lên bậc hiển thánh.


[1] Matthieu Liciniana.

[2] Théophane Vénard.

[3] Hyacinthe Castaneda.

[4] Hernandez.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top