Ngày 10/12: Thánh Si-mon Phan Khắc Hòa – Giáo dân (1774-1840)

Vâng theo ý Chúa

Ông Si-mong Phan Khắc Hòa sinh năm 1787 ở làng Mai Vĩnh, Thừa Thiên trong một gia đình ngoại giáo. Cha ông tên là Thục, mẹ ông tên là Đáo, còn ông trước tên là Thu sau cải tên là Hòa.

Khi Cha qua đời, mẹ cậu đưa gia đình sang làng Lưỡng Kim, sau lại về Như Lý, Quảng Trị ở với một gia đình có đạo. Ở đây cậu được mẹ cho đi học đạo và năm lên 12 tuổi, cậu được chịu phép rửa tội lấy tên thánh là Si-mong.

Chủ nhà rất thương cậu, cho cậu đi học và giúp các Cha. Cha xứ thấy cậu thông minh, ngoan ngoãn, thì gửi cậu vào tiểu chủng viện. Sau một thời gian bề trên thấy cậu không có ơn Chúa gọi nên cho cậu về thế gian. Cậu Hòa buồn nhưng vâng theo ý Chúa không phàn nàn. Về nhà cậu theo học nghề thuốc và trở thành thày lang nổi tiếng khắp vùng.

Một thày thuốc đạo đức thương người và rộng rãi

Ông lang Hòa dùng nghề nghiệp và tiền của để giúp đỡ mọi người, nhất là những người tàn tật mù què, già nua, và những người sa cơ lỡ bước. Một hôm ông gặp một người phải cảm nằm giữa đường, ông đem người ấy vào điếm canh cạnh đấy, bảo người giúp việc đưa đồ ăn thức uống đến chăm sóc. Ông rất đạo đức nên được bầu làm Trùm họ, ông luôn nêu gương sáng cho mọi người. Ông sinh được 12 người con và chăm lo giáo dục con cái. Ông dùng tiền của dư thừa để giúp việc đạo, tu bổ nhà thờ, làm việc truyền giáo trong thời cấm cách ngặt nghèo.

Cả làng Như Lý xôn xao

Vua Minh Mệnh ra chiếu chỉ cấm đạo ngặt, ai không theo sẽ bị tử hình. Mọi người đều lo lắng, riêng ông lang Hòa bình thản không sợ hãi, ông vẫn giấu Đức cha Quy-ê-nô[1] (Thể) và Cha Đơ-la-mốt[2] (Y) trong nhà.

Năm 1839, cả làng Như Lý xôn xao kinh khủng khí biết ông Lang Hòa dám chứa đạo trưởng. Thấy thế ông Si-mong an ủi dân làng đừng sợ, nếu xảy ra chuyện gì, ông sẽ chịu trách nhiệm. Ngày 20-10 năm ấy, ông viết thư cho Đức cha Quy-ê-nô báo tin cho Đức cha biết có lệnh truy nã ráo riết lùng bắt các cố và ông trình thêm rằng: “Cố Đơ-la-mốt đang trọ ở nhà con làm cả làng sợ hãi, con khuyên họ đừng xôn xao, xin Đức cha cầu nguyện cho con và nếu xẩy ra nguy hiểm nào con cũng vui lòng chịu, dù người khác nhát sợ từ chối Chúa, dựng chùa miếu thờ lạy bụt thần thì mặc họ, riêng phần con, con sẽ giữ đạo đến hơi thở cuối cùng”.

Ông lang Hòa lo lắng thu xếp tận tình cho các Cha thừa sai, nhất là Cha Đơ-la-mốt. Biết việc đã lộ, ông đem Cha Đơ-la-mốt đi trốn. Ông đưa Cha đến làng An Ninh, chẳng may mấy hôm sau quan quân đến do thám bắt người có đạo nên ông cùng với mấy bổn đạo đem Cha xuống thuyền chở đi nơi khác. Thuyền tới làng Hòa Ninh thì trời ập tối, lính canh thấy thuyền thì lớn tiếng hỏi: “Thuyền ai đấy?”Ông lang Hòa mạnh bạo trả lời: “Thuyền tôi”. Họ lại hỏi: “Thuyền tôi là ai?” Ông cất cao giọng trả lời: “Tôi là lang Hò đây”. Họ lại kêu to: “Thuyền lang Hòa hay thuyền ai cũng phải đỗ lại vào bến”. Thấy nguy ông cho thuyền sát vào bờ và tìm cách cho Cha Đơ-la-mốt và mình chạy trốn. Lính đuổi theo bắt được cả hai điệu nộp cho quan huyện Dương Xuân, rồi giải lên tỉnh Quảng Trị, bị giam ở đây hai tháng, bị tra tấn, gông cùm.

Trong nhà tù kinh thành Huế

Ông lang Hòa không khai điều gì để các quan có thể căn cứ vào đấy làm hại làng Như Lý; ở tỉnh tra hỏi không được, các quan giải ông Si-mong Hòa về kinh đô Huế. Ở đây ông phải thẩm vấn 20 lần, bị đánh đập tàn nhẫn. Một lần các quan giục ông bỏ đạo sẽ cho tự do về xum họp với vợ con, ông can đảm trả lời dứt khóat: “Dù mất vợ con, mất của cải, mất sự sống nữa, tôi cũng bằng lòng giữ trọn đạo Chúa”.

Lần khác phải tra khảo đau quá, ông xin phép quan cho nói mấy lời, hy vọng các quan sẽ phục lẽ. Được phép, ông trình bày cho các quan nghe các giáo lý chân thật trong đạo, các quan chẳng những không nghe còn nhiếc mắng thậm tệ cho là những điều dối trá lường gạt thiên hạ nên càng tra tấn dữ tợn hơn.

Khổ hình không làm ông nao núng, trái lại dường như thêm sức cho ông được vững vàng hơn. Ông chỉ phàn nàn đau đớn một điều là ngay các bạn tù có người dỗ dành ông giả vờ bỏ đạo, ông cắt nghĩa lại rõ ràng rằng: “Đạo tôi dạy giữ cả bề trong lẫn bề ngoài và phải xưng ra trước mặt mọi người. Đạo cấm điều gian tà, dối trá nên dù phải chết tôi cũng không thể vâng lời vua mà khóa quá”. Ông ước ao được chết để làm chứng cho Chúa, khi các quan kết án tử hình, ông vui mừng hớn hở. Mỗi lần vợ con hay người nào đến thăm, ông thường khoe mình được diễm phúc chết vì đạo và cho đó là đặc ân quý trọng. Các con đến thăm ông thường khuyên rằng: “Cha yêu quý các con, cha chăm lo săn sóc các con tận tình, song cha phải kính mến Chúa nhiều hơn, các con đừng buồn, nên vâng theo ý Chúa. Các con ở với mẹ, thương yêu nhau, thu xếp việc nhà, bây giờ cha không lo được nữa, Chúa muốn cha chịu khó, cha xin vâng”.

Lần khác, bà Hòa đem đứa con mới được 2 tháng đến thăm chồng, ông bế con nói rằng: “Hôm nay cha thấy con, mai sau con không biết cha”. Về sau biết các quan muốn bắt gia đình, ông đưa tin cho vợ con trốn đi và từ đấy ông không còn gặp vợ con nữa. Trong tù, ông lo giúp các bạn tù phần hồn phần xác, ông khuyên bảo khuyến khích, bắt mạch cho thuốc người ốm đau.

Cầm ảnh Thập giá quăng đi, ta sẽ tha ngay

  Công phúc của ông Si-mong Hòa đã dư đầy, ngày 12 âm lịch, năm 21 đời vua Minh Mệnh, vua châu phê án trảm quyết, bêu đầu ba ngày cho mọi người sợ.

Khi điệu ông đi xử , các quan còn cố ép ông Hòa khóa quá. Khi qua khỏi An Hòa, đến Cống Chém gần họ Đốc sơ, quan truyền dừng lại. Cha Ngôn đứng giữa đám đông làm dấu giải tội cho ông.

Lính trói tay ông ra sau lưng, quan bắt ông đạp ảnh và nói: “Hòa ơi, mày ăn ở đâu ? Mày không phải là con dân vua sao? Mày không mạnh hơn vua đâu! Đạp ảnh đi sẽ được về với vợ con, rồi muốn giữ đạo thì mặc ý”. Ông thưa rằng: “Tôi thờ Chúa, tôi không bỏ Chúa”. Quan lại bảo: “Không đạp ảnh thì thôi, hãy cầm ảnh quăng đi ta sẽ tha ngay”. Thưa quan, như vậy cũng là chối Chúa, không trung thành, quan có lòng thương tôi, xin cám ơn. Quan tưởng ông Si-mong Hòa sợ Chúa phạt, nên quan đạp ảnh rồi nói với ông rằng: “Xem đây, ta đạp ảnh, Chúa có phạt đâu, mày cứ làm như ta, đừng sợ”. Ông thưa vắn tắt rằng: “Thưa quan, Chúa sẽ phạt cách khốn nạn đời sau”. Quan hỏi: “Nếu ta kéo mày qua ảnh thì sao?” Ông thưa: “Tôi không bằng lòng, tôi không có tội”.

Cuối cùng ông cương quyết nói với quan rằng: “Quan đừng mất thời giờ vô ích, xin quan thi hành lệnh vua”. Quan nghe thì nổi giận nói: “Nếu có một trăm đứa như mày, ta cũng giết cả trăm đứa trong một lúc”.

Quan ra hiệu chém, lính thi hành ngay, linh hồn ông bay về trời lĩnh triều thiên chiến thắng, đầu ông phải bêu ba ngày theo lệnh vua, để cho mọi người khiếp sợ, nhưng trái lại nhiều người không những không sợ, lại cảm động, khâm phục tinh thần anh dũng của ông Si-mong Hòa người làng Như Lý. Ông Si-mong Phan Khắc Hòa được phúc tử đạo ngày 12-12-1840. Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho ông ngày 27-5-1900, và Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II phong hiển thánh cho ông ngày 19-6-1988


[1] Cuénot.

[2] Delamotte.

Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top