Ngày 12/7: Thánh Phêrô Khanh – Linh mục (1780-1842)

Thánh Phêrô Khanh sinh năm 1780 tại Lương Khế, xã Hòa Duệ, tổng Cát Ngân, huyện Thanh Chương, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình Công giáo ngoan đạo.

14390 St. PheroKhanh

Cha mẹ ngài hằng ước mơ cậu con trai mang tên Phêrô Khanh của mình sau này sẽ trở thành linh mục của Chúa nên ngay từ sớm ông bà đã gửi cậu vào ở trong nhà xứ, xin cha xứ hướng dẫn ơn gọi của con mình. Trong thời gian ở với cha xứ, cậu Khanh tỏ ra rất ngoan ngoãn chịu khó học hỏi, tập luyện nhân đức và tận tụy với những công việc đã được trao phó như thu dọn bàn thờ, gìn giữ đồ thờ phượng ngăn nắp, sạch sẽ nhất là lo lắng chu toàn việc giúp lễ hằng ngày. Tới năm 25 tuổi thầy xin cha chính Mosson Nghiêm về chủng viện học để trở thành linh mục. Thầy được cha chính chấp nhận vào chủng viện học chương trình triết và thần học để sau này làm linh mục. Nhưng vì thời thế khó khăn, đạo Chúa bị cấm cách nên việc học bị gián đoạn, mãi tới năm 1819, lúc thầy đã 40 tuổi mới được lãnh chức linh mục.

Sau khi lãnh chức linh mục, Bề trên lần lượt sai Ngài đi làm mục vụ, ban đầu coi sóc Trại Lê, sau Thuận Ngãi rồi, Quỳnh Lưu, Thọ Kỳ, Làng Truông, Ngàn Sâu. Lâu nhất là ở Quỳnh Lưu 14 năm. Ở đâu Ngài cũng rất sốt sắng, tận tụy lo lắng khuyên dạy giáo dân, sống yêu thương, thuận hoà với nhau và hết lòng phụng sự Chúa, chăm lo đọc kinh sáng tối, siêng năng xưng tội rước lễ. Khi nói về Ngài, cha chính Mosson Nghiêm đã viết như sau:

Cha Khanh được làm linh mục thì chẳng khác nào như đèn cao soi sáng cho mọi người trong nhà và càng làm gương sáng hơn nữa về các nhân đức. Cha hết sức lo lắng phần rỗi cho các con chiên, sốt sắng làm sáng danh Chúa. Đặc biệt những người ở Nhà Đức Chúa Trời được Ngài dạy dỗ cho có nhân đức hơn người ở ngoài. Chính vì Ngài nhân đức như vậy mà Ngài được Chúa chọn để đổ máu mình ra làm chứng về Chúa Giêsu”.

Thời gian dưới triều đại của Minh Mạng, đạo Chúa vẫn bị cấm cách nên cha Khanh luôn phải trốn lánh và luôn di chuyển liên tiếp để có thể sóng gần gũi với con chiên mà giúp đỡ về phần thiêng liêng, giải tội, dạy giáo lý và ban các bí tích cho giáo dân. Một hôm Ngài nhận được thư của cha chính Mosson Nghiêm nhắn là muốn gặp Ngài tại Nhà Chung. Được thư của cha chính, Ngài vội vã thu xếp tìm cách về gặp cha chính Nghiêm. Ngài lên một chiếc thuyền nhỏ đi từ Ngàn Sâu, trên đường đi, Ngài ghé vào thăm giáo dân ở Thọ Ninh rồi đi Tam Sa thì bị lính canh khám xét thấy trong thuyền có đồ lễ lại thấy có một ông già vóc dáng trắng trẻo phúc hậu . Lính nghi là cố đạo nên trình quan Giám sát. Quan ra lệnh hỏi xem có phải là Thầy Thuốc không. Lính hỏi, thì cha Khanh thẳng thắn trả lời:

“Tôi là đạo trưởng”

Quân lính thấy xưng mình là đạo trưởng thì bắt ngay rồi bắt đeo gông, xích chân tay và giải ngay về tỉnh. Lúc mới bị bắt, cha Khanh rất run sợ, nhiều khi sợ hãi quá nên nói không ra lời. Nhưng thật lạ lùng! Tới khi quan khuyên bước lên Thánh Giá thì Ngài lại vững mạnh, hết sợ hãi và nhất quyết dù phải chết thì cũng không thể chối Chúa.

Một hôm quan đầu tỉnh Hà Tĩnh phải về kinh trong lúc bà vợ ở nhà bị bệnh nặng. Cậu con trai nghe nói là trong nhà tù có ông Thầy Thuốc nên tới gặp viên Cai Ngục nhờ mời Thầy Thuốc tới chữa bệnh cho bà mẹ. Viên Cai Ngục tới xin cha chữa cho bà vợ quan lớn. Cha nói:

“Tôi đang ở trong tù, cổ đeo gông, chân tay bị xiềng xích như thế này thì chữa chạy ai được”.

Viên Cai Ngục xin đích thân sẽ đưa cha đi, nếu cha chữa được. Cha đồng ý đi nên viên Cai Ngục và cậu con trai của quan lớn đưa cha tới nhà để chữa bệnh cho bà lớn. Tới nơi, cha chẩn mạch rồi lấy 5 thứ dược thảo sắc cho bà uống. Hai ngày sau bà hoàn toàn khỏi bệnh. Thấy cha chữa cho bà lớn khỏi bệnh, lúc ấy viên Cai Ngục cũng có một cô nhân tình đang mang thai lại mắc bệnh rất nặng. Cô đã chạy chữa nhiều Thầy Thuốc mà không chữa khỏi. Viên Cai Ngục cũng xin cha chữa trị cho người tình nhân của mình, Cha đồng ý nên ông lại đích thân đưa cha đến phòng bệnh nhân. Cha chẩn bệnh rồi kê cho ông một toa thuốc để sắc cho bệnh nhân uống. Sáng hôm sau người nhà bệnh nhân đến nhà tù vái cha ba vái và báo tin bệnh nhân đã thuyên giảm. Cha bảo tiếp tục uống ba lần nữa thì khỏi hẳn. Từ đó tin đồn đi khắp nơi trong tỉnh Hà Tĩnh, tù nhân Khanh là Thầy Thuốc rất giỏi và mát tay. Từ đó, có nhiều người đến xin chữa bệnh và học đạo, xin theo đạo, trong số những người xin theo đạo có cả cha mẹ của quan án tỉnh. Cô gái tình nhân của viên Cai Tù sinh con trai cũng đem con đến xin cha Rửa Tội cho cả hai mẹ con nữa.

Quan án Nguyễn Khắc Trạch biết được những việc tốt lành ấy nên rất mến thương cha. Quan đến nói với cha là cha chỉ khai là Thầy Thuốc, để ông tha. Nhưng cha không chiụ. Cha nói:

– “Thưa quan tôi là đạo trưởng chứ không phải là thầy thuốc”

Quan lại nói:

“Cụ cứ khai là Thầy Thuốc thì tôi tha ngay”.

Ngài lại dõng dạc thưa lại:

“Nếu tôi khai là Thầy Thuốc, thì sau này có ai lên làm đạo trưởng giúp dân thì còn ai tin theo và nghe lời nữa?”

Lần thứ 3, khi các quan làm bản phúc trình về kinh đô, các quan dặn cha Khanh:

– “Xin cụ chỉ nhận là Thầy Thuốc, không nhận là đạo trưởng”.

Ngài lại mạnh dạn trả lời:

– “Tôi làm đạo trưởng, giảng dạy bao nhiêu người nói thật. Nay tôi lại nói sai sự thật, thì nhất định không thể được. Quan có lòng thương mà tha thì tôi cám ơn, bằng không thì dù có phải chết, có phải phanh thây ra làm 4 làm 5 thì tôi xin vui lòng chấp nhận”.

Trong thời gian bị giam tù, rất nhiều lần cha Khanh đã bị tra tấn và bị đánh rất đau đớn, bị nhịn đói, nhịn khát và trăm bề khổ cực. Với những khổ hình ấy, các quan hy vọng sẽ làm cha nản lòng mà bỏ đạo. Nhưng càng bị giam lâu, càng bị nhiều khổ hình thì Ngài lại càng vững mạnh, luôn can đảm, luôn sáng suốt trong tất cả những lần phải đối đáp với các quan. Biết rằng, không còn cách nào thuyết phục được Ngài nữa nên các quan làm án gửi về kinh đô xin châu phê. Vua Thiệu Trị phê chuẩn sau đó gửi lại cho quan tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 12 tháng 7 năm 1842 quan Giám sát cùng với 30 quân lính áp giải Ngài tới nơi xử là Cồn Cồ, Hà Tĩnh. Trên đường ra pháp trường cha bình tĩnh, nét mặt hớn hở, miệng luôn cầu kinh. Tới nơi cha xin ít phút quì trên chiếc chiếu cầu nguyện. Sau đó, quan cho lính tháo gông, mở xiềng xích tay chân, đợi lệnh ba hồi chiếng trống thì chém đầu. Người lý hình tên Bếp Xuân thưa với cha:

– “Xin cha tha tội lỗi cho con, vì con phải làm theo lệnh quan mà thôi”.

Nói xong thì nghe chiêng trống đổ hồi, anh vung gươm thật cao, chém một nhát đứt cổ ngay. Quan cho phép dân chúng xô vào thấm máu. Người ta tin rằng máu của các cố đạo bị chém như thế này thì chữa được rất nhiều thứ bệnh. Thầy Tuyên và ông Thuận là hai người lãnh xác, lấy đầu Ngài khâu lại, tẩm liệm rồi đưa về an táng tại Nhà Chung ở Kẻ Gốm

Người ta kể lại rằng hôm ấy là mùa hè, nắng và rất nóng. Nhưng khi xử cha Khanh thì tự nhiên khoảng hai mẫu đất chung quanh nơi xử cha trời tối lại rồi mưa tầm tã như mưa đá chừng 3 phút. Riêng xác của Ngài dù trời mùa hè nóng như thế mà xác vẫn thơm tho, nét mặt tươi tốt, máu chảy ra vẫn đỏ, khiến có người tưởng là Ngài chưa chết. Sau đó, nhiều người tới cầu nguyện trên mồ Ngài và rất nhiều người được ơn như ý nguyện xin, đặc biệt là những người mang thai tới cầu xin Ngài thì sinh nở rất dễ dàng

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước tử đạo, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

Facebook
Twitter
Email
Print
Scroll to Top