Ngày 26/5: Thánh Gio-an Đoàn Trinh Hoan – Linh mục (1798-1861)

Cha Gio-an Đoàn Trinh Hoan sinh năm 1798 ở làng Văn Dương gần An Cựu – Thừa Thiên nay thuộc tỉnh Bình Trị Thiên, trong một gia đình khá giả đạo đức, có đất đai trồng trọt và làm nghề dệt vải. Ông bà thân sinh của Cha là ông Ba-tô-lô-mê-ô Đoàn Trinh Sương và bà I-sa-ve Diện quê ở Kim Long, Huế. Ông bà sinh được năm con, ba trai, hai gái. Con cả là ông Đoàn Trinh Cung sau bị chết rũ tù vì Đức Tin và con út là chân phúc Đoàn Trinh Hoan.

Thời kỳ chuẩn bị

Chú Hoan dâng mình cho Chúa từ khi còn nhỏ. Cha Kết là cậu ruột đỡ đầu và lo liệu cho chú theo học chủng viện. Sau Đức Cha Gio-an La-ba-tét gửi chú sang chủng viện Pi-năng (Mã Lai) 8 năm. Trở về nước, Thày Hoàn giúp Đức Cha Ta-be[1] từ dịch sách, làm thư ký và theo Đức Cha đi kinh lược Sài Gòn.

Thời kỳ này thày trau dồi kiến thức, thu góp nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị đón nhận chức linh mục.

Chức linh mục trong thời cấm cách

Năm 1836, ba năm sau khi vua Minh Mệnh ra sắc chỉ cấm đạo toàn quốc, Đức Cha Quy-ê-nô (Thể) truyền chức linh mục cho Thày Gio-an Đoàn Trinh Hoan. Vị tân linh mục lĩnh nhận chức trọng ấy với bao ơn thiêng liêng đặc biệt, đồng thời cũng nhận những khốn khó, chông gai rải rác trên mỗi bước đi. Cha Hoan đã trông thấy tất cả. Cha đón nhận tất cả để đạt tới cùng đích lý tưởng cao đẹp là mở rộng nước Chúa và cứu các linh hồn.

Trước hết Cha được cử đi truyền giáo ở Bắc địa phận Đàng Trong vùng Kẻ Sen, Quảng Bình độ hai ba năm, rồi đến Bái Trời, Quảng Trị, sau Cha về các vùng lân cận tỉnh Thừa Thiên. Ở đây Cha bị một người tân tòng tố giác, nên Cha lại phải trở ra Quảng Bình.

Thời kỳ chuẩn bị

Chú Hoan dâng mình cho Chúa từ khi còn nhỏ. Cha Kết là cậu ruột đỡ đầu và lo liệu cho chú theo học chủng viện. Sau Đức Cha Gio-an La-ba-tét gửi chú sang chủng viện Pi-năng (Mã Lai) 8 năm. Trở về nước, Thày Hoàn giúp Đức Cha Ta-be[1] từ dịch sách, làm thư ký và theo Đức Cha đi kinh lược Sài Gòn.

Thời kỳ này thày trau dồi kiến thức, thu góp nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị đón nhận chức linh mục.

Chức linh mục trong thời cấm cách

Năm 1836, ba năm sau khi vua Minh Mệnh ra sắc chỉ cấm đạo toàn quốc, Đức Cha Quy-ê-nô (Thể) truyền chức linh mục cho Thày Gio-an Đoàn Trinh Hoan. Vị tân linh mục lĩnh nhận chức trọng ấy với bao ơn thiêng liêng đặc biệt, đồng thời cũng nhận những khốn khó, chông gai rải rác trên mỗi bước đi. Cha Hoan đã trông thấy tất cả. Cha đón nhận tất cả để đạt tới cùng đích lý tưởng cao đẹp là mở rộng nước Chúa và cứu các linh hồn.

Trước hết Cha được cử đi truyền giáo ở Bắc địa phận Đàng Trong vùng Kẻ Sen, Quảng Bình độ hai ba năm, rồi đến Bái Trời, Quảng Trị, sau Cha về các vùng lân cận tỉnh Thừa Thiên. Ở đây Cha bị một người tân tòng tố giác, nên Cha lại phải trở ra Quảng Bình.

Huấn luyện săn sóc đến thợ gặt tương lai

Vị linh mục giản dị, trầm tĩnh, chu toàn bổn phận mục vụ, nhìn xa trông rộng, Cha luôn lo lắng cho Giáo Hội tương lai, cho các thợ gặt mai sau, vì thế dù cấm cách ngặt nghèo, đi đâu Cha cũng đem một số chú bé đi theo, Cha dạy họ La-tinh để chuẩn bị họ làm thày giảng hay chủng sinh, những ai có khả năng Cha giới thiệu với Bề trên để người gửi họ đi du học, đó là cách thức Cha đào tạo các linh mục tương lai. Riêng mình Cha giúp được 12 chủng sinh sau này được lên chức linh mục.

Các Đức Cha Quy-ê-nô, Pe-lơ-ranh[2] (Phan), Sô-hi-ê[3] (Bình) tín nhiệm tài năng của Cha, giao cho Cha luyện thêm về mục vụ cho các linh mục trẻ, nhất là các linh mục mới chịu chức.

Lòng nhân ái cao cả

Khi Cha Hoan ở Kẻ Sen, một hôm giáo dân bắt được một tên ăn trộm đã nhiều lần ăn trộm của cải nhà xứ. Một số người muốn đưa ra tòa, những người khác lại muốn chém đầu ngay cho xong. Họ giải tên này đến Cha xứ, Cha bình tĩnh nghe giáo dân tố cáo, nghe xong Cha ôn tồn nhẹ nhàng làm dịu bớt sự bực tức của giáo dân, rồi Cha khuyên tên trộm mấy lời và thả anh. Một số giáo dân bất bình, nhưng phần đông bằng lòng và cảm phục lòng bác ái cao cả của Cha.

Ở Kẻ Sen được bốn năm, Bề trên đổi Cha vào Nam địa phận. Trong bức thư luân lưu gửi cho các giáo sĩ ngày 10-1-1855, Đức Cha Pe-lơ-ranh đã hết lòng khen ngợi Cha Hoan.

Những tin chẳng lành

Sau đó Cha lại về xứ Mỹ Hương – Quảng Bình, ở đây Cha lo sửa chữa hai tu viện nhỏ: tu viện Mỹ Hương và tu viện Kẻ Bàng. Cha huấn luyện các nữ tu và lo cho họ cả về vật chất.

Khi Cha đang ẩn ở hai tu viện này, có người tố giác với các quan, quan sai lính về vây nhà dòng nhưng may mắn, Cha chạy qua hàng rào lính đang xiết chặt vòng vây, nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ tránh đi nơi khác.

Thoát nạn này, lại đến nạn khác, được tin báo có người tố giác Cha, không rõ người ấy là ai, tin thì đồn ngườị ấy là ông lang Hoa không có đạo, tin thì đồn người ấy là người có đạo muốn báo thù một chủng sinh đang ở với Cha, sau cùng chị An-na Thân dòng Mến Thánh giá cho biết có hai người ngoại ở làng Đức Phổ và Hữu Cai đã tố giác Cha để lấy thưởng.

Đầu tháng 1-1861, Cha Hoan về xứ Sáo Bùn làm lễ Hiển Linh. Các quan cho lính canh gác các ngả đường kiểm soát người qua lại để bắt Cha. Ông Thương đang bị giam ở Đồng Hới biết tin ấy cho người đi báo ngay. Cha còn đang suy nghĩ phân vân thì chú Đức ở với Cha cho rằng tin đó không thật.

Nhưng còn hồ nghi, Cha mời các người làm việc hỏi ý kiến. Đang bàn tính thì có hai người có đạo là ông Hiếu và ông Chương bị bắt vì đạo giam ở Đồng Hới, lợi dụng lúc được thả lỏng trốn về báo tin cho Cha, nhưng cũng không biết rõ ý các quan thế nào. Cha Hoan nghĩ một lúc rồi bảo: “Nếu lính đi hành quân thì mình ở đây cũng không sợ. Chúng ta cứ chờ đợi xem sao”.

Ông Hiếu và ông Chương quay về Đồng Hới để dò thêm tin tức, lúc ấy trời đã tối, vừa ra khỏi làng lính ập tới bắt hai ông giải về Cầu Ngắn, không xa xứ Sáo Bùn bao nhiêu. Biết có nguy hiểm, giáo dân đưa Cha xuống thuyên chở ra giữa sông. Một lúc lâu, không thấy động tĩnh người lái thuyển chở Cha về Sáo Bùn, Cha lên bờ trốn trong bụi rậm.

Ánh trăng chỉ điểm

Cha Hoan vào đây được mấy phút, một người lính đi tuần đến gần bên Cha, người ấy cắm giáo xuống đất, đứng nhìn chung quanh: Trời sáng trăng, cảnh vật im lìm, không tiếng động, bỗng người lính thấy trong bụi rậm có chiếc quần dài, liền gọi ông đội chỉ huy đến chỉ cho ông xem thấy vật khả nghi, ông này quát to: “Ai ở đằng kia, ra ngay không ta đâm chết”.

Biết bị lộ, Cha Hoan ra khỏi bụi rậm và nói: “Tôi sẽ ra, đừng đánh tôi”. Ông đội túm lấy áo Cha hỏi: “Có phải là đạo trưởng không?” Cha Hoan trả lời: “Phải, chính tôi”. Ông ra lệnh trói Cha, giải về Đồng Hới, hôm ấy là ngày 3-1-1861.

Cha phải ra tòa ngay, quan hỏi: “Ông có phải là cụ không?” Cha Hoan đáp: “Tôi không biết cụ là gì? Tôi là đạo trưởng”. Quan lại hỏi: “Tên là gì? Gia đình thế nào? Ở đây mấy ngày rồi?” Cha đáp: “Tên tôi là Hoan, bố mẹ chết từ khi còn nhỏ; tôi ở đây hai ngày”.

Quan không hỏi thêm nữa. Đêm ấy Cha phải mang gông nặng, ngủ trên đất trong xó nhà, mỏi mệt, một giọt nước cũng không được uống.

Sáng hôm sau bà vợ quan Bố gửi cho Cha một miếng trầu và một ấm nước chè. Các bà khác cũng tò mò đến xem “cụ đạo” bị bắt. Họ khuyên Cha xuất giáo sẽ được tha ngay. Cha đáp: “Từ trước đến nay tôi thường khuyên bổn đạo gớm ghét tội ấy, bây giờ tôi lại phạm sao được?”

Một quan gọi Cha đến, doạ nạt giận dữ, chửi bới Cha, ông bắt Cha khóa quá. Cha cương quyết từ chối, nên lính giải vào nhà giam, phải gông cùm, một giờ sau người ta mới tháo cùm và ba ngày sau cũng tháo cả gông.

9 giờ ngày 4-1, các quan Đồng Hới triệu tập tòa án ra lệnh điệu Cha đến. Các quan hỏi Cha có phải là đạo trưởng không, có khóa quá không? Cha can đảm trả lời: “Tôi là đạo trưởng, không bao giờ tôi khóa quá”. Các quan biết có dụ dỗ dọa nạt cũng không được việc gì nên chỉ hỏi quê quán, từ đâu tới, đã ở những đâu, trọ ở nhà ai. Cha Hoan trả lời vắn tắt: “Tôi mồ côi cha mẹ. Từ khi còn nhỏ, không biết quê quán. Tôi từ các tỉnh trong Nam ra đây. Vua quan cấm đạo tôi phải lang thang nay đây mai đó, gặp đâu tiện thì ở, ai cho thì ăn, tôi không biết tên tuổi chủ nhà”.

Các quan lại hỏi: “Đồ lễ này của ai?” Cha nói tránh: “Các đồ này đã cũ nát”. Các quan đưa cho Cha hai lá thư bằng tiếng La-tinh, cuốn Kinh Thánh Tân Ước và hỏi: “Thư này nói gì?” Cha cầm xem rồi trả lời: “Không có vấn đề gì quan trọng”. Rồi Cha đọc to tiếng mấy câu trong sách Tân Ước.

Quan lại hỏi: “Ông đã ở nhà nào?” Cha im lặng không đáp. Quan truyền lính nọc Cha ra đánh 19 roi. Cha không trả lời. Quan sai lính cởi trói cho Cha rồi lại hỏi những câu đã hỏi trước. Cha vẫn im lặng, nhưng khi quan hỏi từ đâu đến, Cha đáp: “Tôi từ kinh đô ra”.

Một quan quát: “Mất thời giờ, ông hãy trả lời vắn tắt: Trước khi đến đây ông đã ở đâu?” Cha đáp: “Từ miền Nam ra tôi qua làng Cửi (họ Mỹ Duyệt), làng Đợi (họ Đại Phong)”. Quan hỏi: “Ông có quen ai ở các làng ấy không? Khi thuyền qua đấy ông vào nhà ai?” Cha đáp: “Tôi không vào nhà ai, nhưng tôi có quen ông Khôi ở làng Cửi, hôm tôi đi qua đó, ông lại vắng nhà. Còn ở làng Đợi tôi quen ông Huế, tôi định vào thăm nhưng hôm ấy nhà ông đông khách tôi không dám vào”.

Lần thứ hai, bị gọi ra tòa tra khảo, và vì Cha vẫn vững vàng nên bị đánh 7 roi.

Mười ngày sau Cha lại phải ra tòa cùng với ông Mát-thê-ô Nguyễn Văn Đắc (quen gọi là Phượng), ông Khôi và ông Huế. Các quan bắt ông Khôi và ông Huế nhận tội chứa chấp đạo trưởng nhưng hai ông nhất định không nhận. Tức giận quan dạy đánh đòn hai ông. Thấy lính đánh ông Huế cách tàn nhẫn, Cha Hoan can thiệp: “Xin các quan thương ông này, tôi có quen ông, nhưng tôi không vào nhà ông, tôi chỉ gửi cho vợ ông gói thuốc”.

Họ lại giam tất cả trong ngục.

Mấy ngày sau Cha Hoan lại phải ra tòa và cũng như mọi lần, Cha một mực cương quyết không chịu khóa quá. Các quan lại truyền lính kìm kẹp Cha, trói chân tay Cha kéo giang ra như Thánh An-rê xưa, rồi cho gọi thợ quen bịt móng cân ngựa đến truyền xé thịt Cha cho đến khi Cha chịu khai. Nhưng may có quan khác đến thay, quan này không biết lệnh trên, truyền cởi trói Cha, nhưng Cha phải giăng nọc phơi ra nắng 2, 3 giờ liền, cực khổ, khản cổ đến 4 ngày không nói được.

Thấy Cha ốm yếu quá, các quan bảo lính tháo gông cùm, cho Cha ngồi chiếu và cho hai nữ tu là chị An-na Nguyện và bà Thêm, Bề trên tu viện Mỹ Hương, đến săn sóc Cha.

Lần thứ tư Cha lại phải ra tòa cùng với ông Đắc các quan bắt ông Đắc nhận đã chứa chấp Cha, nếu không sẽ bắt vợ con tra khảo. Nghe lời dọa nạt dữ tợn ấy, Cha Hoan khuyên ông nhận đã tiếp tế thức ăn cho Cha.

Từ hôm ấy, các quan không tra khảo Cha nữa, họ kết án Cha phải trảm quyết vì đã truyền bá tả đạo.

Những ngày tháng trong tù

Lúc nào Cha cũng đọc kinh, lần hạt suy ngắm, hoặc khuyên bảo các bạn tù ở vững vàng bền chí vì lòng mến Chúa. Nhiều giáo hữu và chủng sinh đến thăm Cha, Thày Phê-rô Trương Văn Quang và Thày Ban có khi ở lại với Cha lâu ngày, sau hai thày này được chịu chức linh mục. Các Cha cũng đến thăm và giải tội cho Cha nhiều lần. Còn phần Cha, Cha giải tội cho các bạn tù, giúp ba người bỏ đạo ăn năn trở lại và rửa tội một trẻ sơ sinh. Một lần người ta mang nhiều Mình Thánh đến, Cha phân phát cho các tù có đạo.

Án trong kinh duyệt lại ngày 25-5, một ông đội nói với Thày Quang rằng: “Đã có lệnh mài gươm, có lẽ mai đạo trưởng sẽ phải xử”. Biết tin ấy Cha Hoan vui mừng nói: “Mọi sự đã hoàn tất, tôi cảm tạ Chúa vì Chúa đã cho tôi biết ngày giờ tôi được đổ máu ra vì Chúa tôi”.

Rồi Cha bảo Thày Đức viết thư báo tin Cha chết, ghi lại những đoạn đường tù tội. Viết xong, thày hỏi Cha: “Khi Cha nghe tin bị xử, Cha có sợ không?” Cha trả lời: “Thoạt nghe cũng sợ, nhưng chỉ phút sau là Cha cảm thấy vui mừng”.

Thày Đức xin Cha định liệu khi Cha chết sẽ thu xếp thế nào. Cha bảo: “Xác Cha con muốn làm thế nào tùy ý, nhưng đừng làm long trọng, sợ các giáo hữu sẽ bị bắt vào dịp đó”. Rồi Cha dặn thêm: “Con báo cho Cha Gẫm đến gần thành Đồng Hới chỗ Cha sẽ đi qua để ban phép Giải tội cho Cha”. Dặn dò xong Cha giải tội cho đến nửa đêm, các giáo hữu từ giã Cha ra về, Cha nói: “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Chúa Ki-tô, hãy ở lại bình an và cầu nguyện cho tôi”, rồi Cha nói tiếp: “Nếu Cha đã làm mất lòng ai, xin hãy tha cho Cha”.

Sáng hôm sau, Cha mặc quần áo mới, không ăn uống gì. Lính đến điệu Cha đi xử, Cha xin lỗi các bạn tù đến từ biệt Cha. Chị Nguyện cũng được ông đội cho phép đi theo Cha đến nơi xử. Chị mang theo một miếng vải và cuộn giấy để thấm máu Cha đem về tôn kính.

Ông đội May đến, ông kính cẩn bái chào Cha, đặt gông lên vai Cha và ông giữ một đầu cho đỡ nặng. Một người lính đi trước cầm bản án đề rằng: “Tự Đức năm thứ 14, ngày 17-4 âm lịch. Tên Hoan, đạo trưởng Gia- tô, đã giảng tả đạo, mê hoặc dân chúng, nó đã giấu tài liệu, đồ thờ phượng ở nhà người ta. Đó là tên phản loạn. Phải trảm quyết ngay”. Cha đi giữa, 40 người lính xếp hàng đi hai bên, quan Giám sát cưỡi ngựa đi sau.

Ra khỏi nhà giam được mấy bước thì gặp đám quân giải ông Nguyễn Văn Đắc đi xử cùng với Cha. Đến cửa thành Đồng Hới, đoàn người dừng lại cho tội nhân ăn uống. Cha Hoan không ăn, Cha đưa mắt tìm Cha Gẫm để chịu phép Giải tội, nhưng không thấy.

Nữ Vương của tôi

Pháp trường là một cánh đồng không có hàng rào bao quanh, Cha Hoan quỳ trên chiếc chiếu lót vải cầu nguyện. Lính tháo gông không được nên phải bẻ, làm Cha đau đớn quá. Rồi một người lính hô to: “Ai muốn từ giã thì đến ngay”. Chị Nguyện và Thày Quang chạy đến, vừa chào Cha xong lính lại đuổi đi ngay. Quan Giám sát ngồi trên ngựa gọi loa: “Ông muốn quỳ hay muốn trói vào cọc”. Cha trả lời: “Tôi muốn quỳ”. Quan hỏi: “Sẵn sàng chưa?” Cha đáp: “Chờ tôi một chút”.

Cha chắp tay ngước mắt lên trời cầu nguyện xin ơn trợ giúp trước khi bước vào cuộc chiến đấu lần cuối cùng.

Quan bảo lính: “Các chú bỏ khăn ra, búi tóc ông lên đỉnh đầu. Lính cởi khuy áo cổ, sửa lại cổ áo, thấy Cha đeo dây ảnh, định lấy ra, nhưng Cha Hoan giữ lại và nói: “Đây là Nữ Vương của tôi”, Cha vừa nói vừa kính cẩn hôn ảnh Đức Mẹ. Cha muốn Mẹ ở bên Cha đến giờ phút cuối đời. Lính thôi ngay; quan nói lớn: “Tới giờ rồi, nghe lệnh chém ngay”.

Một đội trưởng đến trước mặt Cha, múa kiếm để Cha khỏi phải lo sợ chờ đợi giờ phút sau cùng.

Lý hình đợi sẵn sau lưng, tiếng chuông vừa dứt, lính chém ngay, nhưng nhát đầu chỉ chém vào da, Cha Hoan nghiêng đầu một bên, lính chém lần thứ hai, đầu lìa khỏi cổ, người ấy cầm đầu giơ lên cao cho quan xem thấy, rồi thả xuống đất.

Mọi người cả lương lẫn giáo xông vào thấm máu. Người ta liệm đầu và thi hài đặt vào quan tài đem về chôn ở xứ Mỹ Hương – Quảng Bình.

Cha Gio-an Đoàn Trinh Hoan được phúc tử đạo ngày 26-5-1861 vào ngày lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi.

Ngày 13-2-1879, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Cha lên bậc Đáng Kính. Ngày 2-5-1909 Đức Thánh Cha Pi-ô 10 đã tôn Cha lên bậc chân phúc. Hằng năm Hội Thánh mừng lễ Cha vào chính ngày được lĩnh triều thiên tử đạo.

Hiện nay hài cốt thánh Gio-an Đoàn Trinh Hoan để lại ở chủng viện Phú Xuân – Huế. Ở Huế có một tiểu chủng viện đặt tên là chủng viện Hoan-Thiện, là tên thánh Giuse Hoan và Tô-ma Thiện.

Năm 1961 kỷ niệm 100 năm ngày thánh Giuse Đoàn Trinh Hoan tử đạo, xứ Kim Long, Huế đã xây một đài kỷ niệm kính nhớ hai thánh Gio-an Hoan và An-rê Trông, cả hai đều sinh quán ở Kim Long Huế.

Ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã tôn phong Cha Giu-se Đoàn Trinh Hoan lên bậc hiển thánh.

—–oOo—–


[1] Taberd.

[2] Pèlerin

[3] Sohier

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Ngày 01/06: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo

Ngày 01/6: Thánh Giuse Túc – Giáo dân

Ngày 02/6: Thánh Mac-se-li-nô và thánh Phê-rô – Tử đạo

Ngày 02/6: Thánh Đaminh Ninh – Giáo dân

Ngày 03/6: Thánh Ca-rô-lô Loan-ga và các bạn – Tử đạo

Ngày 03/6: Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) – Thủ Bạ

Ngày 05/6: Thánh Bô-ni-phát – Giám mục, tử đạo

Ngày 05/6: Thánh Luca Vũ Bá Loan – Linh mục

Ngày 05/6: Thánh Đa Minh Toại – Ngư Phủ và Thánh Đa Minh Huyện – Ngư Phủ

Ngày 06/6: Thánh Nô-bet-tô – Giám mục

Ngày 06/6: Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng – Giáo dân và Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần – Giáo dân

Ngày 06/6: Thánh Vinhsơn Dương – Thu Thuế

Thánh 09/6: Thánh Ép-rem – Phó tế, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 11/6: Thánh Ba-na-ba – Tông đồ

Ngày 12/6: Thánh Augustinô Phan Viết Huy – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Nicolao Bùi Đức Thể – Quân nhân

Ngày 12/6: Thánh Đaminh Đinh Đạt – Quân nhân

Ngày 13/6: Thánh An-tôn Pa-đu-a – Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 16/6: Thánh Đaminh Nguyên, Nhi, Mạo và Thánh Vinhsơn Tưởng, An-rê Tường

Ngày 17/6: Thánh Phêrô Đa – Thợ Mộc

Ngày 21/06: Thánh Lu-i Gonzaga – Tu sĩ

Ngày 24/06: Sinh nhật thánh Gio-an Baotixita

Ngày 26/6: Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu – Thầy Giảng

Ngày 26/6: Thánh Đa Minh Henares Minh – Giám mục

Ngày 27/6: Thánh Tôma Toán – Thầy Giảng

Ngày 28/06: Thánh Irênê – giám mục, tử đạo

Ngày 29/06: Thánh Phêrô và Phaolô tông đồ

Ngày 30/6: Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến – Linh mục

  1. Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc – Linh mục
  2. Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông – Thầy giảng
  3. Thánh An-rê Trần Văn Trông – Binh sĩ
  4. Thánh An-rê Tường – Giáo dân
  5. Thánh Phê-rô Nguyễn Ðích – Trùm họ
  6. Thánh An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh – Y sĩ
  7. Thánh Au-gus-ti-nô Ðông – Linh mục Pháp
  8. Thánh Au-gus-ti-nô Phan Viết Huy – Binh sĩ
  9. Thánh Au-gus-ti-nô Nguyễn Văn Mới – Giáo dân
  10. Thánh Bê-na-đô Vũ Văn Duệ – Linh mục
  11. Thánh Ða-minh Cẩm – Linh mục
  12. Thánh Ða-minh Ðinh Ðạt – Binh sĩ
  13. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Hạnh – Linh mục
  14. Thánh Ða-minh Huyên – Giáo dân
  15. Thánh Ða-minh Phạm Viết Khảm – Quan án
  16. Thánh Ða-minh Nguyễn Ðức Mạo – Giáo dân
  17. Thánh Ða-minh Hà Trọng Mầu – Linh mục
  18. Thánh Ða-minh Nguyên – Giáo dân
  19. Thánh Ða-minh Nhi – Giáo dân
  20. Thánh Ða-minh Ninh – Giáo dân
  21. Thánh Ða-minh Toái – Giáo dân
  22. Thánh Ða-minh Trạch – Linh mục
  23. Thánh Ða-minh Vũ Ðình Tước – Linh mục
  24. Thánh Ða-minh Bùi Văn Úy – Thầy giảng
  25. Thánh Ða-minh Nguyễn Văn Xuyên – Linh mục
  26. Thánh Ða-minh Hanares Minh – Giám mục
  27. Thánh Giê-rô-ni-mô Liêm – Giám mục
  28. Thánh Giu-se An – Giám mục
  29. Thánh Clê-men-tê I-nha-xi-ô Y – Giám mục
  30. Thánh Melchor Xuyên – Giám mục
  31. Thánh Phê-rô Cao – Giám mục Pháp
  32. Thánh Tê-pha-nô Tê-ô-đô Thể – Giám mục Pháp
  33. Thánh Va-len-ti-nô Be-ri-ô Ô-choa Vinh – Giám mục
  34. Thánh Em-ma-nu-el Lê Văn Phụng – Trùm họ
  35. Thánh Em-ma-nu-el Nguyễn Văn Triệu – Linh mục
  36. Thánh Gia-cô-bê Ðỗ Mai Năm – Linh mục
  37. Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta Cỏn – Lý trưởng
  38. Thánh Gio-an B. Ðinh Văn Thành – Thầy giảng
  39. Thánh Gio-an Ðạt – Linh mục
  40. Thánh Gio-an Ðoàn Trịnh Hoan – Linh mục
  41. Thánh Gio-an Lu-y Bo-na Hương – Linh mục Pháp
  42. Thánh Gio-an Ca-rô-lô Cooc-nây Tân – Linh mục Pháp
  43. Thánh Gio-an Thê-ô-phan Vé-nard Ven – Linh mục Pháp
  44. Thánh Giu-se Hoàng Lương Cảnh – Trùm họ
  45. Thánh Giu-se Marchand Du – Linh mục Pháp
  46. Thánh Giu-se Ðỗ Quang Hiển – Linh mục
  47. Thánh Giu-se Ferandez Hiền – Linh mục
  48. Thánh Giu-se Nguyễn Duy Khang – Thầy giảng
  49. Thánh Giu-se Nguyễn Văn Lựu – Trùm họ
  50. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Nghi – Linh mục
  51. Thánh Giu-se Phạm Trọng Tả – Cai tổng
  52. Thánh Giu-se Lê Ðăng Thị – Cai đội
  53. Thánh Giu-se Tuân – Linh mục (1811 – 1861)
  54. Thánh Giu-se Trần Văn Tuân – Giáo dân (1832 – 1862) 
  55. Thánh Giu-se Túc – Giáo dân (1842-1861)
  56. Thánh Giu-se Nguyễn Ðình Uyển – Thầy giảng (1773-1838)
  57. Thánh Giu-se Ðặng Ðình Viên – Linh mục (1787-1838)
  58. Thánh Jacinta Castaneda Gia – Linh mục (1743 – 1773)
  59. Thánh I-nê Lê Thị Thành – Giáo dân (1781-1841)
  60. Thánh Lô-ren-sô Ng. Văn Hưởng – Linh mục (1802-1856)
  61. Thánh Lô-ren-sô Ngôn – Giáo dân (1840-1862)
  62. Thánh Lu-ca Vũ Bá Loan – Linh mục
  63. Thánh Luca Phạm Viết Thìn – Cai tổng
  64. Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Trùm họ
  65. Thánh Mát-thêu Ðậu – Linh mục
  66. Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẫm – Thương gia
  67. Thánh Mác-ti-nô Tạ Ðức Thịnh – Linh mục
  68. Thánh Mác-ti-nô Thọ – Trùm họ
  69. Thánh Mi-ca-e Hồ Ðình Hy – Quan Thái bộc
  70. Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ – Lý trưởng
  71. Thánh Ni-cô-la Bùi Ðức Thể – Binh sĩ
  72. Thánh Phan-xi-cô Ðỗ Văn Chiểu – Thầy giảng
  73. Thánh Phan-xi-cô Kính – Linh mục Pháp
  74. Thánh Phan-xi-cô Phan – Linh mục Pháp
  75. Phan-xi-cô Tế – Linh mục TBN
  76. Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung – Cai đội
  77. Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Cần – Thầy giảng
  78. Thánh Phan-xi-cô X. Hà Trọng Mậu – Thầy giảng
  79. Thánh Phao-lô Tống Viết Bường – Quan Thị vệ
  80. Thánh Phao-lô Dương – Trùm họ
  81. Thánh Phao-lô Hạnh – Giáo dân
  82. Thánh Phao-lô Phạm Khắc Khoan – Linh mục
  83. Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc – Linh mục
  84. Thánh Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ – Thầy giảng
  85. Thánh Phao-lô Nguyễn Ngân – Linh mục
  86. Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh – Linh mục
  87. Thánh Phê-rô Bắc – Linh mục Pháp
  88. Thánh Phê-rô Bình – Linh mục
  89. Thánh Phê-rô Dũng – Giáo dân
  90. Thánh Phê-rô Ða – Giáo dân
  91. Thánh Phê-rô Trương Văn Ðường – Thầy giảng
  92. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Hiếu – Thầy giảng
  93. Thánh Phê-rô Phạm Khanh – Linh mục
  94. Thánh Phê-rô Võ Ðăng Khoa – Linh mục
  95. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – Linh mục
  96. Thánh Phê-rô Ðoàn Công Quý – Linh mục
  97. Thánh Phê-rô Thuần – Giáo dân
  98. Thánh Phê-rô Trương Văn Thi – Linh mục
  99. Thánh Phê-rô Vũ Văn Truật – Thầy giảng
  100. Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần – Linh mục
  101. Thánh Phê-rô Lê Tùy – Linh mục
  102. Thánh Phê-rô Nguyễn Khắc Tự – Thầy giảng
  103. Thánh Phê-rô Nguyễn Văn Tự – Linh mục
  104. Thánh Phê-rô Ðoàn Văn Vân – Thầy giảng
  105. Thánh Phi-lip-phê Phan Văn Minh – Linh mục
  106. Thánh Simon Phan Ðắc Hòa – Y sĩ
  107. Thánh Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh – Linh mục
  108. Thánh Tô-ma Ðinh Viết Dụ – Linh mục
  109. Thánh Tô-ma Nguyễn Văn Ðệ – Giáo dân
  110. Thánh Tô-ma Khuông – Linh mục
  111. Thánh Tô-ma Trần Văn Thiện – Chủng sinh
  112. Thánh Tô-ma Toán – Thầy giảng
  113. Thánh Vi-cen-tê Dương – Giáo dân
  114. Thánh Vi-cen-tê Nguyễn Thế Ðiểm – Linh mục
  115. Thánh Vi-cen-tê Lê Quang Liêm – Linh mục
  116. Thánh Vi-cen-tê Tường – Giáo dân
  117. Thánh Vi-cen-tê Ðỗ Yến – Linh mục
Scroll to Top